BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC
VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM
VIỆN SINH THÁI VÀ TÀI NGUYÊN SINH VẬT
------------------------
ĐẶNG THỊ THU GIANG
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ PHƢƠNG PHÁP TÁCH CHIẾT
ADN TỪ DẤU VẾT MÁU TRÊN CÁC VẬT MANG LÀ VẢI
SAU KHI BỊ GIẶT BẰNG XÀ PHÒNG TRONG CÁC VỤ ÁN
HÌNH SỰ PHỤC VỤ CÔNG TÁC GIÁM ĐỊNH ADN
LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC
HÀ NỘI – 2015
Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
http://www.lrc.tnu.edu.vn
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC
VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM
VIỆN SINH THÁI VÀ TÀI NGUYÊN SINH VẬT
------------------------
̣ Sinh
học Pháp lý - Viê ̣n Khoa ho ̣c hiǹ h sự - Bô ̣ Công an đã rấ t tâ ̣n tiǹ h hướng dẫn
tôi trong suố t quá trin
̀ h nghiên cứu và hoàn thành bản luâ ̣n văn này.
Tôi xin chân thành cảm ơn Lañ h đa ̣o Viện Khoa học hình sự , Lãnh đạo
Trung tâm và các đồng nghiệp trong Trung tâm giám đinh
̣ Sinh ho ̣c Pháp lý Viê ̣n Khoa ho ̣c hin
̀ h sự - Bô ̣ Công an đã đô ̣ng viên, giúp đỡ tôi rất nhiều trong
quá trình làm luận văn.
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các thầ y cô giáo th uô ̣c Viê ̣n Sinh thái
và Tài nguyên sinh vật , Viện Công nghệ Sinh học đã tâ ̣n tiǹ h truyề n đa ̣t kiế n
thức và giúp đỡ tôi trong suố t quá triǹ h ho ̣c tâ ̣p.
Cuố i cùng tôi xin bày tỏ lòng biế t ơn đế n gia điǹ h và ba ̣n bè , đã đô ̣ng
viên, góp ý và tạo điều kiện cho tôi trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu
.
Hà Nội, ngày
tháng
năm 2015
Học viên
Đặng Thị Thu Giang
Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
K17 - Viện Sinh thái và tài nguyên sinh vật
http://www.lrc.tnu.edu.vn
Genetic Analyzer ...................................................................................... 23
1.10. Phân tích dấu vết ADN khi bị lẫn ....................................................... 23
1.11. Vấn đề nhiễm ADN ............................................................................ 24
Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
K17 - Viện Sinh thái và tài nguyên sinh vật
http://www.lrc.tnu.edu.vn
Luận văn cao học
Đặng Thị Thu Giang
1.12. Tình hình nghiên cứu trong nước và ngoài nước đối với lĩnh vực
nghiên cứu của đề tài ................................................................................... 26
CHƢƠNG 2. VẬT LIỆU VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.............. 28
2.1. Vâ ̣t liê ̣u .................................................................................................. 28
2.1.1. Thiế t bi ̣ máy móc ........................................................................... 28
2.1.2. Dụng cụ ........................................................................................... 28
2.2. Hóa chất ................................................................................................ 29
2.3. Phương pháp nghiên cứu ...................................................................... 29
2.3.1. Phương pháp thu lượm dấu vết máu trên vật mang là vải .............. 29
2.3.2. Phương pháp giám định định hướng dấu vết máu .......................... 29
2.3.3. Phương pháp miễn dịch khuếch tán kép – Ouchterlony ................. 30
2.3.4. Phương pháp tách chiết ADN từ dấu vết máu ................................ 31
2.3.5. Định lượng ADN ............................................................................ 34
2.3.6. Phương pháp PCR........................................................................... 36
2.3.7. Kỹ thuật điện di trên máy điện di mao dẫn(Capillary Electrophoresis - CE). 36
3.2. Thảo luận kết quả nghiên cứu ............................................................... 66
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ...................................................................... 67
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 69
Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
K17 - Viện Sinh thái và tài nguyên sinh vật
http://www.lrc.tnu.edu.vn
Luận văn cao học
Đặng Thị Thu Giang
DANH MỤC CÁC TƢ̀ VIẾT TẮT
ADN (DNA)
: Axit deoxyribonucleic
ARN
: Axit ribonucleic
LR
: Likelihood Ratio (tỉ lệ khả dĩ)
RFU
K17 - Viện Sinh thái và tài nguyên sinh vật
http://www.lrc.tnu.edu.vn
Luận văn cao học
Đặng Thị Thu Giang
DANH MỤC CÁC BẢNG, HÌNH MINH HỌA
Bảng 1.1: Thành phần và thể tích phản ứng PCR ........................................... 36
Bảng 1.2: Các thành phần hóa chất sử dụng để điện di mao quản ................. 37
Bảng 2.1: Kết quả định lượng ADN tách chiết bằng chelex 5% ................... 48
Bảng 2.2: Chất lượng ADN tách chiết bằng chelex 5% ................................. 50
Bảng 2.3: Kết quả định lượng ADN tách chiết bằng bộ kít PrepFiler ........... 52
Bảng 2.4: Chất lượng ADN tách chiết bằng bộ kít PrepFiler ......................... 54
Bảng 3.1: Kết quả định lượng ADN với mẫu máu trên vải đã bị giặt trong
vụ án cụ thể ..................................................................................................... 56
Bảng 3.2: Chất lượng ADN thu được từ dấu vết máu đã bị giặt trong các vụ
án cụ thể .......................................................................................................... 57
Hình 4.1: Biểu đồ kết quả điện di mẫu 1A, lần thực nghiệm 1.1 ................... 58
Hình 4.2: Biểu đồ kết quả điện di mẫu 1B, lần thực nghiệm 1.2 .................... 59
Hình 4.3: Biểu đồ kết quả điện di mẫu 6B, lần thực nghiệm 1.2 .................... 60
Hình 4.4: Biểu đồ kết quả điện di mẫu MA1.1 ............................................... 61
Hình 4.5: Biểu đồ kết quả điện di mẫu MA2.1 ............................................... 62
Hình 4.6: Biểu đồ kết quả điện di mẫu MA2.2 ............................................... 63
Hình 4.7: Biểu đồ kết quả điện di mẫu MA3.2 ............................................... 64
Hình 4.8: Biểu đồ kết quả điện di mẫu MA4.2 ............................................... 65
Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
các vật mang là vải để lại hiện trường là một nguồn chứng cứ rất quan trọng,
thủ phạm có thể do vô tình hay cố ý đã dùng hóa chất như xà phòng, chất tẩy
rửa để giặt quần áo, hay các vật mang là vải có bám dính dấu vết máu trên đó.
Vì vậy việc tách chiết ADN từ các dấu vết máu này gặp rất nhiều khó khăn.
Do chất tẩy rửa tác động lên dấu vết phá hủy và rửa trôi dấu vết. Trong thực
tế khi gặp những trường hợp như vậy mà áp dụng phương pháp tách chiết
thông thường như đối với các dấu vết máu có chất lượng tốt thì tỉ lệ thành
K17 - Viện Sinh thái và tài nguyên sinh vật
1
Luận văn cao học
Đặng Thị Thu Giang
công là rất thấp. Hơn nữa do phải tách chiết, PCR, chạy điện di nhiều lần gây
tốn kém hóa chất và mất rất nhiều thời gian, mặt khác do lượng dấu vết
thường không nhiều nên đòi hỏi phải có phương pháp tách chiết hiệu quả để
tránh sử dụng hết dấu vết mà không cho kết quả phân tích ADN dẫn đến
không góp phần giải quyết được vụ án.
Trong thực tế các vụ án có dấu vết máu trên các vật mang là vải theo như
lời khai của đối tượng là đã qua ngâm giặt bằng xà phòng và thực tế trong giám
định quan sát bằng mắt cũng thấy vật mang dấu vết tương đối sạch, lượng dấu
vết bám dính trên vật mang là khá mờ nhạt thì với phương pháp tách chiết thông
thường hiện nay là dùng chelex 5% không cho hiệu quả cao với lý do:
- Lượng ADN tách chiết được không đủ để thực hiện phản ứng PCR.
- Không loại bỏ được hết các chất ức chế ảnh hưởng đến chất lượng ADN.
- Hình ảnh điện di kém: Mất alen, nhiều alen lặp ảnh hưởng đến việc
phân tích kiểu gen.
nghiệm Viện Khoa học hình sự - Bộ Công an.
Nghiên cứu này được tiến hành nhằm mục đích phân tích, đánh giá sự
tác động qua lại của một số yếu tố lý, hóa như: xà phòng, chất liệu vải, thời
gian tồn tại của dấu vết máu trên vải trước khi bị giặt, cách thức giặt … lên
dấu vết máu bám dính trên các vật mang là vải như quần áo, chăn ga, gối
đệm…. Chất lượng và số lượng của ADN tách chiết được từ các dấu vết máu
trên các vật mang là vải như quần áo chăn ga gối đệm…. sau khi đã bị giặt
bằng xà phòng trong các vụ án cụ thể và trên các mẫu khảo nghiệm.
