Có ý kiến cho rằng: Phát triển kinh tế tư nhân trong TKQĐ lên CNXH, bỏ qua chế độ
TBCN ở nước ta là từ bỏ con đường, mục tiêu CNXH ở Việt Nam. Quan điểm của
đồng chí như thế nào?
Việt Nam quá độ lên chủ nghĩa xã hội đây là con đường mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân
ta đã lựa chọn, con đường đó hoàn toàn phù hợp với quy luật chung, quy luật đặc thù,
phù hợp với xu thế thời đại, mà trước hết là nó đáp ứng được nguyện vọng của toàn thể
dân tộc Việt Nam. Mặc dù con đường đó trong giai đoạn đầu còn nhiều khó khăn, quanh
co, phức tạp. Nhưng với ý chí và quyết tâm của toàn Đảng, toàn dân, con đường đó nhất
định sẽ thắng lợi.
Trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, cũng có nhiều quan điểm khác nhau, thậm
chí trái ngược nhau, điều đó là do nhận thức về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ
nghĩa xã hội chưa sâu sắc. Có ý kiến cho rằng: Phát triển kinh tế tư nhân trong thời kỳ
quá độ lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua chế độ TBCN ở nước là bỏ con đường, mục tiêu chủ
nghĩa xã hội ở Việt Nam.
Trước hết, cần khẳng định: Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là mục tiêu lớn
nhất của cách mạng Việt Nam. Trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, do những yếu
tố chủ quan và khách quan bên ngoài, cùng với những quy luật chung, quy luật riêng chi
phối, nên chúng ta có thể thay đổi bước đi, biện pháp, cách làm cho phù hợp nhưng con
đường, mục tiêu chủ nghĩa xã hội là không thay đổi, nó như là một chân lý của cách
mạng Việt Nam. Như vậy, thực hiện kinh tế tư nhân trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã
hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa không phải là bỏ qua con đường, mục tiêu chủ nghĩa
hội mà là làm cho con đường, mục tiêu đi lên chủ nghĩa xã hội ngày càng trở nên sáng tỏ
hơn.
Để chứng minh vấn đề này, cần làm rõ hai nội dung: Một là, chúng ta tiến lên xây dựng
chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, vậy “bỏ qua” được hiểu như thế nào?
Hai là, tại sao chúng ta phải thừa nhận một nền kinh tế nhiều thành phần (trong đó có cả
TKQĐ
* Thời kỳ quá độ là một thời kỳ lịch sử đặc biệt, trong đó, kết cấu kinh tế - xã hội vừa
bao hàm những yếu tố của xã hội mới ra đời vừa có cả những yếu tố cũ. Tính chất quá độ
đó đã được Lênin viết: “Danh từ quá độ nghĩa là gì? Vận dụng vào kinh tế có phải nó có
nghĩa là, trong chế độ hiện nay có những thành phần kinh tế, những bộ phận, những
mảnh của chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội không? Bất cứ ai cũng thừa nhận điều
đó”.
Khi GCCN và nhân dân lao động giành được chính quyền và bước vào con đường xây
dựng CNXH thì một đòi hỏi khách quan là phải từng bước xây dựng cơ sở kinh tế xã hội
của chế độ mới - chế độ sở hữu XHCN về tư liệu sản xuất dười nhiều hình thức thích
hợp.
* Ở nước ta, lực lượng sản xuất kém phát triển, còn nhiều trình độ, tương ứng với nó thì
phải có nhiều hình thức sở hữu và nhiều thành phần kinh tế. Một số thành phần kinh tế
trong xã hội cũ không thể cải tạo ngay, song lại do yêu cầu xây dựng xã hội mới nên Nhà
nước chủ động xây dựng và phát triển một số thành phần kinh tế mới. Vì vậy, nước ta tất
yếu phải tồn tại nền kinh tế nhiều thành phần với nhiều hình thức sở hữu. Trong đó, kinh
tế tư nhân, kinh tế cá thể của nông dân, thợ thủ công và người làm thương nghiệp, dịch
vụ và kinh tế tự nhiên… tất yếu vẫn còn tồn tại. Việc giải quyết các thành phần kinh tế tư
nhân phải xuất phát từ yêu cầu và trình độ xã hội hóa sản xuất, tùy thuộc vào khả năng tổ
chức của Nhà nước xã hội chủ nghĩa. Trước đây, chúng ta đã sai lầm nóng vội tạo nên
một bức tường ngăn cách giữa kinh tế công hữu xã hội chủ nghĩa và các thành phần kinh
tế tư bản tư nhân, cá thể dẫn đến lực lượng sản xuất bị lãng phí, kinh tế bị kìm hãm, đời
sống xã hội gặp nhiều khó khăn.
Vì vậy, trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, chúng ta tất yếu phải thực hiện kinh tế
nhiều thành phần, song các thành phần kinh tế đều bình đẳng trước pháp luật, hợp tác,
cạnh tranh, đan xen cùng nhau phát triển. Trong đó, kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo