Thực trạng và kiến thức, thực hành của nhân viên y tế về quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện đa khoa huyện mai sơn tỉnh sơn la năm 2014 - Pdf 44

LỜI CẢM ƠN

Trước tiên, tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu, Phòng Quản lý đào
tạo Sau đại học, Khoa Y tế công cộng cùng các thầy giáo, cô giáo Trường Đại học
Y Dược Thái Bình đã tận tình hướng dẫn và tạo điều kiện thuận lợi cho cm trong
quá trình học tập.
Tòi trân trọng cảm ơn Sớ Y tế Sơn La, Ban Giám đốc và cán bộ viên chức
Bệnh viện huyện Mai Sơn đã tạo điều kiện tốt nhất, phối hợp điều tra và cung cấp
thông tin đế tôi hoàn thành luận án.
Em xin chân thành cám ơn PGS.TS. Ngô Thị Nhu, Phó khoa y tế công
cộng Trường Đại học Y Dược Thái Bình; PTS. TS. Vũ Phong Túc, Trường Đại
học Y Dược Thái Bình, là những người Thầy đã trực tiếp, tận tình hướng dần,
giúp đỡ em hoàn thành luận án của minh.
Tôi xin được câm ơn tới gia đình, bạn bè, người thân và đồng nghiệp
những người đã luôn bôn tôi chia sê kinh nghiệm học tập, động viên, khuyến
khích tôi trong thời gian học tập./.
Thái Bình, thủng ¡2 năm 20 ỉ 4
Học viên


LỜI CAM ĐOAN

Trần Đắc Thắng
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các sổ liệu,
kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được đăng tải trên bất kỳ
một phươníỉ tiện thông tin nào.
Tủc giá luận án

Trần Đắc Thắng




Kỹ thuật viên

- NC:
- NV:

Nghiên cứu
Nhân viên

-QD:
- QLCTRYT:

Ọuyết định
Quản lý chất thải rắn y tế

- QLCTYT:

Quản lý chất thải y tế

- TC:

Tổ chức

-TĐCM:
- XLCT:

Trình độ chuyên môn
Xử lý chất thãi

- WHO:

Bảng 3.15.
Bảng 3.16.
Bảng 3.17.
Bảng 3.18.

Kiến thức của nhân viên y tế về dụng cụ đựng chất thải sác nhọn . 46
Kiến thức cùa nhân viên y tế về những qui định trong thu gom


Kiến thức cùa nhân viên y tế về thời gian tối đa lưu giữ chất thái
Kicn thức cùa nhân viên y tê vê xử lý chât thái săc nhọn...............51
Kiến thức của nhân viên y tế về xử lý chất thải được tái chế 51
Tỷ lệ nhân viên y tế sử dụng bào hộ lao dộng khi tham gia phân
loại chât thải răn y tô.......................................................................52
r

r

r

r\

p

r

r

Thực hành
đúng của nhân viên y tô vê phân loại chât thải ràn y tê .. 53 Liên quan giữa kiến

hại. Năm 2010, số lượng chất thải y tế là hơn 300 tấn/ngày (trong đó có khoảng
40tấn/ngày là chất thãi rắn y tế nguy hại) [5]. Chì có khoảng 50% các bệnh viện
thực hiện phân loại, thu gom chất thải rắn y tế đạt yêu cầu theo quy chế quản lý
chất thải y tế [18]. Thực hiện luật bảo vệ 2005 và nhàm hạn chế các tác hại do chất
thải y tế gây ra, ngày 30 tháng 11 năm 2007, Bộ Y tế đã ban hành quv chế quản lý
chất thài y tế kèm theo quyết định số 43/2007/ỌĐ-BYT [11], áp dụng cho tất cả
các cơ sờ y tế và các tổ chức, cá nhân tham gia vận chuyền, xứ lý, tiêu húy chất
thải y tế.