Kết quả nghiên cứu giúp đưa ra nhận định với phương pháp tách chiết
nào thì tối ưu nhất đối với dấu vết máu trên vải đã bị giặt bằng xà phòng, phục
vụ tốt nhất công tác giám định gen hình sự, góp phần hoàn thiện cơ sở lý luận
hiện có về quy trình tách chiết ADN nói chung cũng như tách chiết ADN từ
những dấu vết có chất lượng kém nói riêng phục vụ cho công tác giám định
ADN tại Viện Khoa học hình sự - Bộ Công an.
Kết quả đánh giá ADN tách chiết từ dấu vết máu thể hiện qua các bảng
kết quả nồng độ ADN tổng số được tách chiết trực tiếp từ dấu vết máu; biểu
đồ về hình thái các peak biểu thị cho các alen thu được ở 16 locus gen theo hệ
STR (IdentifilerTM), qua đó giúp giám định viên gián tiếp đánh giá số lượng
và chất lượng đối với từng alen của ADN tách chiết được từ mẫu máu cần
khảo sát.
Việc sử dụng kỹ thuật định lượng bằng realtime PCR chỉ là một khâu
trong quy trình giám định giúp đánh giá được về hàm lượng ADN tách chiết
được từ các dấu vết máu, từ đó định hướng điều chỉnh hàm lượng ADN
K17 - Viện Sinh thái và tài nguyên sinh vật
3
Luận văn cao học
4
Luận văn cao học
Đặng Thị Thu Giang
không đúng phương pháp tách chiết thì có thể sẽ sử dụng hết mẫu vật mà
vẫn không cho kết quả. Ngoài ra việc lựa chọn đúng phương pháp tách chiết
còn vừa tiết kiệm chi phí vừa tiết kiệm thời gian.
4.2. Quy trình đánh giá và kết quả dự kiến
- Sản phẩm tách chiết được định lượng bằng phương pháp Real-time.
Mỗi mẻ thí nghiệm sau khi tách chiết ADN bằng phương pháp chelex 5% và
bộ kít PrepFiler sẽ được chạy phản ứng PCR , sau đó điện di phân tích kết quả.
- Toàn bộ sản phẩm tách chiết bởi phương pháp chelex 5% và bộ kít
PrepFiler sẽ được so sánh, đánh giá lượng ADN thu được bằng phương pháp
định lượng, chạy PCR và phân tích kết quả hình ảnh điện di từ đó rút ra
phương pháp tách chiết cho kết quả tốt nhất.
- Trên cơ sở kết quả của các phương pháp tách chiết, luận văn dự kiến
sẽ áp dụng phương pháp tách chiết phù hợp cho dấu vết máu trên vật mang là
vải sau khi bị giặt bằng xà phòng.
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
5.1. Ý nghĩa khoa học
Từ kết quả nghiên cứu của đề tài, đã tách chiết được lượng ADN hiệu
quả nhất nhờ lựa chọn đúng phương pháp phù hợp đối với dấu vết máu trên
các vật mang là vải sau khi bị giặt bằng xà phòng trong các vụ án hình sự, góp
phần rút ngắn thời gian, tiết kiệm chi phí.
5.2. Ý nghĩa thực tiễn
Ứng dụng để tách chiết thành công ADN đối với các dấu vết máu trên
dụng làm đầu dò (probe) để phát hiện những vùng mà Jeffreys gọi là vùng
siêu biến (hypervariable regions) ở các vật liệu di truyền khác nhau. Kỹ thuật
để Jeffreys phân tích các đoạn lặp VNTR là kỹ thuật RFLP (Restriction
Fragment Length Polymorphism). Đây được coi là bước ngoặt lớn trong lịch
sử phát triển của Khoa học hình sự thế giới nói chung và Sinh học pháp lý nói
riêng. Các tiểu vệ tinh được phát hiện thấy trong mọi tế bào và ở những vị trí
khác nhau trong genome của người. Điều đáng chú ý là số lần lặp lại các đoạn
lặp này ở các cá thể khác nhau thì khác nhau. Alec Jeffreys coi đây là đặc
điểm quan trọng để phân biệt sự khác nhau giữa các cá thể. Giám định ADN
cho mục đích tư pháp ra đời từ đây. Phương pháp RFLP lần đầu tiên được sử
K17 - Viện Sinh thái và tài nguyên sinh vật
6
Luận văn cao học
Đặng Thị Thu Giang
dụng để xác định đối tượng trong một vụ hiếp dâm xảy ra tại Anh vào năm
1986. Kể từ đó, việc kiểm tra truy nguyên cá thể bằng giám định ADN được
phổ biến rộng rãi.
