Bộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
Bộ YTÉ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÁI BÌNH
BÙI XUÂN TIÉN
THỤC TRẠNG CHĂM SÓC VÀ TÌNH TRẠNG
DINH DƯỠNG CỦA BỆNH NHÂN ĐÁI THÁO
ĐƯỜNG TYPE 2 ĐIÈU TRỊ TẠI KHOA NỘI
TIẾT - THẨN KINH BỆNH VIỆN ĐA KHOA
TỈNH HƯNG YÊN NĂM 2016
LUẬN VĂN THẠC sĩ DINH DƯỠNG
Mã số: 60.72.03.03
Hưóìig dẫn khoa học:
1. PGS.TS. Nguyễn Xuân Bái
2. TS. Phạm Thị Dung
THÁI BÌNH-2017
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan răng sô liệu và kêt quá nghiên cứu trong Luận văn do tôi
thu thập là trung thục và chưa được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu
khoa học nào.
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ trong việc thực hiện Luận văn này đã
được cảm ơn và các thông tin trích dần trong Luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc.
Thải Bình, tháng 06 năm 2017
Chăm sóc dinh dưỡng
Đái tháo đường
Đái tháo đường type2
HemoglobinAlc
Lập kế hoạch
Lương thực thực phấm
Nhu cầu khuyến nghị
Nghiệm pháp dung nạp glucose
Số lượng
Tình trạng dinh dưỡng
Rối loạn chuyển hóa lipid
Rối loạn dung nạp glucose
World health organization/Tồ chức y tế thế giới
Waist Hip Ratio/Tỷ lệ vòng eo/vòng mông
MỤC LỤC
TÀI LIỆU THAM KHÁO
PHỤ LỰC
DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1. Đặc điểm nhân khẩu học của bệnh nhân đái tháo đường type 2... 38
Bảng 3.2. Tiền sử mắc và điều trị đái tháo đường cùa bệnh nhân theo giới tính. 39
Bảng 3.18.
Đặc điêm tình trạng dinh dưỡng cùa bệnh nhân đánh giá theo
Tỷ lệ đôi tượng đạt vê nhu câu các chât sinh năng lượng khâu
\
DANH MỤC BIEU ĐO
Biêu đô 3.1. Thái độ của
cán bộ y tê BMI theo giới.................................................................................54
trong chăm
Biểu đồ 3.2. sóc dinh dường cho người
r
Biểu đồ 3.3.
Biểu đồ 3.4.
Biểu đồ 3.5.
Biếu đồ 3.6.
/
Tỷ lệ đối tượng đạt hàm lượng các chất khoáng trong khẩu phần...64
7
8
ĐẶT VẤN ĐÈ
Đái tháo đường là tình trạng rối loạn chuyến hóa glucid mạn tính gây tăng
đường huyết do thiếu insulin tương đối hoặc tuyệt đối của tụy kèm theo rối loạn
chuyến hóa lipid và protein. Bệnh lý này đang ngày càng gia tăng nhanh chóng và
cho tới nay chưa có khả năng chừa khỏi.
1.Mô tả thực trạng hoạt động chăm sóc dinh dường cho bệnh nhân đái thảo
đường tvpe 2 điều trị nội trú tại Bệnh viện đa khoa tinh Hưng Yên.
Đánh giá tình trạng dinh dưỡng và đặc điếm khâu phần của bệnh nhân đái tháo đường type 2 điều
trị nội trú tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Hưng Yên.
Chương 1
TÓNG QUAN TÀI LIỆU
1.1.
