i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi Phạm Tiến Dũng xin cam đoan: Công trình nghiên cứu “Ứng dụng công
nghệ viễn thám và GIS trong quản lý đất lâm nghiệp tại một số xã vùng đệm
Vườn Quốc gia Xuân Sơn, tỉnh Phú Thọ” này là đề tài của riêng tôi, các số liệu
thu thập, kết quả tính toán trong luận văn này là trung thực và chưa được công bố
trong bất kỳ cuộc bảo vệ học vị nào. Quá trình thực hiện luận văn và các thông tin
trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc.
Tân Sơn, ngày
tháng 4 năm 2016
Người thực hiện đề tài
Phạm Tiến Dũng
ii
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành chương trình đào tạo cao học chuyên ngành Quản lý tài nguyên
rừng tại trường Đại học Lâm nghiệp Việt Nam, được sự nhất trí của Ban giám hiệu
nhà trường, khoa Đào tạo sau đại học, tôi thực hiện đề tài:
“Ứng dụng công nghệ viễn thám và GIS trong quản lý đất lâm nghiệp tại
một số xã vùng đệm Vườn Quốc gia Xuân Sơn, tỉnh Phú Thọ”.
Để hoàn thành luận văn này, tôi luôn nhận được sự động viên và giúp đỡ nhiệt
tình của Nhà trường, cơ quan, gia đình, các thầy cô giáo và bạn bè đồng nghiệp.
Nhân dịp này, cho phép tôi bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Ban giám hiệu nhà
trường, Khoa Đào tạo sau đại học, Khoa Quản lý tài nguyên rừng, Ban quản lý
Vườn Quốc gia Xuân Sơn, UBND xã Xuân Sơn, UBND xã Kim Thượng, các hộ gia
Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU....................................... 3
1.1. Tổng quan về vùng đệm và vai trò của vùng đệm trong khu bảo tồn ....... 3
1.1.1. Tổng quan về vùng đệm ....................................................................... 3
1.1.2. Vai trò của vùng đệm trong khu bảo tồn ............................................... 4
1.2. Chính sách và quy chế quản lý vùng đệm ................................................ 5
1.2.1. Đất lâm nghiệp và cơ chế quản lý khu bảo tồn...................................... 5
1.2.2. Các mô hình quản lý vùng đệm ............................................................ 8
1.3. Ứng dụng công nghệ địa không gian trong quản lý đất lâm nghiệp.......... 9
1.4. Tổng quan khu vực nghiên cứu.............................................................. 12
Chương 2 MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU. 15
2.1. Mục tiêu nghiên cứu .............................................................................. 15
2.1.1. Mục tiêu tổng quát .............................................................................. 15
2.1.2. Mục tiêu cụ thể ................................................................................... 15
2.2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu .......................................................... 15
2.3. Nội dung nghiên cứu ............................................................................. 16
iv
2.3.1. Nghiên cứu đánh giá thực trạng quản lý đất lâm nghiệp tại vùng đệm
VQG Xuân Sơn, tỉnh Phú Thọ ...................................................................... 16
2.3.2. Nghiên cứu đánh giá sự thay đổi đất lâm nghiệp tại vùng đệm VQG
Xuân Sơn, Phú Thọ ...................................................................................... 16
2.3.3. Nghiên cứu đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý đất lâm nghiệp. 16
2.3.4. Nghiên cứu đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý đất lâm nghiệp
tại xã vùng đệm ............................................................................................ 17
2.4. Phương pháp nghiên cứu ....................................................................... 17
2.4.1. Phương pháp luận ............................................................................... 17
2.4.2. Phương pháp thu thập và xử lý số liệu, thông tin ................................ 18
Chương 3 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ KINH TẾ XÃ HỘI KHU VỰC
4.4.1. Những giải pháp về chính sách ........................................................... 63
4.4.2. Những giải pháp về sinh kế ................................................................ 67
KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ KIẾN NGHỊ ..................................................... 71
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
vi
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Từ viết tắt
Nguyên nghĩa
VQG
Vườn Quốc gia
BTTN
Bảo tồn thiên nhiên
DED
Tổ chức Hỗ trợ Phát triển Đức
GIS
Geographic Information System
Trang
20
35
4.2
Đánh giá tỷ trọng các sản phẩm
42
4.3
Thu nhập của các hộ gia đình vùng đệm (1000 đ)
43
4.4
Xu hướng phát triển của một số loài động vật chủ yếu
46
4.5
Diện tích đất lâm nghiệp xã Kim Thượng qua các năm nghiên cứu
(ha)
47
viii
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ
STT
Tên sơ đồ
Trang
2.1
Các bước xây dựng bản đồ hiện trạng và thay đổi đất lâm nghiệp.
24
4.1
Mô hình tổ chức quản lý bảo vệ rừng khu vực nghiên cứu.
34
4.2
Mô hình tổ chức quản lý đất lâm nghiệp tại xã Kim Thượng
39
4.3
Mô hình tổ chức quản lý đất lâm nghiệp tại xã Xuân Sơn
49
50
53
54
60
1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Lãnh thổ Việt nam trên đất liền được bao phủ bởi 3/4 diện tích là đồi và núi.
Trong những năm gần đây, diện tích rừng bị suy giảm từ 43% xuống còn 28.2%
(1943 – 1995), gần đây diện tích rừng tăng lên 37 % (2005) và tiếp tục tăng 10.6 %
(2005 – 2014), song tỷ lệ rừng nguyên sinh vẫn ở mức rất thấp. Nguyên nhân chính
của sự suy giảm diện tích rừng chủ yếu là áp lực gia tăng dân số, suy thoái môi
trường, xói mòn đất đai. Sự tăng dân số được xem là nguyên nhân chính dẫn tới suy
giảm diện tích rừng trong một khoản thời gian dài, thì các yếu tố về chính sách phát
triển kinh tế xã hội ở khu vực có rừng, khu vực rừng đặc dụng đóng một vai trò
không hề nhỏ.
Việc thiết lập hệ thống rừng đặc dụng được coi là chiến lược bảo tồn thiên nhiên
lâu dài của Việt Nam và là cơ hội tồn tại của các loài động, thực vật đang bị đe
doạ.Năm 1962, khu rừng cấm quốc gia đầu tiên Cúc Phương đã được thành lập. Hệ
thống rừng đặc dụng chính thức được thành lập theo Quyết định số 194/TTg ngày
9/8/1986 của Hội đồng bộ trưởng (nay là Thủ tướng Chính phủ) với 86 khu được chia
làm 3 loại: Vườn quốc gia (VQG), Khu bảo tồn thiên nhiên (BTTN), khu rừng văn hoá
lịch sử và môi trường với mục đích bảo tồn đa dạng sinh học và mang lại lợi ích cho
liệu viễn thám không chỉ mang tính không gian tìm hiểu những thay đổi của thảm
phủ của rừng về số lượng và sự phân bố mà còn cho phép xác định được cả bản chất
của những sự thay đổi trong các nghiên cứu theo thời gian. Kết hợp kết quả phân
tích ảnh viễn thám với các thông tin điều tra kinh tế xã hội sẽ giúp các nhà hoạch
định chính sách hiểu rõ hơn quá trình thay đổi sử dụng đất cũng như trong quản lý
đất lâm nghiệp. Chính vì vậy, đề tài: “Ứng dụng công nghệ viễn thám và GIS
trong quản lý đất lâm nghiệp tại một số xã vùng đệm Vườn Quốc gia Xuân Sơn,
tỉnh Phú Thọ” được thực hiện góp phần cung cấp cơ sở khoa học cho các hoạt
động quy hoạch, quản lý và bảo vệ hiệu quả diện tích đất lâm nghiệp khu vực
nghiên cứu.
3
Chương 1
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Tổng quan về vùng đệm và vai trò của vùng đệm trong khu bảo tồn
1.1.1. Tổng quan về vùng đệm
Khái niệm vùng đệm được thể chế hoá trong Quyết định 186/2006/QĐ-TTg
ngày 14/8/2006 của Chính phủ. Một lần nữa vùng đệm được xác định nằm ngoài
VQG, quyết định này đề cập một cách tương đối toàn diện về vị trí, chức năng,
nhiệm vụ, các hoạt động và sự phối kết hợp giữa các bên liên quan trong việc phát
triển kinh tế, xã hội vùng đệm.
Theo quyết định này thì “vùng đệm được hiểu là vùng rừng, vùng đất hoặc
vùng đất có mặt nước nằm liền kề với VQG và Khu bảo tồn thiên nhiên bao gồm
toàn bộ hoặc một phần các xã, phường, thị trấn nằm sát ranh giới với VQG và Khu
bảo tồn thiên nhiên. Vùng đệm được xác lập nhằm ngăn chặn, giảm nhẹ sự xâm hại
của con người tới VQG và Khu bảo tồn thiên nhiên.VQG và Khu bảo tồn thiên
nhiên phải xây dựng vùng đệm cho khu rừng. Ban quản lý khu rừng đặc dụng tổ
chức cho cộng đồng dân cư vùng đệm tham gia các hoạt động bảo vệ, bảo tồn, sử
mình đối với bảo tồn và phát triển.
Vùng đệm được xác lập nhằm ngăn chặn, giảm nhẹ sự xâm hại của con
người tới VQG và Khu bảo tồn thiên nhiên.
Đầu tư phát triển vùng đệm nhằm giảm nhẹ nguy cơ, thách thức và những
khó khăn trong việc bảo vệ đa dạng sinh học.Mọi cố gắng đầu tư xây dựng và quản
lý vùng đệm là để giải quyết mâu thuẫn giữa bảo tồn thiên nhiên và phát triển nông
thôn. Đây là một vấn đề phức tạp, đòi hỏi phải có hàng loạt các biện pháp tổng hợp
về mặt kinh tế, kỹ thuật, xã hội, môi trường, thông tin truyền thông và phải huy
động nội lực của nhiều ngành khác nhau.
Để phát huy vai trò của vùng đệm với bảo tồn và phát triển, trước hết cần
phải giải quyết những vấn đề sau:
- Phải có quy hoạch vùng lõi và vùng đệm rõ ràng, có mốc giới kiên cố.
- Xác định cơ chế chia sẻ lợi ích có hiệu quả. Người dân được hưởng lợi gì từ
khu BTTN hoặc VQG
- Xác định rõ mục tiêu phát triển vùng đệm và có dự án để thực hiện mục
tiêu đó.
5
- Phối hợp tốt các chương trình, dự án của các cấp, các ngành khác nhau trên
cùng một địa bàn.
- Xây dựng cơ chế phối hợp cùng tham gia giữa các bên liên quan.
Trong các vấn đề trên thì sự tham gia và hỗ trợ của người dân địa phương
Trong các vaand đề trên thì sự tham gia và hỗ trợ của người dân địa phương
là hết sức quan trọng. Các mục tiêu của dự án phải phù hợp với nguyện vọng của
người dân. Người dân phải thực sự làm chủ trong vùng đệm về tài nguyên, công
việc và quyền lợi. Chỉ khi họ trở thành người chủ thực sự thì họ sẽ có trách nhiệm
với chính nơi mà họ đang sinh sống.
1.2. Chính sách và quy chế quản lý vùng đệm
triển bền vững vùng đệm khu bảo tồn thiên nhiên và VQG” được ra đời năm 1999
[21]. Nghiên cứu đã đánh giá áp lực của vùng đệm lên khu bảo tồn và hệ thống
nông hộ tại vùng đệm Pù Mát. Tác giả kết luận rằng các nông hộ trong vùng đệm Pù
Mát có sự gắn bó chặt chẽ với rừng, nguồn thu nhập từ khai thác lâm sản và canh
tác nương rẫy chiếm vị trí quan trọng trong tổng thu nhập của mỗi nông hộ. Hiện
tại, các nông hộ đang có sự chuyển đổi về sinh kế, song mới chỉ rất ít ở các nông hộ
có sự hiểu biết và có vốn đầu tư.
Năm 1999, D.A. Gilmour và Nguyễn Văn Sản đã xuất bản cuốn sách “Quản lý
vùng đệm ở Việt Nam”.Đây là báo cáo về một nghiên cứu quản lý vùng đệm, với ba
nghiên cứu điểm tại VQG Ba Vì, Bạch Mã và Cát Tiên [5]. Nghiên cứu đã miêu tả thực
trạng vùng đệm, đặc biệt là mối quan hệ giữa các cộng đồng dân cư của vùng đệm và tài
nguyên rừng ở trong vùng đệm, ở các VQG, các kết luận và đề xuất mới chỉ ở mức vạch
ra phương hướng ở tầm vĩ mô.