Cũng vào thời điểm năm 1985, tác giả Kary Mullis đã công bố kết quả
thử nghiệm thành công phản ứng chuỗi nhân gen PCR. Phản ứng PCR có ưu
điểm vượt trội so với các phương pháp sử dụng kỹ thuật RFLP là chỉ cần một
lượng rất ít ADN khuôn ban đầu sau hơn 20 - 30 chu kỳ phản ứng đã tạo ra
được hàng triệu bản sao tạo điều kiện dễ dàng trong việc phát hiện và nghiên
cứu phân tích.
Năm 1991, một phương pháp mới trong giám định ADN được giới
thiệu, đó là phương pháp phân tích sử dụng các đoạn lặp ngắn (STR - Short
1.2.2. Cơ sở khoa học của giám định dấu vết máu [8]
Giám định dấu vết máu trong điều tra hình sự để truy tìm thủ phạm đã
được ứng dụng từ những năm đầu của thế kỷ XX (Uhlenhuth 1900 – 1901)
bằng việc phân biệt giữa máu người và máu động vật trong các vụ án giết
người. Về sau với việc phát hiện ra hệ thống nhóm máu ABO (Landsteiner và
cộng sự 1901) và các hệ thống nhóm máu khác thì việc sử dụng dấu vết máu
để phục vụ cho công tác điều tra ngày càng được mở rộng.
Mỗi thành phần có trong huyết thanh và tế bào máu đều có vị trí quan
trọng, chứa đựng các thông tin cần thiết về một cá thể mà không ai giống ai
(tính cá biệt). Đây là vấn đề mấu chốt để truy nguyên cá thể thông qua dấu vết
máu. Tuy nhiên để đáp ứng yêu cầu này đòi hỏi một quá trình lâu dài của phát
triển khoa học và công nghệ. Mỗi giai đoạn phát triển của ngành huyết học và
giám định sinh học pháp lý thì các chỉ số khai thác được từ dấu vết máu đều
có những giá trị nhất định.
Mọi sự tương tác đều để lại dấu vết – Đây là nguyên lý nổi tiếng trong
Khoa học hình sự do Giáo sư Edmund Lo- Card trường đại học Y khoa
Jurisprudence ở Lyon đề ra và được gọi là Nguyên lý Locar. Có rất nhiều ví
dụ chứng minh cho nguyên lý này. Chẳng hạn, trong những hoạt động hàng
ngày, con người luôn để lại những dấu vết của mình như: Lông tóc rụng khi
chải đầu, tế bào da tay khi cầm điện thoại, tế bào niêm mạc khi hút thuốc
lá…Trong một vụ án hiếp, giết người ta có thể phát hiện được dấu vết tinh
dịch, tế bào biểu bì của đối tượng trong âm đạo, trong móng tay của nạn nhân
và dấu vết máu của nạn nhân trên quần áo đối tượng và từ đó có thể phân tích
K17 - Viện Sinh thái và tài nguyên sinh vật
8
Luận văn cao học
sức căng bề mặt giữa các chất bẩn và quần áo, đồng thời xà phòng làm cho
khả năng thấm ướt của quần áo nhanh hơn.