9

Trong năm 2002, Tổ chức Y tế The giới (WHO) đã tiến hành đánh giá trên
22 quốc gia đang phát trien cho thấy, tỷ lệ cơ sở y tế không sử dụng các phương
pháp xử lý chất thải thích hợp khoảng từ 18% đến 64%. Theo ước tính cùa WHO,
trong năm 2002 có khoảng 21 triệu bệnh nhân nhiễm vi rút viêm gan B (HBV), 2
triệu bệnh nhân nhiễm vi rút viêm gan c (HVC) và ít nhất 260.000 người nhiễm
H1V từ nguồn các ống tiêm bị ô nhiễm. Nếu chất thải y tế không được thu gom,
quán lý và xử lý hiệu quá sẽ là mối nguy hiềmcho nhân viên y tê, nhân viên thu
gom và cộng đông. Chat thải y tê (CTYT) nếu không được quản lý và xử lý tốt sẽ
là một trong những nguyên nhân gây ô nhiễm nghiêm trọng đối với môi trường
sống, ánh hưởng trực tiếp đến sức khỏe cán bộ, nhân viên y tế, người bệnh và
cộng đồng. Các cơ sở y tế nằm trong khu trung tâm, tập trung đông dân cư nên
bệnh dịch sẽ dễ dàng phát tán nhanh chóng. Các nghiên cứu dịch tễ học cũng cho
thấy, một người bị tiêm từ kim ticm cùa những bệnh nhân có nguy cơ cao lây
nhiễm I IBC, HCV, IIIV cỏ neuy cơ tương ứng là 30%; 1,8% và 0,3% [46],
Đc tìm hiểu việc thực hiện quản lý chất thải rắn y tế và kiến thức, thực
hành của nhân viên y tế về quàn lý và xử lý chất thải y tế tại bệnh viện Mai Sơn,
góp phần đề xuất giải pháp cải thiện tình trạng quàn lý chất thải rắn y tế phù hợp
với điều kiện của bệnh viện, hạn chế mức độ ảnh hưởng của chất thải rán tế

thải của nó đang là vấn đề cần quan tâm xử lý. Đây là nguồn chất thái chính từ các
hoạt động của bệnh viện, gây tác động ảnh hưởng xấu đến môi trường và sức khỏe
cộng đồng nếu không được quán lý đúng cách [34],
Tại nhiều quốc gia trên thế giới, nhận thức về sự nguy hại tiềm ẩn của
CTYT được đặc biệt quan tâm từ chính quyền, nhân viên y tế và cộng đồng xã
hội. Người quản lý, nhân viên tế có trách nhiệm hơn với CTYT phát sinh từ hoạt
V

động y tế và các lĩnh vực liên quan, CTYT đang trở thành vấn dề toàn cầu đc dọa
sức khỏe của nhân viên y tế, bệnh nhân, công nhân thu gom rác và bất kỳ ai
thường xuyên tiếp xúc với chất thái độc hại của các bệnh viện và các cơ sở chăm
sóc y tế [60].
Khoảng 20-25% tổng sổ CTYT cùa các cơ sở y tố được xếp vào loại nguy
hiểm, trong đó 15% là CTYT nguy hại nhiễm trùng và 10% CTYT nguy hại có
nguồn gốc hóa học hoặc chất phóng xạ, CTYT có thẻ tạo ra nhiều mối nguy hiểm
về sức khỏe và môi trường nếu không được quản lý và loại bỏ một cách hợp lý.
Đặc biệt đáng lo ngại ở các nước đang phát triển vì lượng CTYT đang tăng nhanh
do các dịch vụ y tế được mở rộng trong khi các phương tiện kỹ thuật và các vãn
bán pháp luật đe đảm bảo việc quản lý và xử lý CTYT một cách hợp lý lại thiếu
trầm trọng. CTYT bao gồm nhiều vật liệu nguy hiểm như các rác thải gây lây
nhiễm bệnh, bệnh phẩm, các hóa chất hết hạn, chất phóng xạ, những vật dụng y tế
sắc nhọn như kim tiêm... Ở các cơ sờ y tế, nơi các CTYT nguy hiếm được đốt, tuy


1
2

nhiên việc đốt không an toàn và những thiếu sót phổ biến trong quản lý và vận
hành các lò đốt CTYT quy mô nhỏ dẫn đến việc không đốt cháy hoàn toàn các
CTYT tạo ra các khí độc có thể cao hơn đến 40.000 lần so với giới hạn khí thải

được quan tâm đúng mức. Rác thãi chưa được quan tâm xử lý theo hướng tái chế,
tái sử dụng để hạn chế chôn lấp. Trong khi đó, công tác quy hoạch, lựa chọn điểm
chôn lấp rác chưa hợp lý gây tốn kém quv đất, kinh phí hoạt động cho công tác
báo vệ môi trường chung... Bên cạnh đó, công tác xã hội hóa chưa thu hút được sự
tham gia đầu tư cùa các doanh nghiệp tư nhân trong quàn lý và xử lý rác thải [36],
Công nghệ xử lý chất thải rắn y tế nguy hại bao gồm công nghệ đốt và
không đốt. Việc lựa chọn công nghệ xử lý dựa vào các tiêu chí sau: Thành phần,
tính chất CTRYT nguy hại; khả năng phân loại, cô lập CTRYT tại nguồn thải;
khối lượng CTRYT nguy hại cần xử lý; vị trí đặt cơ sở xử lý CTRYT nguy hại;
khả năng tài chính và khả năng quản lý vận hành của từng địa phương. Công tác
quản lý CTRYT nguy hại đề xuất 3 mô hình xử lý CTRYT nguy hại gồm: 1- Mô
hình xử lý tập trung; 2- Mô hình xử lý theo cụm bệnh viện; 3- Mô hình xử lý tại
các cơ sở y tế. Trong đó, với mô hình xử lý tập trung, các CTRYT nguy hại được
xử lý tập trung tại cơ sở xử lý CTYT nguy hại được xây dựng trong các khu xử lý
chất thải rắn liên tỉnh hoặc theo từng vùng [2].
Nhiều bệnh viện hiện nay vần sử dụng công nghệ đốt thù công hoặc các lò
đốt chưa đạt tiêu chuấn gây ô nhiễm môi trường và chưa đem lại hiệu quả trong
xử lý CTYT. Phần lớn bệnh viện tuyến huyện và một số bệnh viện chuyên khoa
các tĩnh miền núi còn sử dụng phương pháp chôn lấp không đạt tiêu chuẩn kỹ
thuật ngay trong khu vực quỹ đất của bệnh viện càng làm tăng gánh nặng trong
quán lý và xử lý CTYT tại Việt Nam [20],
1.1.

Đại cương chất thải y tế

1.1.1. Một số khái niệm chất thải y tế
- Chất thải: Là vật chất ở thể rắn, lóng, khí được thải ra từ sản xuất, kinh
doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc hoạt động khác.





1
5

- Thu gom và lưu trữ tạm thời tại điểm tập trung của cơ sở y tế: Là việc
tách, phân loại, tập hợp, đóng gói.
- Vận chuyển: Là quá trinh chuyên chở chất thải từ nơi phát sinh đến xử lý
ban đầu, lưu trữ, tiêu hủy.
- Xử lý ban đầu: Là quá trình khử khuấn hoạc tiệt khuấn các chất thải có
nguy cơ lây nhiễm cao ngay gần nơi phát sinh khi vận chuyển tới nơi lưu trữ hoặc
tiêu hủy.
- Ticu húy: Là quá trình sử dụng công nghệ nhằm cô lập (bao gồm cả chôn
lẩp) chất thải nguy hại làm mất khả năng nguy hại đổi với môi trường và sức khỏe
con người.
- Tái sử dụng: Là việc sử dụng một sản phấm nhiều lần cho đến hết tuối thọ
sản phẩm hoặc sử dụng sản phẩm theo một chức năng mới, mục đích mới.
- Tái chế: Là việc tái sán xuất các vật liệu thải bỏ thành những san phẩm
mới [47], [55].
1.1.2. Phăn loại clĩẩt thải y tế
Theo quy chế quản lý chất thải y tế được Bộ Y tế ban hành kèm theo quyết
định số 43/2007/QĐ-BYT ngày 30/11/2007 của Bộ trường Bộ Y tế, chất thải trong
các cơ sở y tế được chia thành 5 loại bao gồm: Chất thải lây nhiễm, chất thải hóa
học nguy hại, chất thài phóng xạ, bình chứa áp suất, chất thải thông thường. Theo
định nghĩa, chất thải rắn y tế nguy hại là chất thải ở dạng rắn phát sinh trong các
cơ sở y tế, từ các hoạt động khám chừa bệnh, chăm sóc, xét nghiệm, phòng bệnh,
nghiên cứu, đào tạo [11], [16],
Việc phân loại và xác định chât thải y tê của đa sô các nước trên thê giới, kể
cả các nước trong khu vực cũng như hướng dẫn của tổ chức y tế thế giới (WHO)
bao gồm các nhóm chính như sau [56]:

* Nhóm chất thải phóng xạ: Những chất thải phóng xạ phát sinh từ các
hoạt động chẩn đoán, hóa trị liệu và nghiên cứu như ống tiêm, bơm tiêm, giấy
thấm, gạc sát khuẩn có sử dụne hoặc bị nhiễm các đồng vị phóng xạ, các chất thãi


1
7

phóng xạ rắn, lỏng và khí phát sinh từ các hoạt động chẩn đoán, điều trị, nghicn
cứu và sản xuất.
Danh mục thuốc phóng xạ và hợp chất đánh dấu dùng trong chẩn đoán và
điều trị ban hành kèm theo quyết định số 33/2006/QĐ-BYT ngày 24/10/2006 của
Bộ trường Bộ Y tế [10].
* Nhóm các bình chứa khí nén có áp suất: Bao gồm bình đựng oxy, CƠ2,
binh ga, bình khí dung, các bình chứa khí sử dụng một lần... Đa số các bình chứa
khí nén này thường dề nỗ, dề cháy nguy cơ tai nạn cao nếu không được tiêu hủy
đúng qui cách.
* Nhóm chất thải sinh hoạt: Nhóm chất thải này có đặc điểm chung như
chất thải sinh hoạt thông thườna từ các hộ gia đinh gồm giấy loại, vải loại, vật liệu
đóng gói bao bì, thức ăn còn thừa, thực phẩm thái bỏ...
Là chất thái không chứa các yếu tố lây nhiễm, hóa học nguy hại, phóng xạ,
dễ cháy, nổ bao gồm:
- Chất thải sinh hoạt phát sinh từ các buồng bệnh (trừ các buồng bệnh cách
ly bệnh nhân).
- Chất thải phát sinh từ các hoạt động chuyên môn y tế như các chai lọ
thủy tinh, chai huyết thanh, các vật liệu nhựa, các loại bột bó trong gẫy xương kín.
Những chất thải này không dính máu, dịch sinh học và các chất hóa học nguy hại.
- Chất thái phát sinh từ công việc hành chính: giấy, báo, tài liệu, vật liệu
đóng gói, thùng cát tông, túi nilon, túi đựng phim.
- Chất thải ngoại cảnh: lá cây, rác thải từ khu vực ngoại cảnh [17], [39],

nguy hại, đến năm 2015 là 600 tấn/ngày và năm 2020 là khoảng 800 tấn/ngày [2],
[38],
Tỷ lệ các cơ sở khám chữa bệnh thực hiện phân loại chất thải y tế là 95%.
Phương tiện thu gom chất thải y tế như túi, thùng đựng chất thải, xe đẩy rác, nhà
chứa rác còn thiếu và chưa đồng bộ, hầu hết chưa đạt tiêu chuẩn. Với thực trạng
gia tăng số lượng bệnh viện như hiện nay, việc quản lý chất thải rắn y tế đang là
gánh nặng lớn của nước ta [22], Các nhà quản lý y tế luôn phải đối mặt với vấn đề
làm thế nào dự đoán được sổ lượng chất thải y tế xác định phân loại tái chế, xử lý
phù hợp [49].
1.1.5. Các nguyên tắc quán lý chất thải y tế


1
9

Quản lý chất thải y tế cần được thiết lập để bảo vệ sức khỏe và an toàn cho
các bệnh nhân, cán bộ trong bệnh viện và khu công cộng, quản lý chất thải y tế
được thực hiện trên cơ sở các nguyên tắc sau:
- Tách riêng chất thải bệnh viện nguy hại cho sức khỏe con người với chất
thải sinh hoạt.
- Đóng gói chất thải để ngăn cách chất thải với con người và môi trường,
đồng thời ngăn ngừa rơi vãi.
- Dán nhãn vào gỏi chất thải đề tránh nghịch ngợm vô ý hoặc đụng chạm
vào chất thải vì không biết sự có mặt của nó hoặc không biết tính chất độc hại đối
với sức khỏe.
- Kiểm soát trong phạm vi bệnh viện và quá trình chuyên chở chất thải để
hủy bò như: Thư gom, lưu giữ, vận chuyển.
- Hủy bở có sự kiểm soát để làm giảm tối thiểu sự tiếp xúc gần người hoặc
động vật (côn trùng, chim, mèo, chó, chuột...).
1.2.

Tro và xỉ chiếm 10-15% khối lượng chất thải được đốt; có hại hơn cho môi trường
khi so sánh với các chất thài chưa được xử lý [53].
Kết quà nghiên cứu tại 6 bệnh viện đa khoa tĩnh về các vi khuẩn chỉ điểm
vệ sinh trong đất cho thấy: Tại các bệnh viện có đường cống thải kín giá trị trung
bình Conform và Fecal coliform! 1 gam đất thấp hơn các bệnh viện có đường
cống thải không kín hoàn toàn [20].
* Ô nhiễm môi trường không khí
Môi trường không khí trong bệnh viện hiện đang chịu sự tác động rất lớn
của công tác quản lý CTRYT, khi các chất thải bệnh viện không được quàn lý tốt
gây rơi vãi, tồn đọng, thùng đựng không có lắp đậy làm bốc mùi hôi thối [22],
[38].
Ớ bệnh viện, đặc biệt khoa truyền nhiễm là nơi có chứa rất nhiều mầm
bệnh như: Streptococcus, Corynebacterium diphteriae, Mycobacterium
tuberculosis, Staphylococcus và không khí là môi trường truyền mầm bệnh vi
khuẩn, ngoài ra còn là yếu tố truyền mầm bệnh virus như virus cúm, virus sởi,
quai bị, có thể gây nên các vụ dịch lớn trong cộng đồng [41 ].


2
1

Chất thãi bệnh viện từ khi phát sinh đến khâu xứ lý cuối cùng đều gây ra
những tác động xấu đến môi trường không khí.
- Khi phân loại tại nguồn, thu gom,vận chuyển chúng phát tán bụi rác, bào
tử vi sinh vật gây bệnh, hơi dung môi, hóa chất không khí. Rác bệnh viện vứt bừa
bãi, tồn đọng sẽ gây mùi hồi thối cho bệnh viện và cộng đồng dân cư, đỏ cũng là
những ổ truyền nhiễm các loại bệnh dịch.
- Nước thải bệnh viện uây ô nhiễm không khí do quá trình phát tán các chất
độc hại bay vào không khí, mùi hôi thổi từ các bé chửa nước thải, đường ống dẫn
nước thải từ các nơi phát sinh đến nơi tập trung.

