Nghiên cứu ảnh hưởng của một số nhân tố đến chất lượn dòng chảy tại lưu vực sông bùi, huyện lương sơn, tỉnh hòa bình - Pdf 43

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
----------------------------

HOÀNG ĐÌNH LƯU

NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ NHÂN TỐ ĐẾN
CHẤT LƯỢNG DÒNG CHẢY TẠI LƯU VỰC SÔNG BÙI
HUYỆN LƯƠNG SƠN, TỈNH HÒA BÌNH

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP

HÀ NỘI - 2012


2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
---------------------------

HOÀNG ĐÌNH LƯU

NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ NHÂN TỐ ĐẾN
CHẤT LƯỢNG DÒNG CHẢY TẠI LƯU VỰC SÔNG BÙI

đóng góp quý báu từ các thầy cô giáo, các nhà khoa học và bạn bè đồng
nghiệp để bản luận văn được hoàn thiện hơn.
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là
trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào, các thông tin
trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc.
Tôi xin chân thành cám ơn!
Hà Nội, Ngày 28 tháng 12 năm 2012
Tác giả

Hoàng Đình Lưu


ii

MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cảm ơn ......................................................................................................... i
Mục lục .............................................................................................................. ii
Danh mục các từ viết tẳt.................................................................................... v
Danh mục các bảng .......................................................................................... vi
Danh mục các hình .......................................................................................... vii
ĐẶT VẤN ĐỀ .................................................................................................. 1
Chương 1. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU.................................... 2
1.1. Thế giới .................................................................................................. 2
1.1.1. Về dòng chảy trên bề mặt đất ........................................................ 2
1.1.2. Chất lượng nước dòng chảy mặt khởi đầu ................................... 7
1.2. Việt Nam ............................................................................................... 9
1.2.1. Những thành quả nghiên cứu về dòng chảy mặt ......................... 9
1.2.2. Chất lượng nước dòng chảy mặt khởi đầu ................................. 13

4.2. Đặc điểm chất lượng dòng chảy tại lưu vực sông Bùi .................... 41
4.2.1. Đặc điểm chế độ thủy văn trong lưu vực sông Bùi .................... 41
4.2.3. Đặc điểm biến động chiều cao mực nước H (cm) tại lưu vực
sông Bùi .................................................................................................. 46
4.2.4. Đặc điểm biến động nhiệt độ nước T (0C) tại lưu vực sông Bùi 49
4.3. Ảnh hưởng của lượng mưa và độ che phủ rừng đến chất lượng
dòng chảy trong lưu vực sông Bùi ........................................................... 53

4.3.1. Diễn biến lượng mưa tại các thời điểm nghiên cứu ở lưu vực
sông Bùi .................................................................................................. 53
4.3.2. Ảnh hưởng của lượng mưa đến chất lượng dòng chảy trong lưu
vực sông Bùi ........................................................................................... 55
4.3.3. Ảnh hưởng của độ che phủ rừng đến chất lượng dòng chảy
trong lưu vực sông Bùi .......................................................................... 57


iv

4.3.4. Ảnh hưởng tổng hợp của lượng mưa và độ che phủ rừng đến
chất lượng dòng chảy trong lưu vực sông Bùi ..................................... 61
4.3.5. Ảnh hưởng của yếu tố nhân tác đến chất lượng dòng chảy tại
lưu vực sông Bùi .................................................................................... 62
4.4. Một số giải pháp góp phần quản lý và phát triển bền vững chất
lượng dòng chảy tại lưu vực sông Bùi ..................................................... 65
KẾT LUẬN – TỒN TẠI – KIẾN NGHỊ ..................................................... 67
1. Kết luận .................................................................................................. 67
2. Tồn tại .................................................................................................... 69
3. Kiến nghị ................................................................................................ 69
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC


LN

Lâm nghiệp

5

LV

Lưu vực

6

PH

Phòng hộ

7

Q

Lưu lượng dòng chảy

8

R

Lượng mưa

9


Nhiệt độ nước
Thủy văn
Thủy văn rừng
Ủy ban nhân dân

Xói mòn bề mặt


vi

DANH MỤC CÁC BẢNG

TT

Tên bảng

Trang

2.1

Hệ thống bảng mã trạng thái rừng chuẩn chu kỳ IV

18

3.1

Các chỉ tiêu khí hậu cơ bản tại khu vực nghiên cứu

23

34

4.6

Đặc điểm chế độ thủy văn tại lưu vực sông Bùi

41

4.7

Biến động lưu lượng dòng chảy theo các tháng trong năm

45

4.8

Biến động chiều cao mực nước H (cm) theo các tháng trong năm

48

4.9

Biến động nhiệt độ nước T (0C) theo các tháng trong năm

52

4.10 Đặc điểm diễn biến lượng mưa (mm) tại các thời điểm nghiên cứu

53


TT

Tên hình

Trang

2.1

Minh họa phương pháp xâ dựng mô hình 3D của lưu vực

17

2.2

Mô hình tính toán NDVI

20

4.1

Mô hình 3D lưu vực sông Bùi

30

4.2

Biến động độ che phủ rừng trong lưu vực sông Bùi

34


4.8

Hiện trạng rừng lưu vực sông Bùi năm 2010

40

4.9

Đặc điểm chế độ thủy văn tại lưu vực sông Bùi

41

4.10

Biến thiên lượng mưa theo các tháng trong năm tại lưu vực
sông Bùi

42

4.11 Biến động lưu lượng dòng chảy trong năm 1995

42

4.12 Biến động lưu lượng dòng chảy trong năm 2010

43

4.13 Biến động lưu lượng dòng chảy theo các tháng trong năm

43

viii

4.21 Biến động nhiệt độ nước T (0C) trong năm 2005

49

4.22 Biến động nhiệt độ nước T (0C) trong năm 2010

50

4.23 Biến động nhiệt độ nước T (0C) theo các tháng trong năm

50

4.24 Đặc điểm diễn biến lượng mưa (mm) tại các thời điểm nghiên
cứu
4.25 Biến động tổng lượng mưa qua các năm

50

4.26 Liên hệ giữa lượng mưa với lưu lượng dòng chảy Q (m3/s)

52

4.27 Liên hệ giữa lượng mưa với chiều cao mực nước H (cm)

54

4.28 Kết quả tính NDVI trên ảnh landsat ETM năm 2007


51

60
61
63

64


1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Nước là một thành phần môi trường, một nhân tố sinh thái vô cùng
quan trọng đối với sự tồn tại của con người và thiên nhiên. Không có nước
đồng nghĩa với không có sự sống.
Mặc dù chiếm giữ vai trò hết sức to lớn và không thể thay thế trong đời
sống, nhưng hiện nay tài nguyên nước đang bị suy giảm nghiêm trọng cả về
số lượng và chất lượng. Có nhiều nguyên nhân gây nên hiện tượng này, trong
đó có xói mòn và dòng chảy mặt.
Dòng chảy mặt xuất hiện, đó chính là tiền đề của hiện tượng lũ lụt. Sự
xuất hiện của dòng chảy mặt thường kéo theo những chất hữu cơ, chất hòa
tan, bùn, cát,... và có nhiệt độ thay đổi không ổn định phụ thuộc vào nhiệt độ
bề mặt đất nơi chúng đi qua. Điều này đã dẫn đến việc mất ổn định của nguồn
nước và làm cho nguồn nước bị ô nhiễm. Làm sao để hạn chế được dòng chảy
mặt và kiểm soát ô nhiễm nước có nguồn không xác định này – đó là một câu
hỏi lớn đang đặt ra cho những nhà quản lý và những chuyên gia về môi
trường nước hiện nay.
Chúng ta đều biết dưới tác dụng của các khu rừng tới chất lượng dòng
chảy tốt hơn so với các loại hình sử dụng đất khác. Nhưng sự tốt hơn đó cụ
thể như thế nào? Ảnh hưởng cụ thể của từng nhân tố đến chất lượng dòng

lượng phát triển một cách mạnh mẽ.
Dòng chảy mặt đất là một bộ phận vô cùng quan trọng của tuần hoàn
nước trong hệ sinh thái rừng, phản ánh tốt nhất khả năng giữ nước của rừng.
Đã có nhiều lý luận về dòng chảy bề mặt đất như: “Cơ chế dòng chảy trên
mặt đất siêu thấm”; khái niệm “Diện tích sản sinh dòng chảy biến động”.
Nhìn chung, đất rừng tự nhiên có khả năng thấm nước cao và ít khi xuất hiện
dòng chảy bề mặt (Douglass 1977; Pritchett, 1979). Tuy nhiên, khi rừng bị
chặt hạ trở nên thưa thớt và độ dốc mặt đất lớn, có thể tạo ra nhiều lượng


3

nước chảy trên bề mặt (Ruxton B P, 1967; Imeson A C và Vis, 1982). Nhưng
cũng có quan điểm cho rằng chặt rừng lại làm giảm lượng dòng chảy mặt đất
(Mingteh Chang, 2005). Đó là đối với những khu rừng có nhiều hơi nước, tạo
nên mưa cục bộ trong rừng (mưa sương ngưng kết) hay khu vực có lượng
mưa nội tại lớn hơn so với lượng bốc thoát hơi nước của rừng.
Thủy văn học truyền thống đã phát triển lý luận về dòng chảy trên mặt
đất của Horton vào những năm 30 và 40 của thế kỷ XX để nghiên cứu cơ chế
hình thành dòng chảy trên mặt đất. Lý luận này chiếm địa vị thống trị trong
lĩnh vực thủy văn học công trình kéo dài suốt khoảng 30 năm (Foster G R,
1982). Hibbert A R, (1967) đã dựa vào những quan trắc thực nghiệm và chỉ ra
rằng trong hoàn cảnh rừng, cường độ mưa rất ít khi lớn hơn tốc độ thấm nước
tiềm tàng của đất, đã nêu ra khung lý luận về động thái hình thành dòng chảy
của mưa rào, sau đó đã triển khai nhiều nghiên cứu thực nghiệm nhằm tìm
hiểu cơ chế hình thành dòng chảy do mưa gây ra, chủ yếu trên những khu vực
ôn đới ẩm ướt của châu Âu và ở Mỹ (Bonell M, 1993). Vào những năm 1970,
lý luận “diện tích phát sinh dòng chảy biến động” đã được thừa nhận rộng
rãi, những nghiên cứu về thủy văn học trên đất dốc đã phát triển mạnh mẽ và
thay thế giả thuyết về “dòng chảy siêu thấm” - các học giả Trung Quốc gọi nó

lại ở trên các tán rừng, lượng nước chảy men thân cây, lượng mưa dưới tán
rừng, khả năng thấm và giữ nước của tán rừng. Bằng các thí nghiệm của
mình, ông chỉ ra rằng các khu rừng ở Châu Âu tán rừng có khả năng giữ được
25 – 40% tổng lượng giáng thủy. Ông khẳng định ngay ở nơi có độ dốc 25 –
300 rừng vẫn có khả năng biến nước chảy mặt đất thành nước ngầm.
Các phương pháp nghiên cứu thủy văn rừng không ngừng được các nhà
khoa học tìm tòi, phát triển, trong đó ưu việt nhất là phương pháp gây mưa
nhân tạo. Với phương pháp này, việc nghiên cứu ảnh hưởng của các nhân tố
cấu trúc rừng đến khả năng điều tiết bảo vệ đất của rừng trở nên dễ dàng hơn,
kết quả thu được chính xác hơn và thời gian nghiên cứu được giảm xuống.


5

Áp dụng phương pháp nghiên cứu tiến bộ này, nhóm tác giả Tao Liang,
Hao Wang, Hsiang–te Kung và Chao–sheng Zhang khi nghiên cứu ảnh hưởng
của 5 loại hình sử dụng đất (rừng tre, vườn trồng dâu tằm, rừng thông, mảnh
đất trồng rau, ruộng lúa) đến sự mất đi các chất dinh dưỡng tại phía tây lưu
vực Tiaoxi – Trung Quốc (2004) đã đưa ra kết luận với cường độ mưa
2mm/phút trong thì sau 10 phút dòng chảy mặt bắt đầu xuất hiện trên mảnh
đất trồng rau, đối với 4 loại hình sử dụng đất còn lại thời gian trung bình để
dòng chảy mặt xuất hiện là 2,5 – 5 phút.
Khi nghiên cứu về thủy văn rừng bạch đàn tự nhiên, Lima và Oloughlin
(Poore M.E.D, 1988) đã kết luận rằng tồn tại mối quan hệ tuyến tính giữa
lượng mưa với lượng nước chảy men thân cây, dòng chảy mặt, lượng mưa bị
tán rừng ngăn giữ… theo dạng y = a + bx (trong đó x là lượng mưa, y là dòng
chảy mặt).
Mối liên hệ giữa dòng chảy với việc chặt rừng được nghiên cứu bởi
nhiều tác giả. Theo Bosch và Hewlett (1986) (Phạm Văn Điển, 2006), thực sự
tồn tại mối liên hệ nghịch của tổng lượng dòng chảy với rừng bị chặt ở 94 ô

mặt và lượng đất xói mòn. Phương pháp này đã được áp dụng phổ biến ở nhiều
nước phát triển trên thế giới từ những năm 40 của thế kỷ trước. Ưu điểm của nó
là có độ tin cậy cao, nhưng có nhược điểm là tốn kém, phức tạp và nhiều khi
không thể thực hiện được do điều kiện thi công khó khăn. Ngoài ra còn có
phương pháp dùng máng kim loại để thu nước đặt ngay tại cạnh dưới của ô thí
nghiệm, đưa lại hiệu quả thu nước tối ưu nhưng lại không linh hoạt do chỉ thích
hợp với các ô mẫu đo dòng chảy có chiều rộng từ 0,5 – 2m (Gerlack, 1952).
Đến nay vẫn chưa có phương pháp nào đo lượng nước chảy bề mặt được coi là
chuẩn mực trên phạm vi toàn thế giới để sử dụng một cách thống nhất (Phạm
Văn Điển, 2006). Tùy thuộc vào điều kiện thực tế của từng nghiên cứu mà áp
dụng các phương pháp đo dòng chảy một cách linh hoạt và hợp lý.


7

Nhìn chung nghiên cứu về dòng chảy mặt nói riêng và thủy văn rừng nói
chung trên thế giới đã đạt đến những bước phát triển nhất định và có nhiều
đóng góp cho nghiên cứu thủy văn học hiện đại. Đó chính là nền tảng vững
chắc cho những nghiên cứu tiếp theo sau này.
1.1.2. Chất lượng nước dòng chảy mặt khởi đầu
Sự phú dưỡng là một trong những lo ngại lớn đối với môi trường nước.
Mỗi một lưu vực nước trở nên phú dưỡng, có thể xem chúng như là bị “chết”
và hệ sinh thái thủy vực dần dần bị suy thoái. Hiện nay, sự phú dưỡng không
còn là “xu thế” nữa mà đã trở thành “hiện trạng”. Hậu quả trực tiếp của sự
phú dưỡng là làm suy giảm hàm lượng oxy hòa tan trong nước, ảnh hưởng
đến đời sống thủy sinh. Sự phú dưỡng cũng sinh ra các loài tảo độc gây nguy
hiểm đến sức khỏe con người. Sự phú dưỡng xảy ra phụ thuộc vào nhiều yếu
tố, nhưng nguyên nhân chính là hàm lượng chất dinh dưỡng (chủ yếu là nitơ
và photpho) trong nước cao. Hàm lượng chất dinh dưỡng cao dẫn đến sự phát
triển mạnh của thực vật phù du và thậm chí “bùng nổ” – gọi là hiện tượng

tích trên 30 trận mưa tại 6 khu rừng thuộc bang Texas, Mỹ trong 2 năm 1980,
1981 và chỉ ra rằng tổng lượng chất lắng đọng và lượng dinh dưỡng bị mất đi
đối với rừng chưa bị bất kỳ tác động nào tương ứng là 10,7 kg/ha và 2,33
kg/ha, thấp hơn rất nhiều so với lưu vực đã bị tác động mạnh mẽ là 3.462
kg/ha và 71 kg/ ha.
Nghiên cứu về mối liên hệ giữa lưu lượng dòng chảy Q với các nồng độ
các chất lắng đọng P trong nó, Giáo sư John Stednick trường đại học
Colorado, Mỹ (2009) cho rằng có 4 dạng liên hệ: Một là khi Q tăng thì P tăng.
Hai là Q tăng P giảm hay nồng độ các chất giảm xuống, đó chính là tác dụng
làm loãng của dòng chảy, đây cũng là mối liên hệ khá phổ biến trong nhiều
chất khác nhau. Ba là Q tăng, nồng độ các chất lúc đầu giảm sau tăng dần.
Bốn là không có mối liên hệ giữa dòng chảy và nồng độ các chất, xảy ra đối
với những lưu vực đã bị xáo trộn, không còn giữ được đặc tính ban đầu.