Xà phòng có cấu tạo như sau:
R _COO Na
K17 - Viện Sinh thái và tài nguyên sinh vật
9
Luận văn cao học
Đặng Thị Thu Giang
Phần gốc hidrocacbon –R là phần kỵ nước, tan tốt trong các dung môi
hữu cơ, dầu mỡ nhưng không tan trong nước. Nhóm – COONa là phần ưa
nước bị tan trong nước, ít tan trong các dung môi hữu cơ. Khi giặt giũ quần áo
bằng nước xà phòng thì phần kỵ nước (các gốc R khá dài) hòa nhập vào các
hạt dầu mỡ (vì chúng dễ dàng tan vào nhau). Trong khi đó, phần ưa nước (các
gốc _COONa) lại ở trên bề mặt các hạt bẩn đó và làm cho sức căng bề mặt
của hạt bẩn giảm đi vì chúng có điện tích cùng dấu. Khi sức căng bề mặt giảm
đi thì các hạt bẩn sẽ bị chia nhỏ ra, lực liên kết giữa hạt bẩn và quần áo yếu đi
làm tăng khả năng thấm ướt và hạt bẩn tan dần vào trong nước. Ngày nay khi
sản xuất xà phòng người ta còn cho thêm các enzym và cơ chế tác dụng làm
sạch vết bẩn của enzym là phân giải chất bẩn thành các đoạn, các phần có
khối lượng phân tử thấp hơn, dễ hòa tan hơn. Ví dụ: protease, amylase, lipase
có thể thủy phân các vết bẩn protein, tinh bột, dầu/mỡ ngay cả khi nó ở dạng
rắn, nhiệt độ thấp hơn 400C[ 2 ].
Chính vì những cơ chế nêu trên nên dấu vết máu tồn tại trên vật mang
là vải sau khi đã bị giặt bằng xà phòng thường có số lượng rất ít và chất lượng
rất kém, dẫn đến lượng và chất của ADN thu được cũng giảm đáng kể. Chất
Với một mẫu ADN bị phân hủy càng nhiều thì sẽ có càng nhiều sự đứt gãy xảy
ra trong ADN khuôn và càng ít phân tử ADN có được chiều dài đầy đủ, cần
thiết cho sự nhân bội được chính xác trong mỗi phản ứng PCR.
Vấn đề quan trọng đặt ra là làm cách nào có thể tách chiết được một
lượng ADN đủ về số lượng và đảm bảo chất lượng để có thể thực hiện được
phản ứng PCR như đã nói ở trên.
1.4. Phát hiện dấu vết máu trên vật mang là vải sau khi bị giặt bằng xà phòng
1.4.1. Mục đích
Trong số các loại dấu vết ADN hình sự thì dấu vết máu là loại dấu vết
dễ bị phân hủy và biến tính nhất vì bản thân máu là chất lỏng, đó là môi
trường thuận lợi để các vi sinh vật, các enzym dễ dàng xâm nhập và phân
hủy dấu vết máu.
Việc phát hiện, thu lượm dấu vết máu trên vật mang là vải là một công
việc rất khó khăn vì không phải loại vải nào cũng là vải sáng màu và dễ phát
hiện dấu vết máu và việc phát hiện dấu vết máu trên vật mang là vải đã bị giặt
là một công việc còn khó khăn hơn rất nhiều. Do đó việc tìm kiếm phát hiện
phải tỉ mỉ và không được bỏ sót bất kỳ một dấu vết nghi ngờ nào. Nếu thu được
K17 - Viện Sinh thái và tài nguyên sinh vật
11
Luận văn cao học
Đặng Thị Thu Giang
tối đa dấu vết máu có trên vật mang thì giúp ích rất nhiều cho việc tách chiết
ADN, có thể phân tích được đầy đủ kiểu gen của cá thể để lại dấu vết máu.
1.4.2. Đánh giá, tìm dấu vết máu trên vật mang là vải
Đặng Thị Thu Giang
Thành phần phản ứng:
- Chất tạo màu (các hoá chất thay đổi màu như benzidine,
tetramethylbenzidine, luminol,...)
- Hydrogen peroxide (H2O2) là chất oxi hoá.
- Chất xúc tác (haemoglobin hoặc peroxidase)
H2O2 oxi hoá hoá chất không màu thành hoá chất có màu.
Sơ đồ phản ứng chung:
Chất nhận + H2O2 <=> Chất nhận bị oxi hoá + H2O
Trong kít xác định dấu vết máu, TMB (hoặc các chất khác) là chất nhận:
TMB không màu + H2O2 <=> TMB (màu xanh) + H2O
- Kết quả âm tính (không màu hoặc không thay đổi màu sắc) có nghĩa
là dấu vết cần giám định không phải là máu.
- Kết quả dương tính (hiện màu hoặc thay đổi màu sắc) có nghĩa là dấu
vết cần giám định có khả năng là máu.
Các kít định hướng tạo phản ứng màu hoặc phát ra ánh sáng.
Các kít dựa vào đặc tính catalase của máu (sự có mặt của haemoglobin.
Đặc điểm của các phương pháp giám định định hướng dấu vết máu:
- Ứng dụng chất tạo màu (hoá chất thay đổi màu)
- Ứng dụng tác nhân oxi hoá (hydrogen peroxidase).
