MỤC LỤC
STT
Nội dung
Trang
I
MỞ ĐẦU
2
1
Lí do chọn đề tài.
2
2
Mục đích nghiên cứu
2
3
Đối tượng nghiên cứu
2
3.1
Biện pháp 1
4
3.2
Biện pháp 2
7
3.3
Biện pháp 3
10
3.4
Biện pháp 4
14
3.5
Biện pháp 5
17
phát triển phẩm chất, đạo đức, tình cảm, thói quen cho trẻ em. Môn Tiếng Việt
hình thành và phát triển cho học sinh các kỹ năng sử dụng Tiếng Việt (nghe, nói
đọc, viết) nhằm từng bước giúp các em làm chủ dần công cụ ngôn ngữ để học tập,
giao tiếp. Môn Tiếng Việt còn luyện cho học sinh phương pháp suy nghĩ, các thao
tác tư duy cơ bản (phân tích, tổng hợp, phán đoán), giáo dục cho các em những
tình cảm tốt đẹp.
Trong môn Tiếng Việt ở Tiểu học, phân môn Luyện từ và câu giữ một vị trí
quan trọng. Phân môn này cung cấp các kiến thức sơ giản về tiếng mẹ đẻ, mở rộng,
hệ thống hóa vốn từ, rèn luyện cho học sinh kĩ năng đặt câu, sử dụng dấu câu phù
hợp, viết câu đúng ngữ pháp, dùng từ chuẩn xác, từ đó học sinh mới có thể viết văn
hay. Bên cạnh đó, việc chọn lọc từ viết câu còn hướng cho học sinh sử dụng tiếng
Việt văn hóa trong giao tiếp và giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt.
Tuy nhiên trong thực tế dạy học, tôi nhận thấy kĩ năng nói, viết câu của học
sinh còn nhiều hạn chế. Trong quá trình viết câu, viết văn nhiều em viết chưa rõ ý,
diễn đạt chưa trọn vẹn, viết câu thiếu thành phần, câu chưa gãy gọn và sử dụng sai
từ ngữ để viết câu dẫn đến câu sai về ý nghĩa. Trăn trở trước thực tế đó, tôi đã
mạnh dạn nghiên cứu và áp dụng đề tài “Xây dựng các dạng bài tập nhằm rèn kĩ
năng viết câu cho học sinh lớp 5A, trường Tiểu học thị trấn Rừng Thông, Đông
Sơn, Thanh Hóa” vào giảng dạy trong năm học 2015-2016.
2. Mục đích nghiên cứu: Thông qua đề tài giúp học sinh lớp 5 có kĩ năng
viết câu, từ đó, góp phần nâng cao chất lượng môn Tiếng Việt ở trường Tiểu học.
3. Đối tượng nghiên cứu: Học sinh lớp 5A, Trường Tiểu học Thị trấn Rừng
Thông, Đông Sơn, Thanh Hóa.
4. Phương pháp nghiên cứu: Phương pháp khảo sát, phương pháp thực
nghiệm, phương pháp phân tích - tổng hợp.
II. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM.
1. CƠ SỞ LÝ LUẬN.
Với lứa tuổi học sinh tiểu học, môn Tiếng Việt giữ vai trò đặc biệt quan trọng.
Việc dạy Tiếng Việt trong nhà trường nhằm tạo cho học sinh năng lực sử dụng
theo mức độ từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp, từ cụ thể đến trừu tượng, từ
nhận biết, phát hiện đến sử dụng vào việc nói, viết, đặt câu, viết đoạn văn.
b. Khó khăn:
* Đối với giáo viên:
- Tài liệu bồi dưỡng giáo viên có nhưng chưa nhiều, một số giáo viên dạy
viết câu cho học sinh chưa có hệ thống, chưa xây dựng các dạng bài cụ thể hoặc
khi học sinh mắc lỗi khi viết câu, giáo viên chưa quan tâm nhiều đến việc sửa sai
cho học sinh.
* Đối với học sinh:
- Học sinh nắm kiến thức ngữ pháp còn mơ hồ.
- Vốn từ vựng của học sinh còn nghèo nàn.