Một số khái niệm chung
1.1.1. Định nghĩa đái tháo đường
Theo WHO thì đái tháo đường (ĐTĐ) là “Một hội chứng có đặc tính biểu hiện bàng tăng glucose máu do hậu
quả cùa việc thiếu/hoặc mất hoàn toàn insulin hoặc do có liên quan đến sự suy yếu trong bài tiết và hoạt động của
insulin” [54],
Ngày nay, người ta cho rằng ĐTĐ là một rối loạn của hệ thống nội tiết; bệnh có thuộc tính là tăng glucose
máu. Mức độ tăng glucose máu phụ thuộc vào sự mất toàn bộ hay một phần khả năng bài tiết hoặc khả năng hoạt
động của insulin hoặc cả hai [54],
Hiệp hội ĐTĐ Hoa Kỳ đã đưa ra định nghĩa về ĐTĐ: “Là một rối loạn mạn tính, có những thuộc tính sau [38]:
(1) Tăng glucose máu.
(2) Kết hợp với những bất thường về chuyển hoá carbohydrat, lipid và protein.
(3) Bệnh luôn gắn liền với xu hướng phát triển các bệnh lý về thận, đáy mắt, thần kinh và các bệnh tim mạch
khác”.
Tháng 1 năm 2003, các chuycn gia thuộc “Uỷ ban chân đoán và phân loại bệnh ĐTĐ Hoa Kỳ” lại đưa một
định nghĩa mới về ĐTĐ “là một nhóm các bệnh chuyển hoá có đặc điếm là tăng glucose máu, hậu quả của sự thiếu
hụt bài tiết insulin hoặc cả hai. Tăng glucose máu mạn tính thường kết hợp với sự huỷ hoại, sự rối loạn chức năng và
sự suy yếu chức năng của nhiều cơ quan đặc biệt là mắt, thận, thần kinh, tim và mạch máu”.
Liên đoàn Đái tháo đường quôc tê (IDF) năm 2010, định nghĩa như sau: “Đái tháo đường là nhóm những rối
ĐTĐ type 2
Tỷ lệ
10 - 20%
80-90%
Tuổi khởi phát
Dưới 35 tuổi
Trên 35 tuổi
Trọng lượng ban đầu
Không béo phì
Thường béo phì
Yếu tố di truyền
ít
Nhiều
Khởi bệnh
Rầm rộ
Cần liều cao
Các thuốc kích thích tiết insulin
Không đáp ứng
Đáp ứng
Glucagon máu
Tăng
Bình thường
Glucose đói không điều trị
>300 mg/dl
cả thế giới có 246 triệu người mắc ĐTĐ [56].
Trên toàn cầu, ước tính khoảng 422 triệu người trưởng thành đang sống với bệnh đái tháo đường trong năm
2014, so với 108 triệu người vào năm 1980. Tỷ lệ hiện mắc toàn cầu (theo chuẩn tuổi) của bệnh đái tháo đường đã
tăng gần gấp đôi kể từ năm 1980, tăng từ 4,7% lên 8,5% ở người lớn. Điều này phản ánh sự gia tăng các yếu tố nguy
cơ liên quan như bị thừa cân hoặc béo phì. Trong thập kỷ qua, tỷ lệ hiện mắc đái tháo đường đã tăng nhanh hơn ở
các quốc gia có thu nhập thấp và trung bình so với ở các nước có thu nhập cao [55]. ĐTĐ đã trở thành một gánh
nặng đối với sự phát triển kinh tế và xã hội. Năm 2010 chi phí y tế dành cho bệnh đái tháo đường tăng gấp đôi so
với năm 1990 [48],
Theo WHO/WPRO, tỷ lệ ĐTĐ2 thay đổi giữa các vùng khác nhau: tỷ lệ mắc ĐTĐ2 của thố dân úc cao gấp 3
- 4 lần người úc da trắng có nguồn gốc châu Âu hay trong một vài vùng thành thị ở Papua New Guinea tý mắc
ĐTĐ2 cao gấp 10 - 15 lần so với vùng nông thôn. Tỷ lệ ĐTĐ2 cao nhất được phát hiện ở những người sống tại quần
đảo Thái Bình Dương và thồ dân úc, các nhóm dân sống trong khu vực này có nguy cơ mắc bệnh ĐTĐ2 cao hơn
người da trắng gốc châu Âu [47]. Nguy cơ chủ yếu gây nên ĐTĐ2 là do thay đổi lối sống - mà chủ yếu là do Âu
hoá. Ờ Nauru, ĐTĐ2 từ chồ chưa bao giờ xuất hiện mà chỉ trong 50 năm với lối sống Âu hoá thì tỷ lệ người mắc
bệnh lên tới 30%. Ớ Hoa Kỳ, sự đa dạng hoá về sắc tộc cũng là một yếu tố làm gia tăng nhanh tỷ lệ ĐTĐ2. Bệnh
béo phì đang phổ biến cũng là nguyên nhân đóng góp cho sự gia tăng của bệnh. Gần đây, các tác giả khắng định:
Đặc điểm lớn nhất trong sinh lý bệnh ĐTĐ2 là sự tương tác giữa yếu tố gen và yếu tố môi trường trong cơ chế bệnh
sinh [51 ],[56].
