BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP & PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
------------------------
Vũ Thị Hồng Thắm
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA ĐỘ ẨM MÔI TRƯỜNG VÀ SƠ ĐỒ XẺ ĐẾN
MỘT SỐ CHỈ TIÊU CHẤT LƯỢNG THANH CƠ SỞ TỪ GỖ BẠCH ĐÀN TRẮNG
15 TUỔI (EUCALYPTUS CAMALDULENSIS) TRONG CÔNG NGHỆ SẢN XUẤT
VÁN GHÉP THANH
Chuyên ngành: Kỹ thuật máy, thiết bị và công nghệ gỗ giấy
Mã số: 60 . 52 . 24
LUẬN VĂN THẠC SỸ KỸ THUẬT
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. TRẦN VĂN CHỨ
Hà Nội – 2010
1
MỞ ĐẦU
Hiện nay, nhu cầu về gỗ nói chung và gỗ nguyên liệu cho công nghiệp
chế biến gỗ ở nước ta ngày càng tăng. Năm 2003, cả nước tiêu dùng hết 8,8
triệu mét khối gỗ các loại đến 2010 vào khoảng 14 triệu mét khối, 2015
1980, rừng trồng bạch đàn đã trở thành đối tượng sản xuất của lâm nghiệp
Việt Nam. Diện tích trồng ngày càng mở rộng, nhanh hơn diện tích trồng các
loài khác như Manglietia glauca, Pinus spp. Styrax tonkinensis, Tectona
grandis,… Tuy nhiên, trồng bạch đàn với mục đích là để phủ xanh đất trống,
đồi núi trọc ở vùng trung du và dọc theo bờ biển. Ngoài ra, diện tích trồng
bạch đàn phân tán cũng rất lớn .
*Nhận xét chung:
a) Bạch đàn trắng Eucalyptus camaldulensis là một trong một số loài bạch đàn
được đưa vào Việt Nam để trồng rừng. Trong những năm 60 của thế kỷ 20,
bạch đàn trắng đã được chọn để trồng rừng với mục đích phủ xanh đất trống
đồi núi trọc, sản xuất củi và sau này làm nguyên liệu cho giấy sợi và ván nhân
tạo. Bạch đàn trắng là loài mọc nhanh, thích hợp với nhiều địa hình và khí hậu
ở Việt Nam, là một trong 10 loài cây gỗ được xếp vào diện được gây trồng
rộng rãi và là một trong 3 loài quan trọng nhất thuộc 10 loài quan trọng về
mặt tăng trưởng gỗ hàng năm. Bạch đàn trắng đã được xếp vào danh sách một
số các loài cây trồng rừng chính của Việt Nam, không chỉ đối với rừng trồng
tập trung mà cả với trồng cây phân tán, trồng cây trong các hộ gia đình. Với
mục tiêu tăng khả năng cung cấp gỗ nguyên liệu cho sản xuất đồ mộc xuất
khẩu của rừng trồng ở nước ta, bạch đàn trắng sẽ là loài cây gỗ đáp ứng được
mục tiêu này.
b)Nghiên cứu về bạch đàn trắng ở nước ta chủ yếu tập trung vào lĩnh vực
tuyển chọn giống. Một số nghiên cứu về biện pháp lâm sinh. Nghiên cứu về
3
sử dụng gỗ bạch đàn trắng còn ở mức độ rất hạn chế. Nhìn chung, qua nghiên
cứu và thực tế sản xuất, gỗ bạch đàn trắng ở nước ta đã được sử dụng vào
nhiều mục đích: gỗ củi, gỗ nguyên liệu sản xuất giấy, ván nhân tạo. Gỗ bạch
đàn trắng kích thước nhỏ được nghiên cứu sử dụng làm ván ghép thanh.
E.
rostrata Schlecht.; Eucalyptus camaldulensis var. brevirostris.
- Tên thường gọi (tại Ôxtrâylia): River Red Gum
Mô tả cây Bạch đàn trắng:
- Cây gỗ thường xanh, thân lớn, thường cao 20-30 m, có khi đạt đến 45 50 m, đường kính 1-2 m, đôi khi đến 4 m, tán lá thường rộng và mỏng. Vỏ già
có màu xám nâu, tróc thành mảng. Cành non vuông. Lá đơn, mọc so le, hình
trái xoan hay trứng, đầu lá hơi nhọn, tương đối đối xứng, màu xanh, xanh xám
hoặc xanh lơ, kích thước đến 7 x 1,5 cm. Lá già hình mũi giáo mảnh, cong
lưỡi liềm, thường dầy, phiến rộng 0,7-2 cm, dài 8-30 cm, rộng khoảng 3 cm,
màu xanh hoặc xanh xám hoặc màu hơi mốc, gân bên chéo 40°-50°. Cuống lá
có cạnh, dài 1,5-2cm.
5
Hình 1.1: Hoa bạch đàn trắng
[Nguồn: Đỗ Văn Bản – Viện KHLN]
Hình 1.2: Hình ảnh lá hoa quả và thân bạch đàn trắng
[Nguồn: Đỗ Văn Bản – Viện KHLN]
6
Hoa mọc cụm, mỗi cụm từ 7-11 hoa, màu trắng sữa hoặc vàng, nở vào
đầu mùa hạ. Nụ hình cầu nhỏ, đường kính 3 mm, có chóp cao, cuống dài
1,5cm, hoa nhị nhiều. Quả đấu 4 mảnh hình tam giác, rộng 5-8 mm, hạt nhỏ,
màu vàng.
Phân bố:
phục hồi nhanh sau các nạn lửa rừng.
Các xuất xứ có triển vọng cho trồng rừng ở Việt Nam:
+
Laura River (Qld),
+
Morehead River (Qld)
+
Kenedy River (Qld)
+
Katherin (NT)
Vùng trồng thích hợp ở Việt Nam: Các tỉnh Nam Bộ và Nam Trung Bộ,
có thể trồng ở vùng Bắc Trung Bộ và đồng bằng Bắc Bộ. Năng suất có thể đạt
12 - 15 m3/ha/năm hoặc hơn nữa. Bạch đàn trắng có thể trồng tập trung hoặc
phân tán, bằng cây con có bầu từ hạt và hom.
Điều kiện gây trồng : Ở Việt Nam, bạch đàn trắng thích hợp từ vĩ độ 817o Bắc, trên độ cao dưới 400 mét so với mực nước biển, ở nơi độ dốc không
quá 15o. Lượng mưa trung bình năm: 1300-2000 mm; nhiệt độ trung bình
năm: 24-28oC; nhiệt độ tháng nóng nhất 32-34oC; nhiệt độ tháng lạnh
nhất:14-22 oC.
Giá trị sử dụng
Gỗ giác màu xám trắng, gỗ lõi màu nâu đến đỏ nâu. Tỷ trọng gỗ 0,5 0,7, dễ bị cong vênh, rất thích hợp để làm nguyên liệu giấy, ván dăm và MDF
và gỗ củi, có thể dùng làm gỗ đồ mộc, gỗ xẻ, gỗ trụ mỏ,...
Lá bạch đàn trắng có chứa 0,1 – 0,4 % tinh dầu thơm. Tinh dầu được
9
Ở Ôxtrâylia sử dụng gỗ Bạch đàn trắng làm tà vẹt xuất khẩu sang
Niudilan, Trung Quốc, Ấn Độ, Châu Phi. Nhiều nước khác đã sử dụng loại gỗ
này làm vật liệu xây dựng, làm chất đốt, làm gỗ chống lò, làm đồ mộc thông
dụng, …[23].
Năm 1928, Viện công nghiệp rừng của Ôxtrâylia đã nghiên cứu công
nghệ sản xuất hàng mộc và sử dụng trong xây dựng.
Ở Malaysia (1957) đã nghiên cứu chế biến gỗ Bạch đàn trắng làm đồ
mộc sử dụng trong nhà và ngoài trời, dụng cụ nhà bếp, trang trí nội thất làm
hàng mộc cao cấp [22].
Một số nước như Achentina, Ixraen, Mêhicô và Thái Lan sử dụng gỗ
Bạch đàn trắng làm ván ghép thanh.
Ở các nước Châu Á, tại vùng Kalimantan (Indonesia), Sarawak
(Malaysia) Bạch đàn trắng được trồng trên diện tích lớn, đây là một trong
những nguồn nguyên liệu quan trọng cung cấp cho công nghiệp sản xuất giấy,
ván sợi MDF và ván dăm OSB (Oriented Strand Board).
Một số nước như Nhật Bản, Trung Quốc, Đài Loan, Malaysia đã thành
công trong việc sử dụng gỗ Bạch đàn trắng làm nguyên liệu sản xuất giấy và
ván nhân tạo (ván dăm, ván sợi, ván MDF).
Nhiều đề tài trên thế giới đã được chọn lựa và công bố để đưa vào sản
xuất trong công nghệ giấy sợi và chế biến gỗ gồm: Hơn 100 chủ đề nghiên
cứu về sơ sợi, nguyên liệu giấy của các loại gỗ Bạch đàn (E camaldulensis, E
globulus, E grandis, E salina, …). Đặc biệt loài E.camaldulensis được áp dụng
nhiều trên thế giới như ở Italy, Chi lê, Columbia, Nam Mỹ, Nam Phi, Maroco,
India,…. Một số chủ đề nghiên cứu về tính chất vật lý và cơ học, bảo quản,
cách phòng chống cháy, chiết suất tinh dầu của Bạch đàn [7].
11
các khuyết tật thường gặp khi sấy gỗ bạch đàn là nứt vỡ, cong vênh, mo móp,
vặn xoắn, ... trong đó khuyết tật nứt đầu là đáng kể nhất trong các dạng
khuyết tật [19].
Luận văn Thạc sỹ của Lê Văn Mích (2000) “Nghiên cứu tận dụng phế
liệu sau khai thác gỗ trụ mỏ làm ván dăm” đã kết luận, có thể sản xuất ván
dăm thông dụng từ loại nguyên liệu này [9].
Đề tài của Trần Trọng Bắc (2004) “Nghiên cứu giải pháp công nghệ
khắc phục khuyết tật do sấy gỗ bạch đàn trắng” nghiên cứu biện pháp xử lý
trước khi sấy gỗ xẻ Bạch đàn trắng 10 năm tuổi kích thước (25x70x500) mm
bằng thuốc bảo quản Caxe-03, với thuốc có nồng độ 8% trong vòng 3 ngày
rồi đem sấy với nhiệt độ 40- 500C. Sau đó tiến hành sấy gỗ, kết quả, đã hạn
chế được một số nhược điểm của gỗ xẻ gỗ Bạch đàn trắng [10].
Cùng thời gian này là đề tài của tác giả Euđone Sichaleune (2004)
“Nghiên cứu về phương pháp xẻ thanh cơ sở và tạo ván ghép thanh không
phủ mặt từ gỗ bạch đàn trắng” 8-10 năm tuổi đã đề xuất, khi gỗ có đường
kính D < 20 cm, sử dụng phương pháp xẻ suốt để xẻ thanh cơ sở, khi gỗ có
đường kính D > 20 cm, sử dụng phương pháp xẻ xoay để xẻ thanh cơ sở, kết
quả sẽ thu được hiệu suất xẻ cao khi tạo thanh và giảm được nứt vỡ gỗ [11].
Kết quả nghiên cứu của đề mục “Nghiên cứu công nghệ chế biến gỗ
rừng trồng” thuộc đề tài trọng điểm cấp Bộ của PGS.TS Nguyễn Trọng Nhân
và các cộng tác viên của Phòng nghiên cứu Chế biến lâm sản xác định đặc
điểm cây và gỗ Bạch đàn trắng 3 cấp tuổi (8, 10, 12) ở Xuân Mai, đã tiến
hành nghiên cứu giảm nứt vỡ của gỗ tròn bằng biện pháp xử lý ẩm trong môi
trường không khí khác nhau. Kết quả, đã giảm được đáng kể hiện tượng nứt
vỡ gỗ tròn [13].
12
Các đề tài nghiên cứu cũng xác định, gỗ Bạch đàn nói chung có độ co
ngót lớn, tuy nhiên, khi tạo được sản phẩm, trong đó có sản phẩm ván ghép
thanh, chất lượng ván, trong đó mức độ biến dạng tấm ván mới được xác định
tức thời sau khi tạo ván.
Trong quá trình sử dụng, theo nguyên tắc gỗ co ngót lớn có thể dẫn đến
đàn hồi cao, đối với ván ghép thanh, mức độ đàn hồi thanh ghép lớn có thể
dẫn đến tấm ván ghép, đặc biệt tấm ván ghép kích thước lớn bị biến dạng.
Mặt khác, các mối dán bằng keo có thể bị nứt vỡ.
Hiện tượng biến dạng tấm ván và nứt vỡ mối dán bằng keo khi sử dụng
ván ghép thanh gỗ Bạch đàn trong điều kiện độ ẩm không khí biến động trong
một khoảng rộng ở Việt Nam.
Vì vậy thực hiện đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của độ ẩm và góc
xẻ đến một số chỉ tiêu chất lượng thanh cơ sở từ gỗ Bạch Đàn Trắng 15
tuổi (Eucalyptus camaldulensis) trong công nghệ sản xuất ván ghép thanh”
nhằm bổ sung cho những công trình nghiên cứu trước những hiểu biết đầy đủ
hơn về gỗ Bạch đàn nói chung và gỗ Bạch đàn làm nguyên liệu sản xuất ván
ghép thanh.
I.2 Công nghệ sản xuất ván ghép thanh
I.2.1 Giới thiệu chung về ván ghép thanh
Theo tài liệu của PGS.TS Phạm Văn Chương[4],[5] ván ghép thanh là
một loại sản phẩm ván nhân tạo có nhiều dạng với nhiều tên gọi khác nhau.
Định nghĩa theo tiêu chuẩn BS 6100 -1984, ván ghép thanh được phân
loại thành một số loại chủ yếu sau:
-Ván ghép thanh lõi đặc không phủ bề mặt (Lamenated Board và
Finger Joint sawntimber).
14
thường được ứng dụng rộng rãi trong xây dựng. Ván ghép thanh khung rỗng
đang được sản xuất với khối lượng lớn ở các nước phát triển và sẽ là loại hình
sản phẩm phổ biến ở các nước đang phát triển cũng như ở Việt Nam trong
tương lai không xa.
c. Ván ghép thanh lõi đặc có phủ bề mặt
Ván ghép thanh lõi đặc có phủ bề mặt là loại sản phẩm thu được bằng
cách dán ép các tấm ván mỏng lên cả hai mặt của tấm gỗ ghép (ván lõi) với sự
tham gia của chất kết dính trong những điều kiện nhất định.
Ván ghép thanh lõi đặc được chia thành hai loại “Block board” và
“Lamin board”, hai loại này khác nhau chủ yếu về kích thước chiều rộng của
các thanh thành phần để tạo nên ván lõi.
“Block board” là sản phẩm thu được bằng cách phủ một hoặc hai lớp
ván mỏng lên hai bề mặt ván lõi. Ván lõi được làm từ các thanh gỗ xẻ có kích
thước nhỏ, ngắn, các cạnh được gia công nhẵn và được liên kết với nhau theo
chiều rộng và chiều dài thanh. Các thành lõi là các thanh gỗ xẻ có chiều rộng
từ 7 – 30 mm, chiều dày phụ thuộc vào chiều dày sản phẩm, thông thường
chiều dài sản phẩm: 16; 19; 22; 25; 30 mm. Loại sản phẩm của “Block board”
hiện đang được sản xuất rất nhiều nó phù hợp với nguyên liệu gỗ rừng trồng,
tỉ lệ lợi dụng gỗ tương đối cao và giá thành hợp lí.
Loại sản phẩm của “Lamin board” là sản phẩm có dạng tương tự như
“Block board” nhưng kích thước thanh lõi của “Lamin board” cao hơn so với
“Block board”. Chính vì vậy mà loại hình sản phẩm này sản xuất rất ít, nó
biến động từ 1.5-1.7mm [4]. Giá thành chế tạo “Lamin board” cao hơn so với
“Block board”. Chính vì vậy mà loại hình sản phẩm này sản xuất rất ít, nó chỉ
16
được sản xuất cho các công trình sử dụng tấm phẳng, có khả năng sử dụng
lớn, sự co rút là rất nhỏ.
Để ghép các thanh ghép với nhau, người ta sử dụng nhiều phương
pháp. Trước tiên, các thanh ghép được nối theo chiều dài, thanh gỗ được tạo
ngón, tiếp theo các thanh đã nối dài được ghép theo chiều ngang. Khi ghép
ngang, cạnh các thanh ghép thành phần thường được gắn kết bằng keo.
Chiều dầy của các thanh thành phần phụ thuộc vào chiều dầy của sản
phẩm.
Để đảm bảo chất lượng sản phẩm, trong quy trình sản xuất có một số
yêu cầu bắt buộc như sau:
- Các thanh thành phần phải gia công đúng quy cách.
- Phải đảm bảo độ kín khít khi xếp các thanh ghép.
- Độ ẩm của thanh ghép W = 82%.
- Xếp các thanh ghép kế tiếp nhau theo phương pháp đối xứng nhau
theo vòng năm.
- Lượng keo tráng khi ghép ngang từ 150 đến 250 g/m2.
- Áp suất ép của các cạnh với nhau phụ thuộc vào chất lượng bề mặt
thanh ghép khi gia công, song khoảng nhỏ hơn 1 MPa.
Trong sản xuất thực tế, người ta đưa ra nhiều yêu cầu tùy theo khách hàng
Dưới đây là tiêu chuẩn về sản xuất ván ghép thanh của Nhà máy sản
xuất nội thất xuất khẩu Shinec.
Địa chỉ: Khu công nghiệp Lai Vu – Kim Thành – Hải Dương
18
TIÊU CHUẨN CHẤT LƯỢNG TINH CHẾ TULLERO - 2009
1. Quy cách kích thước
2. Tiêu chuẩn chất lượng gỗ
a. Chủng loại gỗ:
b. Mắt gỗ: Mắt có đường kính ≤ 2 mm không tính là mắt
+ Mắt chết (mắt long khỏi gỗ, mắt có chất gỗ thối mục, )
d. Độ cong: Chỉ được phép cong theo một cung vào giữa nan
+ Loại dài ≥ 990 mm cong bụng cho phép ≤ 10 mm, cong cạnh ≤ 2 mm.
+ Loại dài < 990 mm cong bụng cho phép ≤ 2 mm, cong cạnh ≤ 1 mm.
đ. Gỗ bị mục ải:
- Không sử dụng gỗ bị ải, mục không có khả năng chịu lực
e. Gỗ mốc:
- Cho phép 1/5 bản rộng mặt C nhưng không chạy dài suốt thanh
- Không đưa vào sản xuất gỗ mốc đen và mốc chứng quốc (không có khả
năng chịu lực).
f. Độ ẩm gỗ:
Wg = 14 ± 2 %
g. Qui cách kích thước, chất lượng bề mặt gia công
- Bề mặt phẳng nhẵn, không bị gằn xước, lõm, non phôi, đớp đầu hay cạnh,
nứt đầu……..
- Cho phép non phôi, đớp đầu mặt C đoạn dài ≤ 2 mm, nứt dăm đầu ≤ 10
mm không nằm trùng vị trí lỗ khoan và phải được xử lý phẳng bằng Keo 502 +
bột gỗ.
- Các cạnh chi tiết bo R2 mm theo bản vẽ
+ Lắp ráp:
- Dung sai lắp ráp cụm chi tiết: = ± 0.1 mm
-
Mối lắp ráp kín khít, kết cấu chắc chắn, đảm bảo keo bôi đều mộng (+) và
lỗ mộng (-).
- Lỗ bắt vít sâu đồng đều, không lồi vít,
* Lưu ý:
+ Chọn mặt khi lắp ráp (Mắt, giác, mốc phải được trải đều trên bề mặt
cụm chi tiết),
21
đoạn cắt ngắn, bào để tạo kích thước, xử lý bảo quản cho thanh lõi. Thanh lõi
cần đáp ứng yêu cầu như sau: Độ ẩm các thanh lõi: W = 8-12%, thanh không
nứt vỡ đầu, không cho phép mục, mọt, không có chất dầu, nhựa thấm lên bề
mặt. Tùy thuộc yêu cầu của người sử dụng cho phép số lượng, chủng loại,
kích thước các loại mắt trên đơn vị thanh ghép thành phần hay trên đơn vị
chiều dài sản phẩm. Độ lẹm cạnh nhỏ hơn 1%, độ nhẵn bề mặt thanh ghép lớn
hơn hoặc bằng G8.
Tráng keo cho thanh lõi: tùy thuộc vào loại gỗ, lượng keo tráng từ 150
– 250 g/m2.
Yêu cầu khi ghép ván lõi: Tổng số thanh phụ thuộc vào kích thước ván,
loại gỗ. Các thanh ghép thành phần phải cùng một loại cây có tính chất gần
giống nhau. Không cho phép lẫn gỗ mềm với gỗ cứng. Khe hở giữa các thanh
lõi trên mặt chính nhỏ hơn hoặc bằng 1,0 mm, mặt cạnh nhỏ hơn hoặc bằng
3,0 mm.