3
- Còn nhiều học sinh mắc lỗi cú pháp: viết câu chưa rõ ý, diễn đạt chưa trọn
vẹn, viết câu thiếu thành phần, câu chưa gãy gọn, không có dấu câu.
Kết quả khảo sát về kĩ năng sử dụng Tiếng Việt:
Câu thiếu
Viết câu
Viết câu
Diễn đạt câu
Số lượng
thành phần,
hay, đúng ngữ
đúng ngữ
chưa rõ ý
diễn đạt chưa
học sinh
pháp
pháp
giao tiếp sẽ tăng cao. Học sinh có nhận biết được câu đúng mới có thể nói đúng,
viết đúng. Vì vậy, nhận biết câu đúng để nói câu đúng, trọn câu là một yêu cầu cần
thiết.
Tuy nhiên, với học sinh tiểu học hiện nay, chưa nhận định đúng ranh giới
câu là một hiện tượng khá phổ biến, để khắc phục tình trạng này, trong tiết ôn, tôi
đã thiết kế hệ thống bài tập giúp học sinh xác định câu đúng, tạo câu đúng.
Kiểu bài cho sẵn các vị trí cần đánh dấu, yêu cầu các em chọn dấu thích hợp
để điền vào: Đây là kiểu bài đơn giản nhất của dạng bài tập này.
Ví dụ: Điền dấu thích hợp vào ô trống:
- Từ ngày còn ít tuổi tôi đã thích những tranh lợn gà chuột ếch tranh
cây dừa tranh tố nữ của làng Hồ
- Sân ga ồn ào nhộn nhịp đoạn tàu đã đến.
- Bố ơi bố đã nhìn thấy mẹ cha
- Đi lại gần nữa đi con
4
- A mẹ đã xuống kia rồi . [1]
Với loại bài này, khi học sinh còn nhầm lẫn, tôi hướng dẫn các em đọc kĩ
câu đã cho xem nội dung câu là kể, tả, nhận định, nêu cảm xúc, nêu điều muốn biết
hay nêu yêu cầu đề nghị để điền dấu vào cuối câu. Ở giữa câu, tôi nêu câu hỏi gợi
mở, đây là vị trí cần điền dấu ngăn cách giữa các bộ phận trong cùng một câu ta
thường dùng dấu gì, khi đó, học sinh sẽ tự làm được bài. Tuy nhiên ở bài này tôi
cũng lưu ý cho học sinh rằng với những câu khiến có nội dung đề nghị nhẹ nhàng
ta thường dùng dấu chấm ở cuối câu thay cho dấu chấm than, khi dùng dấu chấm
than, nội dung yêu cầu đề nghị trở nên cứng rắn, mạnh mẽ hơn. Sau khi tôi hướng
dẫn làm bài, học sinh đã điền đúng kết quả.
- Từ ngày còn ít tuổi, tôi đã thích những tranh lợn, gà, chuột, ếch, tranh cây
dừa, tranh tố nữ của làng Hồ .
Rừng núi còn chìm đắm trong màn đêm trong bầu không khí đầy hơi ẩm và lành
lạnh mọi người đang ngon giấc trong những chiếc chăn đơn bỗng một con gà
trống vỗ cánh phành phạch và cất tiếng gáy lanh lảnh ở đầu bản tiếp đó rải rác
khắp thung lũng tiếng gà gáy râm ran mấy con gà rừng trên núi cũng thức dậy gáy
te te trên mấy cây cao cạnh nhà ve đua nhau kêu ra rả ngoài suối tiếng chim cuốc
vọng vào đều đều đó đây bản làng đă thức giấc.[8]
- Ngắt đoạn văn sau thành các câu và chép lại cho đúng:
Ánh đèn từ muôn ngàn ô cửa sổ loãng đi rất nhanh ba ngọn đèn trên tháp phát
sáng đài truyền hình thành phố có vẻ bị hạ thấp và kéo lại gần mặt trời đang
chầm chậm lơ lửng như một quả bóng bay mềm mại.[8]
Sau khi luyện tập, tôi thấy hầu hết các em đã điền đúng vị trí các dấu câu và sử
dụng dấu câu đúng
* Kiểu bài tách đoạn văn thành các câu theo nhiều cách khác nhau:
Đây là kiểu bài khó nhất đối với học sinh.
