SỞ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO THANH HÓA
PHÒNG GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO THÀNH PHỐ THANH HÓA
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Người thực hiện:
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường tiểu học Điện Biên 2
Thành phố Thanh Hóa
SKKN thuộc lĩnh vực môn: Toán
THANH HÓA NĂM 2016
1
PHẦN I: PHẦN MỞ ĐẦU:
I - LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1/ Xuất phát từ mục tiêu của môn toán ở trường tiểu học:
- Môn toán ở tiểu học nhằm giúp cho học sinh:
Có những kiến thức cơ bản về yếu tố hình học và cách hình thành phép
nhân chia trong bảng.
- Hình thành các kỹ năng thực hành, tính toán, giải toán có lời văn và các
dạng bài toán nhân chia trong bảng và các bài toán có ứng dụng thiết thực trong
cuộc sống.
- Góp phần bước đầu phát triển năng lực tư duy, phát triển khả năng suy
luận, hợp lý của diễn đạt đúng. Biết cách giải quyết các vấn đề đơn giản, gần gũi
trong cuộc sống, kích thích trí tưởng tượng gây hứng thú trong học toán cho học
sinh.
- Môn toán tiểu học góp phần bước đầu hình thành phương pháp học toán,
làm việc có kế hoạch, khoa học, chủ động, linh hoạt, sáng tạo cho học sính
không có tài liệu, chương trình cụ thể, sách tham khảo dành cho những em học
sinh chưa hoàn thành cũng không có.
Với nhận thức như vậy bản thân tôi thấy vấn đề giúp đỡ học sinh chưa hoàn
thành là vấn đề cần được quan tâm nhiều hơn, nhằm để nâng cao chất lượng cho học
sinh.
Nhưng trong khuôn khổ đề tài này tôi chỉ được phép chọn một mảng kiến
thức toán học và tôi đã chọn “Vấn đề giúp đỡ học sinh chưa hoàn thành khắc
phục khó khăn khi thực hành 2 phép tính nhân, chia trong bảng cho học sinh lớp
3”. Hy vọng với đề tài này tôi cũng như các đồng nghiệp những ai quan tâm đến
vấn đề này sẻ góp phần giúp đỡ học sinh chưa hoàn thành học tốt hơn môn toán
ở bậc tiểu học.
II - ĐỐI TƯỢNG VÀ KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU:
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là thiết kế các biện pháp giúp đỡ
các em học sinh chưa hoàn thành khắc phục khó khăn khi học 2 phép tính nhân,
chia trong bảng ở lớp 3.
- Khách thể nghiên cứu: Tôi đã chọn học sinh lớp 3A7 Trường Tiểu học
Điện Biên 2 (nơi tôi đang công tác giảng dạy) .
III - MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU:
1/ Tìm hiểu thực trạng dạy và học phần thực hành 2 phép tính nhân, chia
trong bảng của học sinh lớp 3.
2/ Tìm hiểu những nguyên nhân và sai lầm mà học sinh chưa hoàn thành
gặp phải khi gặp dạng toán 2 phép tính nhân, chia trong bảng ở lớp 3.
3/ Đề xuất một số ý kiến để giúp đỡ học sinh chưa hoàn thành hình thành
được kỹ năng thực hành 2 phép tính ở lớp 3. Cho học sinh yếu kém ở trường
tiểu học.
IV - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
1/ Phương pháp nghiên cứu tài liệu:
Đọc tài liệu, giáo trình có liên quan đến đề tài.
2/ Phương pháp điều tra:
Điều tra về thực trạng học sinh chưa hoàn thành lớp 3, điều tra về việc
1/ Ở bậc Tiểu học tri giác của học sinh mang tính chất đại thể không chủ
định, do đó các em phân biệt các đối tượng con chưa chính xác, hay mắc phải
các sai lầm, có khi còn lẫn lộn. Tuy vận học sinh Tiểu học vẫn có khả năng phân
tích các dấu hiệu, các chi tiết nhỏ của đối tượng, nhưng khả năng phân tích các
dấu hiệu của đối tượng với học sinh Tiểu học còn yếu, ở các lớp đầu bậc Tiểu
học, tri giác của trẻ thường gắn liền với hành động với các hoạt động thực tiễn.
Tri giác của trẻ là phải làm cái gì đó. Với sự vật như cầm, nắm, sờ mò với sự
vật ấy. Vì vậy trong dạy học nên vận dụng trực quan nhiều hơn. Tuy vậy tri giác
của các em còn gặp khó khăn khi phải quan sát các sự vật có kích thước quá lớn
hoặc quá nhỏ, về tri giác thời gian các em khó hình dung.
2/ Ở lứa tuổi Tiểu học chú ý chủ định của các em còn yếu, khả năng điều
chỉnh chú ý một cách có ý thức chưa mạnh sự chú ý của học sinh đòi hỏi một
động cơ thúc đẩy, nếu ở học sinh tiểu học các lớp đầu cấp thường bắt mình chú ý
khi có động cơ gần, khi lên lớp 4 chú ý khi có động co không chủ định đã bắt
đầu phát triển, những gì mang tính chất mới mẻ, bất ngờ, khác lạ, thường thu hút
được chú ý của các em mà không cần sự hỗ trợ của ý chí. Tuy vậy học sinh tiểu
học cũng rất mẫm cảm những ấn tượng trực quan quá mạnh sẽ làm kìm hãm khả
năng phân tích và khái quát tài liệu học tập, khả năng phát triển chú ý có chủ
định bền vững tập trung của học sinh Tiểu học trong quá trình học tập là rất cao,
bản thân quá trình học tập đòi hỏi các em phải rèn luyện thường xuyên chú ý có
chủ định, rèn luyện ý chí.
3/ Trí nhớ của học sinh Tiểu học mang tính trực quan, hình tượng được
phát triển hơn trí nhớ từ ngữ lôgíc, các em nhớ và giữ gìn chính xác những sự
vật hiện tượng cụ thể nhanh và tốt hơn những định nghĩa, những giải thích dài
dòng. Ghi nhớ của các em còn chiếm ưu thế. Các em lại chưa biết nên nhờ cái
gì? Nhờ trong bao lâu? Ngôn ngữ của các em còn hạn chế. Các em nhớ từng
cầu, từng chữ dễ dàng hơn là dùng lời lẽ của mình để diễn tả lại sự vật, hiện
tượng nào đó, có nhiều học sinh Tiểu học chưa biết tổ chức việc ghi nhớ có ý
nghĩa.
4
- Ý chí học sinh tiểu học phát triển chưa đầy đủ, học sinh lớp một, hai
chưa biết đề ra mục đích và theo đuổi mục đích, chưa có khả năng khắc phục
khó khăn.
- Lứa tuổi này thường gặp nhiều thiếu sót trong ghép ý như: Bất thường,
bình thường.
- Do tính hiếu động và dễ xúc động làm ảnh hưởng tiêu cực đến các phẩm
chất, ý chí đặc biệt là tính tự chủ và tình kiềm chế.
C - Tình cảm:
- Học sinh Tiểu học rất dễ xúc động và khó kìm hãm cảm xúc của mình.
Các em chưa biết kiềm chế cảm xúc và kiểm soát sự thể hiện cảm xúc ra bên
ngoài. Học sinh biểu lộ tình cảm một cách tự nhiên và chân thực. Vì đặc điểm
này mà các em cười nói, hò reo, làm mất trật tự trong lớp học.
- Tình cảm của học sinh Tiểu học chưa bền vững và thiếu sâu sắc, tình
cảm chuyển hoá nhanh chóng, các em khóc rồi lại cười, vui rồi lại buồn ngay và
5
chưa có tâm trạng kéo dài. Tuy nhiên những ấn tượng mạnh vẫn để lại cho các
em dấu ấn sâu sắc.
II - KHÓ KHĂN CỦA HỌC SINH TIỂU HỌC:
- Khó khăn liên quan đến chế độ học tập mới như thực hiện nghiêm túc
thời gian biểu, đi học đúng giờ, không được nghỉ học, làm bài tập đầy đủ, lên
lớp phải chú ý nghe giảng.
- Khó khăn liên quan đến tính chất của các mối quan hệ với giáo viên, bạn
bè. Trong quan hệ với giáo viên, học sinh Tiểu học rất sợ thầy cô giáo bởi vì
giáo viên là người dạy dỗ có uy tín, là người đưa yêu cầu đối với học sinh ngăn
cản các hành vi sai trái của các em, kiểm tra đánh giá các em hàng ngày.
- Khó khăn liên quan đến khả năng học tập, phương thức học tập còn hạn
chế với mong muốn được học tập và hiểu biết. Vì vậy giáo viên cần phát hiện
+ Sách vở cẩu thả, luộm thuộm.
6
2/ Học sinh chưa hoàn thành về môn Toán:
- Đa số học sinh chưa hoàn thành bộc lộ rõ nhất là ở môn Toán. Vì môn
toán là môn có nhiều kiến thức phải nhớ, phải tư duy.
- Học sinh chưa hoàn thành về môn Toán thường không thích học Toán.
Qua khảo sát thực tế 10 em thuộc đối tượng học sinh chưa hoàn thành thì có:
+ 6 em trả là không thích học môn Toán
+3 em trả lời là thích học Toán.
+1 em trả lời là thích học toán nhưng hay làm sai bài tập.
Hầu hết các em học sinh chưa hoàn thành thường làm bài tập quá thời
gian quy định mà vẫn không hoàn thành các bài tập, chưa nói chất lượng của các
bài còn sai nhiều chưa đạt mục tiêu đề ra.
3/ Cơ sở để hình thành phép nhân chia trong bảng.
- Ở lớp 2 các em đã được học phép nhân và phép chia trong bảng từ bảng
nhân 2, nhân 3, nhân 4, nhân 5.
Bảng chia 2, chia 3, chia 4, chia 5
- Hình thành theo quan điểm tập hợp (A x B) với A∩B = Φ.
Toàn lớp 2, chương trình năm 2000
- Hình thành phép nhân trên cơ sở phép cộng các số hạng bằng nhau.
Ví dụ 1: 2 + 2 + 2 + 2 +2 = 10
O O
2 nhân 5 = 10
O O
2 x 5 = 10
O O
2 được lấy 5 lần
O O
Ví dụ:
2
× 5 = 10
Suy ra:
10
: 2 = 5
Hoặc:
10
: 5 = 2
Hay:
7
2 × 4 = 8
- Số 2 là thừa số thứ nhất
O O O O
- Số 4 là thừa số thứ hai
O O O O
- Số 8 là tích đã tìm được
Vậy để thực hiện hình thành từ phép nhân thành phép chia ta làm như sau:
- Lấy tích là 8 chia cho thừa số thứ nhất là 2 kết quả tìm được là 4
- Từ đó ta hình thành được một bảng chia
2 :2 =1
12 : 2 = 6
4 :2 =2
14 : 2 = 7
6 :2 =3
16 : 2 = 8
8 :2 = 4
18 : 2 = 9
6 × 7 = ……
°°
°°
6 được lấy 3 lần, ta có:
6 × 8 = ……
°°
6 × 3 = 6 + 6 + 6 = 18
6 × 9 = ……
°°
°°
Vậy : 6 × 3 = 18
6 × 10 = ……
°°
°°
°°
°°
°°
8
+ Hình thành phép chia 6 trên cơ sở phép nhân 6
Ví dụ: 2
°°
°°
° ° 6 × 3 = 18
6 : 6
12 : 6
°°
°°
= 7
= 8
= 9
= 10
7
7
7
7
7
7
7
7
7
7
×
×
×
×
×
×
×
×
×
×
1 =
2 =
3 =
4 =
49
56
63
70
8
8
8
:
:
:
:
:
:
:
:
:
:
7
7
7
7
7
7
7
7
7
7
8
°°
°°
°°
16
°°
°°
°°
24
°°
°°
°°
32
40
48
56
64
72
80
Ví dụ 5: Cơ sở để hình thành bảng nhân 9
9 được lấy 1 lần, ta viết:
°°°°°°°
9 × 1 = 9
°°°°°°°
°°°°°°°
:
:
:
:
×
×
=
=
=
=
=
=
8
8
8
8
8
8
8
8
8
8
9 được lấy 2 lần, ta có:
9 × 2 = 9 + 9 = 18
Vậy: 9 x 2 = 18
- Hình thành phép chia 9 trên cơ sở phép nhân 9:
°°
°°
°°
Ví dụ:
=
=
=
=
=
=
=
=
=
5
6
7
8
9
10
2
3
4
…
…
…
…
…
…
…
9
9
×
=
=
=
=
=
=
=
=
=
=
=
=
=
5
6
7
8
9
10
1
2
3
4
5
6
7
các lớp 1, 2, 3, thì giáo viên đã nắm bắt được cách đổi mới về chương trình,
cũng như đổi mới về chương trình, cũng như đổi mới về phương pháp dạy học.
Nhằm giúp học sinh lĩnh hội tri thức một cách khoa học, chính xác gây hứng thu
học tập cho các em. Giáo viên thường hướng dẫn học sinh hình thành các khái
niệm, từ đó vận dụng vào làm các bài tập đạt kết quả cao. Đa số giáo viên đã tìm
hiểu bài và chuẩn bị nội dung bài dạy chu đáo trước khi đến lớp nên đã tạo điều
kiện cho học sinh được học, được thực hành và được tham gia đánh giá kết quả
học tập của bạn góp phần nâng cao chất lượng học sinh.
Nhưng bên cạnh đó vẫn còn có một số giáo viên khi dạy còn phụ thuộc
vào tài liệu có sẵn như ở (SGK) sách bài soạn nên bài dạy diễn ra một cách máy
móc theo mẫu quy định, không có sự sáng tạo để phù hợp với từng trình độ của
học sinh, giáo viên dạy theo hình thức đại trà cho mọi đối tượng mà chưa có sự
chú ý đến đối tượng học sinh hoàn thành nhanh , học sinh chưa hoàn thành. Nên
nhìn chung các em học sinh chưa hoàn thành không nắm bắt được nội dung bài.
2/ Thực trạng của học sinh chưa hoàn thành khi thực hành 2 phép
tính nhân chia trong bảng ở lớp 3:
- Do đặc điểm tâm sinh lý và khả năng nhận thức của học sinh chưa hoàn
thành còn hạn chế, nên khi làm bài tập hoặc khi làm bài kiểm tra về hai phép
tính nhân chia trong bảng vẫn còn nhầm lẫn và các em nắm bắt các thuật toán
chưa chắc chắn cụ thể như sau:
a/ Khi thực hiện phép nhân:
12 + 3 = ? và 24 x 2 =?
một số học sinh yếu đã đặt tính và như sau:
×
12
24
×
3
2
36
- Nguyên nhân: Các em chưa hiểu được x là số chia chưa biết và muốn
tìm được x là số chia chưa biết ta phải thực hiện như thế nào? ( Trong phép chia
hết, muốn tìm số chia ta lấy số bị chia, chia cho thương).
Do vậy các em chưa hiểu được cho nên dẫn đến cách ghi đặt phép tính và
kết quả đều bị sai.
* Học sinh thứ hai thực hiện như sau:
x : 5 = 4
x = 5 + 4
x = 9
- Rõ ràng các em thực hiện sai phép tính
- Nguyên nhân: Do các em chưa nắm chắc được cách thực hiện 1 phép tính
chia. Khi tìm x là số bị chia chưa biết, chưa nắm được quy tắc của phép tính chia.
- Muốn tìm số bị chia ta lấy thương nhân cho số chia. Do vậy các em đã
dẫn đến sai về phép tính và kết quả:
II - NGUYÊN NHÂN HỌC SINH HỌC CHƯA HOÀN 2 PHÉP TÍNH
NHÂN, CHIA TRONG BẢNG:
- Qua tìm hiểu đối tượng học sinh chưa hoàn thành và phân loại đối tượng
tìm nguyên nhân dẫn đến sự chưa hoàn thành về loại phép tính nhân, chia trong
bảng ở lớp 3, do hai nguyên nhân.
1/ Nguyên nhân khách quan:
- Do phương pháp dạy của giáo viên: Những năm gần đây yêu cầu đổi
mới phương pháp dạy học, đòi hỏi người giáo viên phải thật sự đầu tư vào giờ
dạy, phải chú ý đối với mọi đối tượng học sinh, mục đích là để học sinh luôn
sáng tạo từ tìm ra từ thực mới bằng cách tự hoạt động, tự chiếm lĩnh tri thức,
nhưng bên cạnh đó do phương pháp cổ truyền đã ăn sâu vào tiềm thức của giáo
viên, nên giáo viên thường cung cấp tri thức mới cho học sinh bằng cách đưa ra
các bài mẫu, hướng dẫn cách tính qua bài mẫu, học sinh ghi nhớ rồi làm theo các
12
em càng yếu.
CHƯƠNG III
MỘT SỐ BIỆN PHÁP VÀ CÁC PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TÍCH CỰC
ĐỂ GIÚP ĐỠ HỌC SINH CHƯA HOÀN THÀNH THỰC HIỆN 2 PHÉP
TÍNH NHÂN CHIA TRONG BẢNG.
1. Đổi mới phương pháp dạy học:
- Trong mỗi tiết học giáo viên nên phối hợp nhiều hình thức tổ chức dạy
học một cách khoa học để cho giờ học nhẹ nhàng, mới có hiệu quả như dạy học
theo lớp, dạy học theo nhóm, dạy học theo cá nhân- Hình thức dạy học cá nhân
cần chú trọng và áp dụng tích cực hơn, học sinh cần được thực hành nhiều hơn
như tự làm bài tập, tự đánh giá đúng sai của mình, của bạn dưới sự hướng dẫn
của giáo viên dạy học, với yêu cầu đặt ra dạy học đến từmg học sinh. Học đi đôi
13
với hành, học sinh được thực hành luyện tập nhiều hơn, các dạng bài phong
phú, đa dạng hơn để phát huy tính tích cực của học sinh, giáo viên phải nắm
được khả năng của từng học sinh từ đó phân chia được các nhóm phát triển khả
năng sở trường của mình. Mỗi học sinh đều phải hoạt động, phải học tập suy
nghĩa và làm việc tích cực, giáo viên nói ít, giảm ít làm mẫu mà nên tổ chức cho
học sinh hoạt động, làm việc với từng nhóm, từng cá nhân, cách dạy này tạo cho
học sinh thói quen tự giác làm việc cố gắng học hỏi để chiếm lĩnh tri thức.
- Đổi mới phương pháp dạy học không phải là loại bỏ hoàn toàn phương
pháp cổ truyền mà phát biết vận dụng các phương pháp đó một cách linh hoạt
sáng tạo nhằm tổ chức cho mọi học sinh đều hoạt động, đều được tham gia giải
quyết vấn đề.