Nguyễn Huy Dũng cùng cộng sự (1999), đã nghiên cứu các hình thức quản lý
rừng cộng đồng ở xã Phúc Sen, huyện Quảng Hoà tỉnh Cao Bằng [9].Tác giả đã đi
sâu vào nghiên cứu về quá trình hình thành, cơ cấu tổ chức và lợi ích của quản lý
mang lại cho cộng đồng người dân trong thôn bản. Nghiên cứu này đã chỉ ra: quản lý
rừng cộng đồng ở đây được hình thành tự phát bởi cộng đồng dân bản trước thực tế
và nhu cầu cuộc sống về lâm sản và sử dụng lâm sản. Đây là một mô hình, một hình
thức quản lý dựa trên các luật tục của cộng đồng đã cho hiệu quả tốt trong phát triển
kinh tế và sử dụng bền vững nguồn tài nguyên rừng.
7
Hiện nay ở một số địa phương ở Sơn La và Lai Châu, thuộc vùng hoạt động
của dự án Lâm nghiệp xã hội Sông Đà (Chương trình hợp tác kỹ thuật Việt Nam Cộng hoà Liên bang Đức) [7] đã xây dựng nên các mô hình quản lý rừng cộng đồng.
Dự án đã phối hợp với các ban ngành của tỉnh (Chi cục Kiểm lâm, chi cục Lâm
nghiệp và chính quyền địa phương cấp huyện, xã) trong việc tiến hành giao quyền sử
dụng rừng và đất rừng cho hộ gia đình, cá nhân, các đoàn thể và cộng đồng, hỗ trợ
trong khu vực.
1.2.2. Các mô hình quản lý vùng đệm
1.2.2.1. Mô hình quản lý vùng đệm ở Vườn Quốc gia Bạch Mã
Hoạt động trợ giúp phát triển kinh tế-xã hội vùng đệm phải hướng đến mục
tiêu là phát triển bển vững. Điều này có nghĩa là phát triển sao cho việc sử dụng các
nguồn tài nguyên thiên nhiên nhằm đáp ứng được nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không
ảnh hưởng đến khả năng thỏa mãn nhu cầu của các thế hệ tương lai. Và chính vì thế
trong quá trình triển khai các chương trình phát triển vùng đệm phải luôn nắm vững các
nguyên tắc của bảo tồn và phát triển như: tôn trọng và quan tâm đến cuộc sống cộng
đồng; cải thiện chất lượng cuộc sống của con người gắn với bảo vệ sức sống và tính đa
dạng sinh học, quản lý tốt nguồn tài nguyên không tái tạo được, thay đổi tập quán và
thói quen cá nhân, để cho cộng đồng làm chủ môi trường của họ.
Dựa trên nguyên tắc trên, Vườn đã triển khai một số các hoạt động phát triển
cộng đồng và thông qua đó để giáo dục bảo tồn như: trồng rừng phục hồi hệ sinh
thái bằng nhiều loài cây bản địa nhiều mục đích, chuyển giao kỹ thuật nuôi ong,
trồng nấm, gieo ươm cây có nguồn gốc tại chổ để phục vụ công tác trồng rừng và
khai thác tiềm năng sẳn có của địa phương phục vụ cuộc sống con người. Một số
mô hình vườn cây kinh tế, cải tạo vườn tạp, chương trình 327, chương trình 5 triệu
ha rừng,… đang được triển khai ở nhiều nơi trong vùng đệm.
Cũng nhờ sự trợ giúp về kỹ thuật và kinh phí của chương trình tài trợ các dự
án nhỏ của Quỹ Môi trường toàn cầu (GEF/SGP) và Tổ chức Hỗ trợ Phát triển Đức
(DED) thông qua sự điều phối với các tổ chức quần chúng trên địa bàn, một số mô
hình sản xuất tăng thu nhập cho cộng đồng được áp dụng cho các điểm nóng trong
vùng. Đó là các mô hình chuyển đổi cơ cấu cây trồng, tận dụng tối đa tiềm năng hạn
hẹp của đất đai để sản xuất nông nghiệp, mô hình sử dụng bếp tiết kiệm củi trong
cộng đồng.