Việc kiếm soát đường máu, lipid máu và huyết áp của người bệnh ĐTĐ làm giảm nguy cơ biến chứng của
bệnh ĐTĐ. Việc thiếu hụt kiến thức về bệnh của người bệnh ĐTĐ là một trong các nguyên nhân làm giảm tình trạng
kiểm soát các yếu tố nguy cơ của bệnh ĐTĐ. Nhiều nghiên cứu cho thấy khoảng 20 - 23% người bệnh ĐTĐ biết
lượng HbAlC nên được kiểm soát dưới 7% và tỷ lệ tương tự có thể giải thích được mối liên hệ giữa HbAlC với
lượng đường máu. Tăng cường kiến thức cho người bệnh ĐTĐ có thể đạt được mục tiêu kiểm soát bệnh ĐTĐ.
Padmalatha B và cộng sự (2007) nghiên cứu trên 155 người bệnh ĐTĐ tại Mỹ về kiến thức về bệnh ĐTĐ với mối
liên hệ với kiểm soát đường máu của người bệnh, nghiên cứu tình trạng người bệnh: các yếu tố gia đình, xã hội,
BMI, thời gian mắc bệnh, số lần khám bệnh... Nghiên cứu cho thấy 40% người bệnh thiếu hụt về kiến thức bệnh,
việc cung cấp kiến thức cho người bệnh có thể đạt được mục tiêu kiểm soát lượng HbAlC dưới 7% trong 6 tháng
[50].
tỷ lệ cao hơn 19,3% [25]. Những công trình điều tra dịch tề trên cho tỷ lệ mắc tiền ĐTĐ, ĐTĐ không giống nhau do
đối tượng nghiên cứu khác nhau, thời điểm khác nhau và tiêu chuẩn chẩn đoán thay đổi.
Năm 2013, Đinh Quốc Khánh điều tra thực trạng mắc ĐTĐ type 2 cúa công ty cổ phần may Tiên Hưng, Hưng
Yên cho thấy tỷ lệ ĐTD là 6,0% bị rối loạn đường huyết và 1,3% bị đái tháo đường thực sự [12].