VD: Dùng dấu chấm tách đoạn lời sau thành ba câu theo hai cách khác nhau và
viết hoa cho đúng:
Linh với Minh là đôi bạn thân từ nhỏ hai bạn học chung một lớp từ lớp Một đến
lớp Năm hai bạn đều đạt danh hiệu học sinh giỏi.[3]
Nhận được yêu cầu đề này, học sinh thường chỉ tìm được một cách tách đoạn thành
câu, do đó tôi phải hướng dẫn các em: với các cụm từ chỉ thời gian thường không
làm thành phần chính trong câu, do đó ta có thể xếp chúng vào cả câu trước lẫn
câu sau đều có nghĩa để được nhiều cách xếp. Kết quả, học sinh đã có thể xếp được
các cách như đề bài yêu cầu:
Cách 1: Linh với Minh là đôi bạn thân. Từ nhỏ, hai bạn học chung một lớp. Từ lớp
Một đến lớp Năm, hai bạn đều đạt danh hiệu học sinh giỏi.[3]
Cách 2: Linh với Minh là đôi bạn thân từ nhỏ. Hai bạn học chung một lớp, từ lớp
Một đến lớp Năm. Hai bạn đều đạt danh hiệu học sinh giỏi.[3]
* Kiểu bài cho từ, yêu cầu xếp thành câu:
VD: Ghép các bộ phận sau thành câu theo các cách có thể:
Trên cành, chim, líu lo, hót.[8]
Khái niệm về câu, kiến thức về các kiểu câu đã được hình thành từ những lớp dưới,
nhưng trong các tiết ôn tập về câu, tôi vẫn yêu cầu học sinh nhắc lại, củng cố khái
niệm tổng quát về câu, dấu hiệu nhận biết câu cũng như áp dụng dấu hiệu để đặt
câu đúng.
Dấu hiệu giúp ta nhận ra câu khi viết:
- Chữ cái đầu câu được viết hoa.
- Hết câu có một trong các dấu: chấm, chấm hỏi, chấm cảm, chấm lửng...”.
Để củng cố khái niệm về câu nêu trên, giúp học sinh nắm vững, nhớ lâu,
trong tiết ôn tôi đưa ra một đoạn lời, yêu cầu học sinh xác định đó có phải là câu
7
không? Giải thích lí do vì sao và chữa lại những đoạn lời chưa thành câu sao cho
thành câu.
Ví dụ: Trong những dòng sau đây, dòng nào chưa phải là câu? Vì sao? Hãy
viết lại cho thành câu:
a. Ngày 02 - 9 - 1945, Bác Hồ đọc tuyên ngôn độc lập.
b. Học sinh trường Tiểu học thị trấn.
c. Vui chơi trong sân trường.
d. Trên cánh đồng rộng mênh mông.[5]
Thực tế dạy dạng bài tập này tôi thấy khi làm bài có rất nhiều em cho rằng:
“Học sinh trường Tiểu học thị trấn; Trên cánh đồng rộng mênh mông” hoặc “vui
chơi trong sân trường”chính là câu.
Như vậy, khi nhận diện câu học sinh rất dễ bị nhầm lẫn trạng ngữ là câu,
nhầm cụm danh từ, cụm động từ, cụm tính từ là câu.
Để khắc phục tình trạng nhầm lẫn của học sinh, về nội dung các đoạn lời tôi
đưa ra để xét là câu hay chưa, tôi thường tập trung đề phòng lỗi này. Tôi cung cấp
cho học sinh “mẹo” nhỏ làm bài: Khi đề bài cho một cụm từ mở đầu bằng các từ:
Trên, dưới,trong, ngoài, khi, lúc, do, với, bằng, để… thì thường mới chỉ là trạng
6. Những cô bé ngày nay đã trưởng thành.[2]
Thc hin bi tp ny, hc sinh ó ỏp dng nhng kin thc tụi va cung cp
nhn bit cõu. Dũng cú trờn ng trc thỡ mi ch l trng ng ch cha l
cõu, on cú t y ng cui ch cú th lm ch ng ch khụng th l cõu, cũn
on cú t tr thnh ng cui, t ny khụng th ng c lp nh t trng
thnh m cn phi cú t h tr v mt ý ngha cho rừ: tr thnh cỏi gỡ, vỡ vy dũng
ny cng cha l cõu.