9
10
- Từ năm 1978, ảnh vệ tinh được đưa vào Việt Nam thì ngành Lâm nghiệp là
một trong những cơ sở áp dụng đầu tiên trong chương trình quốc gia về nghiên cứu
không gian và đề án tài trợ của Thụy Điển. Hệ thống máy điều vẽ tổng hợp màu và
các tư liệu Landsat được phân tích giải đoán, xây dựng bản đồ rừng trong phạm vi
toàn quốc và cấp tỉnh.
- Từ năm 2000 đến nay Viện Điều tra Quy hoạch rừng, Viện Khoa học Lâm
nghiệp cũng đã triển khai một số đề tài ứng dụng viễn thám và GIS.
- Việc áp dụng viễn thám – GIS trong quản lý và dự báo cháy rừng cũng
được triển khai ở Cục kiểm lâm, Đại học Lâm nghiệp.
- Viễn thám - GIS hiện nay đang được áp dụng ở nhiều quy mô khác nhau, ở
mức độ lâm trường, các bản đồ lập địa đã được áp dụng phục vụ cho công tác quản
lý tài nguyên rừng đến cấp tiểu khu.
Điều tra và giám sát tài nguyên đất
Cho đến nay, ảnh vệ tinh đã được nhiều cơ quan ở nước ta sử dụng để thành
lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất. Những bản đồ này phủ trùm các vùng lãnh thổ
khác nhau, từ khu vực hẹp đến tỉnh, vùng và toàn quốc.
Bản đồ hiện trạng sử dụng đất toàn quốc năm 1990 tỷ lệ 1:1000 000 được
thành lập bằng nhiều nguồn tài liệu, trong đó có ảnh vệ tinh Landsat TM. Bản đồ
này do Tổng cục Quản lý Ruộng đất (nay thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường) cùng
một số các cơ quan khác thực hiện. Bên cạnh đó, năm 1993 Tổng cục Quản lý
Ruộng đất và Cục Đo đạc và Bản đồ Nhà nước (nay thuộc Bộ Tài nguyên và Môi
trường), Trung tâm Khoa học Tự nhiên và Công nghệ Quốc gia, Viện Điều tra Quy
hoạch rừng, Viện Thiết kế và Quy hoạch Nông nghiệp (Bộ Nông nghiệp & Phát
triển Nông thôn) đã thành lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất toàn quốc tỷ lệ 1:250
000 bằng ảnh Landsat TM.
Bản đồ hiện trạng sử dụng đất của các vùng như Tây Nguyên, Đồng bằng
sông Cửu Long, Đồng bằng sông Hồng,…được thành lập trong khuôn khổ các
chương trình điều tra tổng hợp, đều đã sử dụng ảnh vệ tinh như một nguồn tài liệu
Như vậy, cho đến nay nhiều cơ quan ở nước ta đã sử dụng ảnh vệ tinh để
thành lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất nhằm phục vụ các mục đích khác nhau. Kế
hoạch sử dụng ảnh vệ tinh để điều tra, thành lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất một
cách hệ thống theo quy định của tổng kiểm kê đất thuộc ngành địa chính cũng như
12
để giám sát và cập nhật biến động về sử dụng đất đai một cách liên tục theo các chu
kỳ ngắn hạn, đang được Trung tâm Viễn thám, Bộ Tài nguyên và Môi trường
nghiên cứu đưa vào thực hiện trong thời gian tới.
1.4. Tổng quan khu vực nghiên cứu
Khi mới thành lập Vườn Quốc gia Xuân Sơn gặp rất nhiều khó khăn về cơ sở
hạ tầng, sau hơn 10 năm xây dựng và phát triển, Vườn đã được đầu tư, xây dựng
các công trình phục vụ cho công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng, đặc biệt là
công trình đường tuần tra kết hợp giao thông, với hơn 20 km đường bê-tông đi đến
những thôn, bản xa nhất phục vụ công tác tuần tra bảo vệ rừng, đi lại của nhân dân
được thuận lợi, đồng thời triển khai các chương trình phát triển kinh tế nâng cao đời
sống người dân khu vực.