9

Nồng độ các chất dưới các dạng thảm thực vật khác nhau là khác nhau.
Tao Liang, Hao Wang, Hsiang–te Kung và Chao–sheng Zhang (2004) chỉ ra
rằng nồng độ N và P trong dòng chảy lớn nhất xảy ra đối với vườn trồng cây
dâu tằm và nhỏ nhất là dưới rừng thông. Tổng lượng N và P mất đi trên các
diện tích nghiên cứu dao động từ 4,66 – 9,40 mg/m2 (với N) và 2,57 – 4,89
mg/m2 (với P).
1.2. Việt Nam
1.2.1. Những thành quả nghiên cứu về dòng chảy mặt
Những nghiên cứu về dòng chảy mặt tại Việt Nam còn khá mới mẻ và
thường gắn liền với nghiên cứu về xói mòn đất. Nó được bắt đầu vào những
năm 70 của thế kỷ XX nhưng thực sự phát triển vào những năm 90 và phần
lớn tập trung vào việc nghiên cứu ảnh hưởng của các nhân tố chủ yếu đến khả
năng điều tiết giữ nước của rừng.

tại nơi có rừng thấp hơn từ 2,5 đến 27 lần so với khu vực canh tác nông
nghiệp, rừng tự nhiên có tác dụng tốt hơn rừng trồng trong việc giảm dòng
chảy mặt; dòng chảy kiệt ở nơi có rừng cao hơn ở nơi không có rừng (Đỗ
Đình Sâm, Ngô Đình Quế và Vũ Tấn Phương (2002) (Phạm Văn Điển, 2006).
Mối liên hệ giữa lượng mưa và dòng chảy mặt được Võ Đại Hải (1996)
mô hình hóa thành dạng phương trình như sau:
Log(y) = a + bLog(x)
Trong đó y là dòng chảy mặt, x là lượng mưa.
Theo tác giả, đây là phương trình biểu diễn khá tốt mối quan hệ giữa
dòng chảy mặt với lượng mưa và cường độ mưa.
Cùng với việc mô hình hóa quan hệ giữa lượng mưa và dòng chảy mặt,
tác giả cũng khẳng định vai trò đặc biệt quan trọng của lớp phủ thảm tươi, cây
bụi trong việc làm giảm dòng chảy mặt và xói mòn đất. Bằng kết quả nghiên
cứu của mình, tác giả cho rằng khi chiều dài sườn dốc tăng lên 2 lần thì dòng


11

chảy mặt tăng lên 58,1%; nếu giảm độ tàn che từ 0,7-0,8 xuống 0,3-0,4 thì
dòng chảy mặt tăng 30,4% (đối với rừng tự nhiên). Tác giả cũng cho rằng các
biện pháp canh tác có ảnh hưởng lớn đến xói mòn và dòng chảy mặt và đưa ra
khuyến cáo nên hạn chế trồng sắn ở những nơi đồi núi trọc, dốc cao. Tuy
nhiên do việc nghiên cứu xói mòn mới là mục đích chính nên vấn đề về thủy
văn rừng nói chung và dòng chảy mặt đất nói riêng chưa được quan tâm
nghiên cứu một cách hệ thống.
Công trình nghiên cứu tương đối toàn diện về thủy văn rừng tại Việt
Nam được thực hiện bởi của Võ Đại Hải (1996), Nguyễn Ngọc Lung và Võ
Đại Hải (1997) (Phạm Văn Điển, 2006). Một trong những thành công của
công trình nghiên cứu là đã xây dựng được phương pháp đo lượng nước mưa
lọt qua tán rừng, đó là phải dùng ít nhất 9 ống đo mưa bố trí theo hệ thống

dòng chảy bề mặt chiếm 51,83% lượng mưa, cao nhất ở khu vực đất trống và
thấp nhất ở rừng keo tai tượng.
Trong các nghiên cứu của mình, cả 2 tác giả Phùng Văn Khoa (1997) và
Phạm Văn Điển (1998; 2006) đều chỉ ra rằng có thể mô hình hóa mối liên hệ
giữa lượng dòng chảy bề mặt với các chỉ tiêu tổng hợp dưới dạng phương trình
bậc 2 có dạng:
Y = a + bX + cX2
Trong đó: Y: lượng dòng chảy mặt (mm)
X: chỉ tiêu tổng hợp (độ dốc, độ xốp, độ che phủ và tàn che)
a, b, c: các tham số của phương trình
với hệ số tương quan rất cao r = 0.980 – 0.998
Vũ Thanh Te, Trần Quốc Thưởng, Phạm Anh Tuấn (2005) khi nghiên
cứu tác động của lớp phủ thực vật đến khả năng gây xói mòn đất và vận
chuyển bùn cát trên lưu vực sông chợ Lèn đã nhận thấy lớp phủ thực vật càng
dày thì khả năng làm chậm dòng chảy sườn càng tăng (từ 7 – 11 lần).


13

Nguyễn Thế Hưng (2008) khi nghiên cứu về vai trò bảo vệ nguồn nước
của 4 dạng thảm thực vật là thảm cây bụi cao, thảm cây bụi thấp, rừng trồng
keo và rừng trồng bạch đàn đã đưa ra kết luận về khả năng giữ nước của các
dạng thảm thực vật giảm dần từ thảm cây bụi cao đến rừng trồng keo, rừng
trồng bạch đàn và thấp nhất là thảm cây bụi thấp với tổng lượng nước giữ
được trong thảm thực vật tương ứng là 988,97 tấn/ha, 936,07 tấn/ha, 724,58
tấn/ha và 660,62 tấn/ha.
Trong các nghiên cứu về dòng chảy mặt, Võ Đại Hải (1996) đã sử dụng
phương pháp xây bể để đo lượng xói mòn và dòng chảy mặt. Với phương
pháp này việc thu thập số liệu về xói mòn và dòng chảy mặt thuận tiện và cho
kết quả chính xác nhưng đòi hỏi đầu tư tốn kém. Các tác giả Phùng Văn Khoa

vực đầu nguồn – không bị ảnh hưởng của các hoạt động của sân golf thì các
thông số như hàm lượng NO3- và PO43- đều cao hơn, thậm chí vượt quá tiêu
chuẩn cho phép.
Qua tổng quan vấn đề nghiên cứu cho thấy, những nhiên cứu về chất
lượng dòng chảy trong lưu vực là thực sự chưa nhiều và chưa có nhiều những
nghiên cứu định lượng do đó việc thực hiện đề tài “Nghiên cứu ảnh hưởng
của một số nhân tố đến chất lượng dòng chảy tại lưu vực sông Bùi – huyện
Lương Sơn – tỉnh Hòa Bình” là thực sự cần thiết và có ý nghĩa cả về mặt
khoa học và thực tế ứng dụng.


15

Chương 2
MỤC TIÊU - NỘI DUNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Mục tiêu nghiên cứu
2.1.1. Mục tiêu chung
Góp phần hoàn thiện cơ sở khoa học phục vụ mục tiêu quản lý và phát
triển bền vững chất lượng dòng chảy trong các lưu vực.
2.1.2. Mục tiêu cụ thể
- Xác định được đặc điểm của chất lượng dòng chảy (lưu lượng, mực
nước, nhiệt độ nước) tại lưu vực sông Bùi.
- Xác định được mức độ ảnh hưởng của một số nhân tố (lượng mưa, độ
che phủ của rừng) đến chất lượng dòng chảy tại lưu vực sông Bùi.
- Đề xuất một số giải pháp góp phần quản lý và phát triển bền vững
chất lượng dòng chảy tại lưu vực sông Bùi.
2.2. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là sự ảnh hưởng của một số nhân tố
(lượng mưa, độ che phủ của rừng, đặc điểm sử dụng đất) đến chất lượng của
dòng chảy trong lưu vực thông qua các chỉ tiêu (lưu lượng dòng chảy, độ cao


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status