Cũng trên nguyên tắc dự phòng các lỗi đặt câu tụi ó xây dựng các bài tập thuc
dng chữa câu sai.
Ví dụ: Hãy chữa các câu sai dưới đây bằngcỏc cách khỏc nhau để được câu
đúng:
a. Khi em nhìn thấy ánh mắt thương yêu, trìu mến của Bác
b. Khi những hạt mưa đầu xuân nhè nhẹ rơi trên lá non
c. Những bông hoa dẻ ta hng thơm ngát ấy
d. Nhng chic lỏ non mi chui ra t lũng m y
Nhng hc sinh c nh trng khen thng v thnh tớch xut sc trong
hc tp v lao ng.[7]
Khi hc sinh ó nm c nguyờn nhõn vỡ sao cỏc dũng cha thnh cõu, vic
sa cho thnh cõu khụng cũn l vn quỏ khú. Vi bi tp trờn, cỏi hay, cỏi thỳ v
thu hỳt cỏc em l ch hng dn cỏc em sa bng nhiu cỏch. Cng trờn c s
yờu cu hc sinh nm chc v khỏi nim cõu, du hiu ng phỏp, ng ngha, tụi s
hc sinh tho lun nhúm tỡm ra nhiu cỏch sa phự hp:
VD: Dũng a: Yờu cu hc sinh tỡm ra 2 cỏch sa:
Cỏch 1: B t khi u cõu tc l ó chuyn t trng ng ca mt cõu
thnh cõu trn vn.
Cỏch 2: Thờm cm C-V vo dũng ó cho tc thờm cm C-V vo sau trng
ng.
9
Như sông, như núi, như người Việt Nam!
Có nơi đâu đẹp bằng quê hương ta! là câu hỏi.
Học sinh còn nhầm câu:
Mời anh vào nhà chơi là câu kể.
10
Hay nhm cõu k cú xut hin t nghi vn: Tụi bn khon khụng bit cõy ó
c nhum lỏ t bao gi m lỏ chuyn ht sang mu thnh cõu hi :
T thc t như vậy, để giỳp hc sinh xác định đúng các loại câu chia theo mục đích
nói, tin n vit ỳng cõu theo yờu cu, tụi ó hng dẫn học sinh căn cứ vào nội
dung, ý nghĩa của câu văn và những từ ngữ biểu lộ cảm xúc, t cm thỏn hoc du
hiu v du cõu nhn bit, xỏc nh.
VD: V ni dung, ý ngha thỡ cõu: Mẹ hỏi Cúc ở nhà có học bài không cú
ni dung trn thut li li ca m Cỳc nờn ú l cõu k.
Cõu: Có nơi đâu đẹp tuyệt vời
Như sông, như núi, như người Việt Nam!
Có nơi đâu đẹp bằng quê hương ta! bc l cm xỳc ca ngi núi nờn õy l cõu
cm.
Cõu: Mời anh vào nhà chơi chỉ sự mời mọc, đề nghị nờn l cõu khin.
Trong cỏc tit ụn tp bui 2, tụi xõy dng h thng bi tp t d n khú hc
sinh lm quen thc hin.
Kiu bi tp nhn din cõu:
VD: Nhng cõu no trong on vn sau l cõu k, cõu cm, cõu khin:
Ra n b sụng, Ton bo tụi v Tun:
- Xung tm i!
Cu ta nhy xung trc ri xuýt xoa:
- ễi, mỏt quỏ! Mỏt quỏ!