Thông số chế độ ép: Nhiệt độ phụ thuộc loại keo sử dụng, áp suất phụ
thuộc vào loại gỗ, độ ẩm thanh, chất lượng bề mặt thanh, thông thường áp
suất ép cạnh 0,8-1,0 MPa. Thời gian ép phụ thuộc vào loại keo, nhiệt độ ép,
chiều dầy ván lõi.
Xử lý ván lõi: Ván lõi sau khi ép xong tạo thành ván, do nhiều nguyên
nhân khác nhau, bề mặt thường bị lồi lõm, do đó cần phải xử lý bề mặt trước
khi ép phủ, công đoạn này gồm các bước bào nhẵn, xử lý các vết keo tràn trên
bề mặt, đánh nhám.
Trong quá trình tạo ván ghép thanh, để nối dài các thanh ghép thành
phần, sử dụng thiết bị phay ngón hai đầu thanh ghép thành phần, sau đó các
thanh ghép thành phần được nối lại với nhau, để liên kết chặt chẽ các thanh
Xếp thanh
Ðp ngang
Khi tạo ngón ghép, thông số ngón ghép bao gồm l - chiều dài ngón,
mm; p - bước ngón, mm; c - khe hở đáy, mm; - độ ngiêng ngón ghép.
Để thuận lợi cho sản xuất, người ta sử dụng tỷ lệ kích thước ngón ghép
(R) và hệ số vùng ghép nối (A) làm cơ sở để tính toán và lựa chọn trị số của
thông số ngón ghép.
Tỷ lệ kích thước ngón ghép được tính theo công thức:
R= (100 t/p)x100
Hệ số vùng ghép nối được xác định theo công thức:
A= 1+(2l/p)2
Một số trị số của các thông số ngón ghép trong sản xuất ván ghép thanh
dạng nối ngón được ghi ở các bảng dưới đây:
23
Bảng 1.1 : Thông số hình học của nối ngón theo TC: BSEN 385-1995
l, mm
p, mm
t, mm
A
R, %
30
6,5
1,5
9,28
23
30
11,0
2,7
5,54
24
25
5,0
1,5
10,04
30
16,2
20
6,2
1,0
6,5
16,1
50
12,0
2,0
8,4
16,7
60
15,0
2,7
8,1
8,1
29
6,2
0,6
9,4
9,7
20
6,2
1,0
6,5
16,1
15
3,8
0,3
8,0
như sau:
- Chiều dài ngón ghép lớn hơn 25 mm, áp suất ghép dọc 2-5 N/mm2.
- Chiều dài ngón ghép nhỏ hơn 25 mm, áp suất ghép dọc 5-10 N/mm2.
Khi tạo xong tấm ván ghép, cần xác định kích thước, ngoại hình, sai số
cưa cắt, cong vênh của tấm ván. Các chỉ tiêu đánh giá tuân thủ theo tiêu chuẩn
GB 5849-862.
Theo tiêu chuẩn GB 5849-862, khi xác định các thông số của tấm ván,
sử dụng các dụng cụ và thiết bị như sau:
1.Thước cuộn kim loại 3.000 mm, độ chính xác 1 mm.
2.Thước kẹp, độ chính xác 0,1 mm.
3.Thước chuẩn cạnh 1000 mm, độ cong nhỏ hơn 0,1 0/00.
4.Thước chuẩn cạnh 300 mm, độ cong nhỏ hơn 0,1 0/00.
5.Thước chuẩn cạnh 500 mm, độ cong nhỏ hơn 0,1 0/00.
6.Thước lá 0,05-10 mm.
Khi mẫu vật là các sản phẩm có kích thước theo tiêu chuẩn GB 585086, tiến hành xác định theo phương pháp như sau:
1.Xác định chiều dài và chiều rộng sản phẩm: Dùng thước 3.000 mm
đo tại phần giữa ván, lấy chính xác đến 1,0 mm.
2.Xác định chiều dầy sản phẩm: Dùng thước kẹp xác định tại 4 điểm
các mép ván 20 mm, lấy giá trị bình quân, chính xác đến 0,1 mm.