Đỗ Thị Ngọc Diệp, Phan Nguyễn Thanh Bình, Trần Quốc Cường và
cs
điều tra 1456 đối tượng từ 30 - 64
tuổi sống tại TP Hồ Chí Minh năm 2012 thì tỷ lệ người dân bị mắc rối loạn dung nạp đường là 10,8% và bị ĐTĐ là
7,0% [5], Năm 2012 điều tra tại 15 xã, phường tại Thái Bình cho thấy, tỷ lệ ĐTĐ type 2 trong độ tuổi 30 - 69 tại
Thái bình là 4,3%, khu vực thành phố là 6,5%, khu vực làng nghề 5,2%, khu vực thị trấn 3,5% và khu vực thuần
nông 2,4%. Tỷ lệ ĐTĐ type 2 tăng dần theo tuổi, cao nhất ở nhóm trên 60 tuổi 7,5%. Các yếu tố nguy cơ: Chỉ số
BMI > 23, Tăng HA, ít vận động thể lực và ăn nhiều đồ ngọt. Các yểu tố nguy cơ làm tăng tỷ lệ ĐTĐ type 2 là: Gia
đình có người bị ĐTĐ, bà mẹ đẻ con trên 4000gr, BMI > 23 và tăng HA [28],
Một nghiên cứu mới đây được tiến hành năm 2010 ở những đối tượng 30 - 65 tuổi cho thấy: Tỷ lệ mắc bệnh
tiền ĐTĐ2 (glucose máu mao mạch > 5,6 và < 6,9 mmol/10) là 17,4% và ĐTĐ (glucose máu mao mạch > 7mmol/l)
là 9,7%; Tình trạng dinh dưỡng, thói quen ăn uống, luyện tập, kiến thức và thực hành phòng bệnh ĐTĐ2 và tiền
ĐTĐ2 còn nhiều bất cập: Tỷ lệ người có BMI 23 - 24,9 là 15,3%, BMI 25 - 30 là 14,2% và BMI > 30 là 3,6%; Tỷ lệ
nam có vòng eo > 90cm là 7,2% và nữ có vòng eo > 80cm 6,9%. Có 35,0% đôi tượng thích ăn chất béo, 46,9% thích
ăn rau, 12,6% thích uống rượu bia; 11,2% thích ăn đồ ngọt và 25,6% có thói quen hút thuốc lá. Tỷ lệ đối tượng có
thói quen đi bộ ở phường Ba Đình là 41,3%, ở Ngọc Trạo 47,8% và Phú Sơn 52,1%. Trong dự phòng ĐTĐ2, tỷ lệ
hiếu biết đúng về dinh dưỡng thấp, 24,1% và về luyện tập 36,5%. Tỷ lệ thực hành đúng về dinh dưỡng mới đạt
21,3% và luyện tập 22,8%. Trong dự phòng tiền ĐTĐ2, tỷ lệ hiểu biết và thực hành đúng về dinh dưỡng rất thấp
chiếm 15,4% và về luyện tập là 35,7%. Nghiên cứu cũng đã tìm ra một số yếu tố nguy cơ của ĐTĐ như: Thói quen
ăn uống không hợp lý (thường xuyên ăn ít rau, ăn nhiều mỡ có nguy cơ măc tiền ĐTĐ2 cao gấp 3,7 lần và 2,8 lần so
với ăn rau thường xuyên và ít ăn mờ); ít vận động thổ dục (Nhóm không thường xuyên đi bộ có nguy cơ mắc ĐTĐ2
muốn ăn, 7,0% người bệnh trả lời đúng khi được hỏi người bệnh ĐTĐ nên ăn bao nhiêu bừa một ngày và chi có
27,0% người bệnh biết được loại thực phấm nào làm tăng đường huyết sau ăn. Rất ít người bệnh (5,0%) trả lời đúng
việc uống rượu bia đối với người bệnh ĐTĐ. Hầu hết người bệnh (97,0%) biết không nên ngồi xem tivi nhiều giờ
liên tục trong ngày, 97,0% người bệnh biết được nên tập luyện hàng ngày, 74,0% người bệnh biết việc tập luyện
hàng ngày giúp duy trì cân nặng hợp lý. Tuy nhiên, chi có 12,0% người bệnh biết nên mang theo bánh ngọt khi đi
tập thể dục và 44% người bệnh biết nôn tập luyện ít nhất 30 phút hàng ngày [29].
1.2.2. Điều trị dải tháo dường
1.2.2.1 Mục tiêu kiểm soát glucose máu ở bệnh nhân ĐTĐ type 2
Trong khuyến cáo của Hiệp hội Đái tháo đường Mỹ 2013, HbAlc là mục tiêu chính trong kiếm soát glucose
máu. Việc xác định mục tiêu điều trị phải được cá nhân hóa dựa trên một số yếu tố sau: thời gian mắc ĐTĐ, tuổi/tuổi
thọ, trình độ văn hóa, sự hợp tác giữa bệnh nhân và thầy thuốc, điều kiện kinh tế, khả năng tự theo dõi glucose máu
tại nhà; các bệnh lý kèm theo, biến chứng tim mạch hoặc biến chứng vi mạch, hạ glucose máu không có dấu hiệu
báo trước [38],
Mục tiêu HbAlc có thể > 7,0% ở bệnh nhân có tiền sử hạ glucose máu nặng, tuổi thọ ngắn, có biến chứng
mạch máu nhỏ và mạch máu lớn mức độ nặng, hoặc có bệnh nặng kèm theo, hoặc những bệnh nhân mắc ĐTĐ lâu
và không thể đưa HbAlc < 7,0% cho dù đã điều trị thuốc phối hợp, kể cả dùng insulin.
Vai trò của glucose máu khi đói và glucose máu sau ăn đối với HbAlc không như nhau ở bệnh nhân ĐTĐ
type 2: glucose máu sau ăn có vai trò chủ yếu với HbAlc < 8,4%, và khi HbAlc > 8,4% thì glucose máu đói đóng vai
trò chính [2],
1.2.2.2. Nguyên tắc điều trị
- Phải dựa vào đường máu đố chọn phương thức điều trị.
- Điều trị là kết hợp chế độ ăn, chế độ luyện tập và thuốc.
- Tình trạng bệnh nhẹ: thực hiện chế độ ăn và luyện tập 3 - 6 tháng, nếu người bệnh không có kết quả tốt sẽ
điều trị thuốc [2].
1.3. Tình trạng dinh dưõ'ng, đặc điểm khẩu phần và vai trò của dinh dưỡng trong điều trị đái tháo
đường.
1.3.1. Tinh trạng dinh dưỡng của bệnh nhân đái tháo đường.
1.3.1. ỉ. Khái niệm tình trạng dinh dường.
đến 27,6 lần ở nhóm có BMI từ 29 - 30,9 [40],
Các nghiên cứu tại Việt Nam cũng đã cho thấy mối liên quan giữa tiền ĐTĐ và thừa cân, béo phì. Nghiên cứu
tại Hậu Giang cho thấy tỷ lệ hiện mắc đái tháo đường ở nhóm đối tượng có chỉ số BMI cao tăng gấp 3 lần nhóm có
chỉ sô BMI thâp (OR = 3, có ý nghĩa thông kê) và nhóm có tỷ trọng mỡ cơ thê cao sẽ có tỷ lệ mắc đái tháo đường
cao gấp 2,6 lần nhóm có tỷ trọng mỡ cơ thể bình thường (OR = 2,6, có ý nghĩa thống kê) [16].
Người dân ở các nước Châu Á có tỷ lệ thừa cân, bco phì thấp hơn ớ Mỹ, nhưng tỷ lệ đái tháo đường tương
đương hoặc cao hơn. Dân số Châu Á bắt đầu gia tăng nguy cơ đái tháo đường ở mức BMI thấp hơn dân số Châu Âu.
Ngay cả khi tăng cân không đáng kổ lúc trưởng thành cũng gia tăng nguy cơ đái tháo đường type 2 ở người Châu Á
[41],[57]. Qua đó ta nhận thấy BMI đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển bệnh ĐTĐ. Đặc biệt đối với người
châu Á chỉ số BMI chỉ ở mức cao nhẹ là nguy cơ mắc bệnh ĐTĐ.