Xã Xuân Sơn nằm trong vùng lõi của Vườn Quốc gia, có 258 hộ (1.057 nhân
khẩu), gồm hai dân tộc Mường và Dao. Người dân chủ yếu sống bằng nghề trồng
trọt và chăn nuôi, nên cuộc sống còn nhiều khó khăn, với hơn 50% hộ nghèo. Trong
quá trình phát triển ban quản lý Vườn và chính quyền địa phương đã tranh thủ nhiều
nguồn lực xây dựng các mô hình, chương trình phát triển kinh tế, xã hội, qua đó
từng bước cải thiện đời sống người dân và bảo vệ rừng, phát triển tiềm năng du
lịch.Toàn xã có hơn 6.050 ha, thì được giao khoán bảo vệ rừng hơn 5.000 ha. Từ
khi được giao khoán bảo vệ rừng, mỗi hộ gia đình cũng có thu nhập 2 triệu
đồng/năm.
Từ năm 2011, Vườn quốc gia Xuân Sơn phối hợp Trung tâm thực nghiệm
sinh học nông nghiệp công nghệ cao (Viện Di truyền nông nghiệp) triển khai thực
nhanh, sản lượng cao, sau một năm tuổi nếu là bê cái lựa chọn nái nền có thể bán 810 triệu đồng, bò đực bán thực phẩm cũng đạt 6-7 triệu đồng... Cùng với chăn nuôi,
trồng rừng và trồng cây đặc sản như rau sắng, chè shan cũng là hướng làm giàu
đang được người dân chú trọng. Khác với trước đây bà con chủ yếu khai thác tự
nhiên, ngày nay rất nhiều hộ trong xã Xuân Sơn và vùng xung quanh đã nhận đất,
trồng rừng. Điển hình như năm 2014 Vườn Quốc gia đã triển khai trồng 1600 ha
rừng cho bốn xã Xuân Sơn, Kim Thượng, Tân Sơn, Xuân Đài, trong đó có 1000 ha
rừng kinh tế.
Nhờ phát triển, nhân rộng các mô hình sản xuất, nuôi, trồng cây con đặc sản
mà đời sống người dân Xuân Sơn nói riêng, các xã vùng đệm nói chung đang từng
14
bước cải thiện, người dân ít phụ thuộc khai thác tự nhiên, chặt phá rừng, nhất là làm
nương rẫy ít đi. Cùng với hạ tầng do Nhà nước đầu tư được đẩy mạnh từ đó góp
phần đáng kể quản lý, bảo vệ rừng, tạo ra sản phẩm phục vụ phát triển du lịch.
Nhiều năm nay Vườn Quốc gia không xảy ra cháy rừng, tình trạng chặt phá rất hạn
chế, du khách đến tham quan, du lịch tăng lên, đạt 6-7 ngàn người/năm.Đây là dấu
hiệu tốt để hướng tới xây dựng Xuân Sơn trở thành vùng du lịch sinh thái lớn trong
khu vực.
Kết quả tổng kết công tác ngành lâm nghiệp đã chỉ ra một trong những khó
khăn tồn tại trong giai đoạn hiện nay của ngành Lâm nghiệp là chưa qui hoạch được
lâm phận mang tính ổn định, phân chia 3 loại rừng chưa rõ ràng và qui chế quản lý
chưa phù hợp với từng loại (Phạm Văn Mạch, Triệu Văn Hùng, 2005). Bên cạnh đó
công tác ứng dụng viễn thám và GIS còn thiếu những nghiên cứu cơ bản và thiếu cơ
sở khoa học. Do vậy, công tác quản lý tài nguyên rừng nói chung và đất lâm nghiệp
nói riêng sử dụng các công cụ, phương pháp hiện đại như viễn thám, GIS với độ
chính xác cao là điều hết sức cần thiết cho giai đoạn hiện nay và tương lai. Góp
phần phục hồi và phát triển vốn rừng, đem lại ổn định và nâng cao mức sống cho
đồng bào các dân tộc vùng đệm thuộc VQG Xuân Sơn. Kết quả nghiên cứu của đề
lâm nghiệp tại một số vùng đệm thuộc Vườn Quốc Gia Xuân Sơn giai đoạn trước
năm 2003 (VQG Xuân Sơn chưa thành lập) và giai đoạn sau năm 2003 và cho đến
thời điểm nghiên cứu, xác định các yếu ảnh hưởng đến sự thay đổi hiện trạng đất
lâm nghiệp trong từng giai đoạn cụ thể.