- Chất xúc tác của phản ứng là haemoglobin.
Sự thay đổi màu nhanh là kết quả dương tính. Điều này có nghĩa là dấu vết
được thử là máu.
Dương tính giả: Kết quả dương tính được xác định khi thử những chất
không phải là máu, do những chất này cũng có thể xúc tác như: tác nhân oxi
hoá hoá chất, nguyên liệu thực vật.
Âm tính giả: Phản ứng cho kết quả âm tính mặc dù chất đó là máu
hoặc có mặt thành phần máu là do:
hỗn hợp kháng thể đôi khi phức tạp. Sự xuất hiện nhiều vạch kết tủa chỉ ra sự
hiện diện một số cặp kháng nguyên – kháng thể giống nhau (1 vài cặp có thể
xếp chồng lên nhau). Hơn nữa, nó cho phép nhận dạng các kháng thể bằng
cách so sánh các phản ứng của chúng đối diện với các huyết thanh mẫu chứng
đặc hiệu đơn nghĩa là “huyết thanh mẫu chuẩn”. Như vậy, bằng sự so sánh
các vạch tạo bởi 2 hệ thống kháng nguyên – kháng thể, có thể suy luận quan
hệ của chúng.[1]
K17 - Viện Sinh thái và tài nguyên sinh vật
14
Luận văn cao học
Đặng Thị Thu Giang
1.5. Tách chiết ADN từ dấu vết máu
Tách chiết ADN là công đoạn đầu tiên rất cần thiết và không thể thiếu
trong hoạt động của các nhà sinh học phân tử. Do các tế bào ở các mô khác
nhau có các đặc điểm cấu trúc khác nhau nên các nhà khoa học đã tìm ra rất
nhiều phương pháp tách chiết khác nhau để tách chiết ADN nhằm đạt hiệu
quả cao nhất [6].
Mỗi một loại dấu vết đòi hỏi có một quy trình tách chiết riêng biệt, phù
hợp với dấu vết đó thì tách chiết ADN mới đạt được hiệu quả cao. Tách chiết
ADN kém hiệu quả, một phần là do chất lượng dấu vết, do ảnh hưởng của vật
mang dấu vết và một phần cũng là do phương pháp tách chiết chưa phù hợp [9].
Hiện nay tại viện Khoa học hình sự, đối với dấu vết máu thì chủ yếu
vẫn đang sử dụng phương pháp tách chiết bằng chelex 5% (Chelex® 100
Resin hãng Bio-rad-Mỹ)
Chelex là một loại nhựa tạo phức có ái lực cao đối với các ion kim loại
xà phòng.
Phương pháp tách chiết ADN bằng bộ kít PrepFiler là phương pháp
tách chiết sử dụng hạt từ tính rezin để hấp phụ ADN. Qua đó thu được tối đa
lượng ADN nguyên vẹn, tinh khiết có trong mẫu và có những ưu điểm vượt
trội sau và phù hợp với những mẫu đã bị biến tính, số lượng ADN ít và lẫn
nhiều tạp chất, chất ức chế:
a) Tách chiết hầu hết hoặc tất cả ADN có trong dấu vết;
b) Loại bỏ thành phần ức chế PCR mà không làm mất ADN;
c) Sử dụng toàn bộ sản phẩm ADN tách chiết được để PCR;
d) Có thể bơm trực tiếp hóa chất PCR vào ống đựng ADN sau tách
chiết nếu lượng ADN quá ít, hơn là phải chuyển ADN vào một ống riêng có
hóa chất PCR (để loại bỏ sự mất mát xảy ra khi chuyển ADN, ví dụ: ADN
dính trên thành ống, dính vào đầu côn).
1.6. Định lƣợng ADN
Định lượng ADN là một quy trình quan trọng trong giám định ADN hình
sự, bởi lượng ADN thu được từ các dấu vết là không giống nhau. Do đó bước
định lượng ADN giúp ta xác định chính xác hàm lượng ADN thu được từ dấu
vết và từ đó tính toán lượng ADN cần thiết đưa vào thực hiện phản ứng PCR.
Định lượng từng mẫu có thể đảm bảo hiệu quả tối đa phản ứng PCR và
ngăn chặn việc phân tích lặp lại, thất thoát nguồn mẫu chứa ADN.
K17 - Viện Sinh thái và tài nguyên sinh vật
16
Luận văn cao học
Đặng Thị Thu Giang
17