ở bệnh viện thường có tỷ lệ kháng kháng sinh cao.
+ Nguy cơ nhiễm virus: Chủ yếu các virus đường tiêu hoá (bại liệt, ECHO,
Coxsackie ...), virus viêm gan A, virus gây ỉa lỏng ở trẻ em Rotavirus
+ Nguy cư nhiễm ký sinh trùng như amip, Lamblia, trứng giun, sán.
- Nguy cơ nhiễm chất độc hại: thường gặp trong việc rửa, tráng phim hay
thuỷ ngân của các nhiệt kế, huyết áp bị vỡ, các độc dược bị đổ đi rơi vào các
nguồn nước thải, tuy vậy nguy cơ này thường thấp hơn nước thải công nghiệp.
- Nguy cơ nhiễm chất phỏng xạ: do nguồn phỏng xạ sử dụng trong điều trị
và nghiên cứu không được bảo quản đúng mức sẽ gây phát xạ nguy hiểm.
Kết quả nghiên cứu tại 8 bệnh viện huyện của 4 tinh (2006) cho thấy, 100%
mẫu nước sinh hoạt tại các khoa không đạt tiêu chuấn vi sinh vật, các chi số
Coliform và Fecal conform, BOD, COD đều cao so với tiêu chuẩn cho phép.
Các vi khuẩn có khá năng gây bệnh phân lập được từ nước sinh hoạt, nước thải,
không khí và dụng cụ chuyên khoa tại các bệnh viện chủ yếu là vi khuẩn đường
ruột [31].
Kết quà phàn tích nước thải bệnh viện đa khoa Vĩnh Long cho thấy các chi
số BOD5, COD, vượt quá tiêu chuẩn cho phép. Mức độ ô nhiễm vi khuẩn cao gấp
nhiều lần so với tiêu chuẩn nước thải Việt Nam [24],
1.2.2. Anh hưởng cứa chất thảiy tế đổi với sức khỏe cộng đồng


2
3

Chất thải y tế là môi trường có khả năng chứa đựng các loại vi sinh vật gây
bệnh, các chất độc hại như hoá chất, chất gây độc tế bào, chất phóng xạ... Các
nghiên cứu dịch tỗ học trên thế giới dã chứng minh, các chất thải bệnh viện có khã
năng ánh hưởng lớn đến sức khóc cán bộ nhân viên y tế, cộng đồng dân cư nếu
CTYT không được quản lý đúng cách. Các tác nhân gây bệnh này có thể xâm
nhập vào cơ thể con người qua các đường: Qua vết da bị xây xước hoặc bị thương;

nhiễm với các tác nhân gây bệnh truyền nhiễm qua đường máu là 2,6% đối với
HCV; 5,9% đối với HBV và 0,5% đối với HIV. Điều này có nghĩa là trên thế giới
hàng năm ước tính có 16.000 trường hợp lây nhiễm HCV và 66.000 trường hợp
lây nhiễm HBV, 200 - 5.000 trường hợp lây nhiễm H1V ở nhân viên y tế. Tại các
nước đang phát triển, khoảng 40 - 65% số trường hợp lây nhiễm HBV và HCV ờ
nhân viên y tế là do phơi nhiễm nghề nghiệp bởi tổn thương thấu da. Tại các nước
phát triển thì ngược lại, tý lệ quy thuộc đối với HCV chỉ khoảng 8 - 27% và dưới
10% đối với HBV, phần lớn là nhờ áp dụng tiêm phòng và sử dụng phương tiện
báo vệ cá nhân an toàn. Tỷ lộ quy thuộc của I1IV giữa các vùng vào khoảng 0,5 11% [65].
Năm 2003, Đinh Hữu Dung và cộng sự nghiên cứu tại 6 bệnh viện đa khoa
tinh cho thấy mô hình bệnh tật của nhân dân sống tiếp giáp với bệnh viện là các
bệnh nhiễm trùng theo đường nước như bệnh da liễu (bệnh sẩn ngứa, viêm quanh
mỏng, viêm ke chân), các bệnh phụ khoa, bệnh mắt hột, các bệnh lây theo đường
không khí thường gặp là viêm mũi dị ứng [20], [37],
1.3.

Thực trạng quán lý chất thăi y tế trên thế giới
Theo Tổ chức Y tể thế giới, có 18 - 64% cơ sở y tế chưa có biện pháp xứ lý

chất thải đúng cách. Tại các cơ sở y tế có 12,5% công nhân xử lý chất thải bị tổn
thương do kim đâm xảy ra trong quá trình xử lý CTRYT. Tổn thương này cũng là
nguồn phơi nhiễm nghề nghiệp, với máu phổ biến nhất, chủ yếu là dùng hai tay
tháo lắp kim và thu gom tiêu hủy vật sắc nhọn. Có khoảng 50% số bệnh viện trong
diện điều tra vận chuyển CTRYT đi qua khu vực bệnh nhân và không đựng trong
xe thùng có nắp đậy [65],


2
5


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status