Một nghiên cứu can thiệp được tiến hành năm 2010 cho thấy ở những người đái tháo đường thì tỷ lệ tiền bco
phì: 15,3%, bco phì độ I: 14,2%, bco phì độ II: 3,6% [35], Nghiên cứu của Vũ Văn Nguyên cho thấy ở nhóm những
người mắc đái tháo đường thì tỷ lệ béo phì chiếm 29,0%; béo bụng chiếm 73,9% [21],
1.3.2. Đặc điểm khẩu phần của bệnh nhân đái tháo đường.
Dinh dưỡng hợp lý là biện pháp phòng bệnh quan trọng cùng với tăng cường tập luyện hàng ngày. Các nghiên
cứu đều cho thấy hiệu quả cao của chế độ dinh dưỡng hợp lý trong phòng chống bệnh ĐTĐ, tiền ĐTĐ. Mục tiêu
giảm cân nặng, kiểm soát glucosc máu, kiểm soát RLCHL chỉ có thố đạt được thông qua việc thực hiện chế độ dinh
dường hợp lý và tăng cường vận động. Chính vì vậy, trong các khuyến cáo phòng bệnh cũng như điều trị bệnh nhân
mắc bệnh ĐTĐ thì dinh dưỡng và tập luyện luôn là nền tảng của quá trình điều trị.
Theo nghiên cứu của Phan Hướng Dương tiến hành điều tra tần suất tiêu thụ thực phẩm ở những bệnh nhân đái
tháo đường thì tần suất tiêu thụ các thực phấm có nguy cơ làm tăng glucose máu, tăng cân, RLCHL máu cần hạn chế
(đường, bánh kẹo ngọt, thịt lợn và các chế phẩm từ thịt lợn, thịt gia cầm, trứng các loại, mờ động vật) đã giảm đi sau
can thiệp có ý nghĩa thống kê (p < 0,05). Ngược lại, tần suất tiêu thụ những thực phấm có lợi cho sức khỏe, hồ trợ
giảm cân, kiểm soát RLCHL sau can thiệp tăng lên như: cá, dầu thực vật... tăng lên. Tuy nhiên, sự khác biệt không
có ý nghĩa thống kê với p > 0,05 [6],
Nghiên cứu can thiệp của Lê Phong cho kết quả: Năng lượng khẩu phần ăn của đối tượng đã giảm từ 1752,1 ±
594,4 xuống 1569,6 ± 50,9 Kcal; tăng protein tổng số và protein có nguồn gốc động vật, giám cả lipid tổng số và
lipid có nguồn gốc thực vật, giảm glucid sau khi can thiệp [24],
thường. Nhiều nghiên cứu cho thấy nếu cân nặng trung bình giảm 10 - 15% trọng lượng cơ thể thì sẽ làm giảm các
nguy có hại cho sức khoẻ của 90% người béo phì, và nếu giảm 5 - 10 kg có thể đủ cải thiện nồng độ glucose máu.
Nhưng đôi khi việc thay đổi glucose máu không giống nhau vì ĐTĐ2 vừa có kháng insulin và vừa có suy giảm bài
tiết insulin.
Một vấn đồ cần được lưu tâm nữa là việc chia nhỏ các bừa ăn trong ngày, thường chia 5-6 bừa nhở thay vì ăn 3
bừa như người bình thường. Các bữa phụ thường ăn vào những giờ làm việc cho nên cần nghiên cứu loại thức ăn
tiện lợi, đáp ứng nhu cầu năng lượng và điều kiện làm việc của công chức là một ưu tiên hàng đầu [9].
I. 3.5. Vai trò luyện tập đối vói người bệnh đái tháo đường
Luyện tập mang lại rất nhiều lợi ích cho bệnh nhân ĐTĐ2, mặc dù ncn áp dụng luyện tập một cách rộng rãi,
nhưng cũng cần thực hiện các nguyên tắc thích họp để tránh làm cho biến chứng bệnh nặng thêm. Nhiều nghicn cứu
đã cho thấy sự cải thiện rõ rệt các chi số lâm sàng trong bệnh ĐTĐ [9].
* Kiểm soát glucosemáu
Người ta thấy nồng độ glucose huyết tương ở bệnh nhân ĐTĐ2 giảm ngay cả sau một buối luyện tập đơn
thuần. Hầu hết các nghiên cứu đều cho rằng luyện tập có tác động tích cực đáng kể đối với người bị rối loạn dung
nạp glucose hoặc người bệnh ĐTĐ có nồng độ glucose máu lúc đói < 200 mg/dl (
[17]. Nghiên cứu của Lê Phong và cộng sự tại Thanh Hóa về hiệu quả thay đổi hành vi dinh dưỡng luyện tập cho các
đối tượng tiền ĐTĐ cho thấy trước và sau can thiệp 4 tháng thì tỷ lệ nhóm can thiệp đã tăng lên rõ rệt từ 48,1% lên
84,6% [23].
Bệnh nhân nàm viện có thể mắc các stress tâm lý do đó phải tư vấn cho người bệnh thoải mái trong quá trình
nằm viện không nên căng thẳng, sổng hòa đồng với bệnh nhân, các khúc mắc trong quá trình nằm viện có thề hỏi
các bác sĩ điều trị. Vì stress làm tăng hệ thống hormon đối kháng dẫn đến kích thích phân hủy và tổng hợp glycogen,
ức chế hấp thu glucose làm tăng glucose máu. Rượu có thể làm tăng hoặc hạ đường huyết điều này phụ thuộc vào số
lượng và có ăn kèm thức ăn không. Bia rượu sinh ra nhiều năng lượng làm cho dường huyết tăng khó kiểm soát.
Bệnh nhân ĐTĐ chỉ nên thinh thoảng uống, uống ở mức độ vừa phải và có thức ăn đi kèm.
Hút thuốc lá góp phần làm tốn thương mạch máu, tăng xơ vừa động mạch, giảm khả năng mang oxy cho mô.
Đường huyết cao kết hợp với hút thuốc lá làm tốn thương mạch máu nuôi tim, não, thận, mắt và thần kinh ngoại
biên làm tăng tốc độ biến chứng các cơ quan này. Do đó việc tư vấn cho người bệnh bỏ thuốc lá và hạn chế rượu bia
sẽ giúp cho người bệnh chung sống lâu dài với bệnh ĐTĐ hạn chế được các biến chứng do bệnh gây ra.
1.3.7 Chê độ ăn cho bệnh nhân đái tháo đường
1.3.7. ỉ Mục đích của chế độ ăn
•C Duy trì trình trạng dinh dưỡng thích hợp để đảm bảo sức khỏe: sức khởe tốt, sự phát triển tốt và duy trì tổ
chức cơ của cơ thể.
s Duy trì cân bàng chuyển hóa, tránh các biến chứng tăng đường máu và đường niệu.
s Ngăn ngừa các biến chứng.
■S Trong ĐTĐ không có một công thức tính chế độ ăn nói chung cho tất cả các bệnh nhân, vì còn phụ thuộc
vào rất nhiều yếu tố như: người béo hay gầy, lao động thố lực hoặc không lao động, có biến chứng hay không và còn
phụ thuộc vào kinh tế cùa từng bệnh nhân. Ở nhiều bệnh nhân ĐTĐ type 2 chỉ cần chế độ ăn thích hợp kết hợp với
tăng cường hoạt động cũng đủ để kiểm soát đường huyết, không cần phải dùng thuốc hạ đường huyết trong giai
đoạn đầu cùa điều trị [31].
1.3.7.2 Nguyên tắc
> Đủ chất protid - lipid - glucid - vitamin - muối khoáng - nước với khối lượng hợp lý.
> Không làm tăng đường máu nhiều sau ăn.
> Không làm hạ đường máu lúc xa bữa ăn.