- Phạm vi về không gian:Hiện nay có 06 xã vùng đệm thuộc VQG Xuân
Sơn đó là xã Xuân Sơn, Kim Thượng, Xuân Đài, Minh Đài, Tân Sơn và xã Đồng
Sơn, tất cả các xã này đều nằm trên địa bàn huyện Tân Sơn tỉnh Phú Thọ. Tuy
nhiên, trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, 02 xã vùng đệm được lựa chọn gồm xã
Kim Thượng và Xuân Sơn.
Trên vùng đệm thuộc 2 xã được chọn bao gồm 14 khu hành chính, xã Xuân
Sơn gồm 4 khu: khu Dù, khu Lấp, khu Cỏi, khu Lạng. Xã Kim Thượng bao gồm 10
khu: khu Chiềng 1, khu Chiềng 2, khu Chiềng 3, khu Xuân 1, khu Xuân 2, khu Tân
Hồi, khu Nhàng, khu Xoan, khu Tân Ong, khu Hạ Bằng.
16
2.3. Nội dung nghiên cứu
Để đáp ứng mục tiêu nghiên cứu đề ra, các nội dung chủ yếu được thực hiện:
2.3.1. Nghiên cứu đánh giá thực trạng quản lý đất lâm nghiệp tại vùng đệm VQG
Xuân Sơn, tỉnh Phú Thọ
- Hoạt động quản lý đất lâm nghiệp tại vùng đệm khu vực nghiên cứu.
- Diện tích đất lâm nghiệp, chất lượng và phân bố không gian khu vực
nghiên cứu.
- Các hình thức quản lý đất lâm nghiệp có sự tham gia của người dân địa
phương khu vực nghiên cứu.
- Hoạt động khai thác và sử dụng đất lâm nghiệp ở địa phương, cơ hội, nguy
cơ và thách thức đối với quản lý đất lâm nghiệp tại vùng đệm khu vực nghiên cứu.
2.3.2. Nghiên cứu đánh giá sự thay đổi đất lâm nghiệp tại vùng đệm VQG Xuân
Sơn, Phú Thọ
viễn thám về các đặc tính không gian, phổ, nhiệt và thời gian. Hai phương pháp phổ
biến phát hiện sự thay đổi trên dữ liệu ảnh vệ tinh đó là so sánh sự khác biệt trên ảnh và
sau phân loại.Trong nghiên cứu này, phương pháp so sánh sau phân loại được áp dụng
để phát hiện thay đổi hiện trạng sử dụng đất và độ che rừng. Dữ liệu ảnh Landsat được
sử dụng để phân tích thay đổi gồm các ảnh Landsat năm 2001, 2008 và 2015 đánh giá
sự thay đổi hiện trạng đất lâm nghiệp khu vực nghiên cứu.
Ảnh viễn thám sau khi được tham chiếu hệ toạ độ thực, các đối tượng được
lựa chọn cho phương pháp phân loại đối tượng là những đối tượng trên ảnh có dạng
hình đồng nhất. Đề tài sử dụng các quy tắc dựa trên các thuộc tính đối tượng gồm
dạng vùng, độ chặt, kích thước, tỷ lệ kênh phổ và mức độ trật tự sắp xếp để loại bỏ
một số đối tượng nhiễu không mong muốn hay phần đất liền hoặc đối tượng nước.
Rừng là một bộ phận của hệ thống tự nhiên, bởi sự tồn tại và phát triển của nó phụ
thuộc những quy luật tự nhiên, chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác nhau trong hệ
thống tự nhiên như địa hình, thổ nhưỡng, khí hậu, sinh vật v.v... Do quan hệ chặt chẽ
với các yếu tố tự nhiên nên theo quan điểm hệ thống có thể xem những giải pháp
quản lý rừng như là những giải pháp điều khiển hệ thống tự nhiên theo hướng thúc
đẩy sinh trưởng, phát triển và hình thành năng suất của hệ sinh thái rừng. Rừng cũng
là một bộ phận của hệ thống kinh tế vì sự tồn tại và phát triển của nó gắn liền với
các hoạt động kinh tế của con người như trồng rừng, khai thác lâm sản, làm nương,