Kết quả của việc dạy học toán không chỉ đem lại cho học sinh nói chung
và học sinh chưa hoàn thành nói riêng, những kiến thức kỹ năng cơ bản mà góp
phần hình thành phương pháp tập tạo thói quen tốt và góp phần phát triển nhân
cách cho người học sinh do vậy việc đổi mới phương pháp dạy học toán là một
tính toán, giải toán ở dạng đơn giản, nhóm học sinh hoàn thành làm các bài tập
nâng cao hơn để phát triển năng khiếu toàn cho các em.
Giáo viên áp dụng dạy học bằng phiếu bài tập còn giúp các em trong nhóm tự
kiểm tra đánh giá và đánh giá lẫn nhau bằng cách các em đổi phiếu từng cặp để kiểm
tra đúng - sai cho nhau, qua bài làm của bạn mỗi học sinh, mỗi học sinh có thể học tập
được lẫn nhau vè cách trình bày và các kỹ năng tính toán.
Sau khi áp dụng biện pháp dùng phiếu bài tập số học sinh chưa hoàn
thành, lười học, hay nghịch… đã tiến bộ hơn. Các em hoàn thành nhanh hơn sôi
nổi và hào hứng khi giáo viên ra phiếu bài tập, kỹ năng thực hành 2 phép tính
nhân, chia trong bảng.
- Như vậy để giúp học sinh khắc phục những sai lầm khi thực hiện 2 phép
tính nhân chia trong bảng. Ngoài những biện pháp vừa nêu trên giáo viên cần
tìm ra các giải pháp thích hợp, các cách dạy cho từng bài, từng phép tính cụ thể.
Phương pháp dạy 2 phép tính nhân chia trong bảng. Theo yêu cầu cơ bản
về kỹ năng môn Toán các em phải thực hiện đúng các phép tính bằng cách đặt
tính, cách tình và tìm ra kết quả đúng.
- Phép nhân một số cho một số. Chú ý cách đặt các thừa số
- Phép chia một số với một số
- Biết cách thực hiện phép tính và cách thử lại kết quả bằng phép nhân và
phép chia.
- Biết tìm thương trong phép chia đúng
- Biết trừ tích trong phép nhân đúng
- Biết vận dụng các quy tắc trong phép chia hết
- Biết tìm số chia x chưa biết
Vì vậy phương pháp các phép tính nhân, chia trong bảng cho học sinh
chưa hoàn thành và để khắc phục học sinh chưa hoàn thành vươn lên hoàn thành
và nắm vững được kiến thức, kỹ năng cơ bản của mảng kiến thức này, cần thực
hiện như sau:
a/ Nhờ vào bảng cộng các số hạng, từ đó ta hình thành được phép nhân:
- Kết quả tìm được tích là 27
Vậy để khắc sâu kiến thức cho học sinh chưa hoàn thành giáo viên cần
hướng dẫn cách thử lại kết quả, từ ghép nhân chuyển sang phép chia.
- Ta lấy tích là 27 chia cho 3 là thừa số thứ hai, kết quả tìm được thương
là 9 (đây là phép tính đúng).
- Từ đó ta có thể lập một bảng phép chia như sau:
Số bị chia
27
27
27
63
63
63
Số chia
9
9
9
9
9
9
Thưởng
3
3
3
7
7
7
- Giúp học sinh chưa hoàn thành hiểu được phép nhân và phép chia có
mối quan hệ chặt chẽ với nhau, được biết thành một móc xích nhất định, từ đó
các em không bị nhầm lẫn, trong cách đặt tính và kết qủa phép tính, còn gọi là
x=5 x 4
x = 20
VD 3: Phép chia số có hai chữ số cho số có một chữ số:
- Học sinh chưa biết cách tính dọc
- Trường hợp này giáo viên cần hướng dẫn một cách tỉ mĩ để học sinh
chưa hoàn thành dễ hiểu áp dụng chia dễ dàng hơn.
Bước 1: Hướng dẫn học sinh đặt tính 12 6
+ Dẫn dắt cách chia
+ Số bị chia có 1 chục và 2 đơn vị
+ Số chia là 6
- Từ đó yêu cầu học sinh trình bày phép chia theo thuật toán thứ tự chia
như sau:
(12 chia cho 6 được 2
12 6
viết 2
12 2
- 2 nhân 6 bằng 12
0
12 trừ 12 bằng 0
Ta nói rằng 16 : 6 là phép chia hết trong bảng
Đọc là: Mười hai chia sáu bằng hai
- Một số đề xuất với người dạy khi tiến hành giúp đỡ học sinh chưa hoàn
thành khắc phục khó khăn khi thực hành 2 phép tính nhân chia, khia dạy người
giáo viên phải có một tầm nhìn tổng quát về 2 phép tính nhân chia trong bảng.
Để từ đó giáo viên xây dựng bài giảng trên cơ sở khắc phục những khuyết điểm,
hạn chế của giáo viên và những thiếu sót của học sinh, hạn chế của giáo viên và
những thiếu sót của học sinh, từ đó giáo viên biết kế thừa và phát huy những ưu
điểm của phương pháp để nâng cao chất lượng daỵ học. Hơn nữa việc nắm bắt
những hạn chế của học sinh sẽ giúp giáo viên, vận dụng hợp lý các phương pháp
dạy học cho từng nội dung cụ thể, cũng như các hoạt động dạy học có sự tích cực
IV. KẾT QUẢ THỰC NGHIỆM:
Căn cứ vào tiến trình bài dạy và kết quả kiểm tra bài học sinh. Tôi thấy đa
số học sinh chưa hoàn thành tiếp thu tốt nội dung bài và vận dụng nhanh các quy
tắc, các thuật toán về 2 phép tính nhân, chia trong bảng cụ thể như sau:
Lớp
3A7
Số
học
sinh
40
Giáo
án số
Điểm 1-4
Bài
o
%
Điểm 5-6
Điểm 7-8
Điểm 9-10
Bài
%
học rút ra cho bản thân và đồng nghiệp.
- Tìm hiểu được cấu trúc nội dung chương trình sách giáo khoa toán 3 mới.
- Tìm hiểu được thực trạng việc dạy học các phép tính, thấy được những
ưu điểm, khuyết điểm, của giáo viên và học sinh từ đó rút ra một số đề xuất
nhằm hoàn thiện việc dạy học mạch kiến thức này.
- Tìm hiểu cách thiết kế một bài dạy theo hướng tích cực hoá hoạt động
học tập của học sinh, để mọi học sinh được hoạt động, tự chiếm lĩnh kiến thức
dưới sự hướng dẫn của giáo viên. Bước đầu thấy được một số kết quả nhất định
chứng tỏ tính khả thi và hiệu quả với phương pháp biện pháp đưa ra.
18
- Tìm hiểu thực trạng mạch kiến thức toàn tiểu học hiện nay ở các nhà
trường (nơi tôi công tác giảng dạy)
II. NHƯNG Ý KIẾN ĐỀ XUẤT:
Để nâng cao hiệu quả đào tạo thì mỗi giáo viên tiểu học cần nắm chắc
mục tiêu, nhiệm vụ và nội dung giáo dục
- Giáo viên tiểu học cần nắm vững nội dung, kiến thức của các mạch kiến
thức toàn tiểu học, biết vận dụng và thực hành tốt khi hương dẩn cho học sinh
- Tránh dạy chay, rập khuôn, máy móc, mà phải biết cách tổ chức để học
sinh tự tiếp cận và khám phá ra kiến thức mới.
- Cần đầu tư đổi mới trang thiết bị dạy học.
- Đổi mới cách đánh giá học sinh.
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ
Thanh Hóa, ngày 15háng 3 năm 2016
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của
mình viết, không sao chép nội dung của
người khác.