Ln ngp mt lỳc, Tun nhy lờn b, kờu thng tht:
VD: Cõu Lan mi Hu vo nh chi khi no l cõu k, khi no l cõu khin? [1]
Hoc: Trong trng hp no thỡ cõu Em mi cụ giỏo n nh em chi l cõu k,
trng hp no l cõu khin?[1]
Gp bi dng ny hc sinh s rt lỳng tỳng, gii quyt c, cỏc em cn
cú kin thc tng hp, cú k nng giao tip, c tri nghim thc t giao tip, bi
mun xỏc nh kiu cõu cn phi xột trong hon cnh giao tip, ai núi vi ai, vi
ngi núi khỏc nhau thỡ nú s thuc vo nhng kiu cõu cú mc ớch núi khỏc
nhau. Bc u tụi gi nhúm 3 hc sinh, i tờn trong bi thnh tờn hc sinh
trong nhúm, sau ú cho hc sinh ln lt núi vi nhau cõu vn ó i tờn. Qua thc
t, hc sinh s hiu mi ngi khi núi ra cõu ny nhm mc ớch gỡ, thụng bỏo, k
hay mi cho, ngh, khi ú cỏc em d dng xỏc nh kiu cõu:
-Lan mi Hu vo nh chi l cõu k trong trng hp Lan núi vi Mai,
o
-Lan mi Hu vo nh chi l cõu khin trong trng hp Lan núi vi
Hu.
Tng t, cõuEm mi cụ giỏo n nh em chi l cõu khin trong trng
hp l cõu ca hc sinh núi vi cụ giỏo ngi cú th thc hin hnh ng n
chi, cũn núi vi ngi khỏc, nú l cõu k.
*Kiu bi tp chuyn i cõu hoc to cõu:
Chuyển đổi các câu hoặc cho một cm chủ ngữ - vị ngữ, yêu cầu học sinh tạo thành
các kiểu câu kể, cảm, hỏi, cầu khiến giúp cho học sinh mở rộng thêm vốn từ, mối
liên hệ giữa các loại câu và có kỹ năng đặt câu, phát triển óc tư duy.
Ví dụ 1: Hãy chuyển các câu kể sau thành câu hỏi, câu cảm, câu cầu khiến.
-
12
- Trăng đã lên.
Hôm nay thi toán.
- My gi b i thm ụng b.
- My gi hai b con i thm ụng b.
giỳp hc sinh sa nhng li ny, tụi lm nhng vic sau:
- Cng c kin thc lp 4, dn cỏc em phi bỏm sỏt vo hon cnh giao tip
ó cho trong bi, c k yờu cu t cõu vi mc ớch gỡ t cõu khụng quỏ lch
13
so vi bi: Hi xem my gi hai b con i thm ụng b ch khụng hi my
gi.
- Dn cỏc em dựng du cõu phự hp v cn th hin phộp lch s khi hi
ngi ln tui, cú t xng hụ phự hp mi quan h: B i, my gi hai b con i
thm ụng b ?
- Sa cõu cho cỏc em ngay ti lp v cng c dng ny bng h thng bi tp
trong tit ụn.
VD: - Hóy t mt cõu hi yờu cu bn cho mỡnh mn cun sỏch.
- Nh bn ging cho bi toỏn.
- Nhc bn b rỏc vo thựng.
- Thỏn phc trc ch vit p ca bn.
- Hi c gi khi mun giỳp c sang ng.[7]
Sau khi hng dn chung v sa li cho cỏc em sai, tụi thy hc sinh ó t
cõu theo hon cnh giao tip tng i chớnh xỏc. Cỏc em khụng ch gii quyt
ỳng cỏc bi tp m cũn bit la chon ngụn ng giao tip thc t mt cỏch linh
hot phự hp v t nh.
3.4. Bin phỏp 4: Rốn k nng vit cõu qua dng bi nhn din thnh
phn cấu tạo của câu, vit cõu ỳng cu to.
Như chúng ta biết, cõu gm hai b phn chớnh: chủ ngữ - vị ngữ. Hai b
phn ny là hai bộ phận quan trọng không thể thiếu trong quá trình nói - viết câu.
Bên cạnh đó, câu còn có bộ phận phụ bổ sung ý nghĩa cho nòng cốt câu, làm cho
- Khụng cú du phy ngn cỏch gia ch ng v v ng ca mt v cõu, do
ú mo l cn c vo v trớ cỏc du phy xỏc nh thnh phn cõu:
VD:
Nhng con d b sc nc long chong bũ ra khi t,
Nhng con d b sc nc, long chong bũ ra khi t.
cõu th nht: Nhng con d b sc nc l ch ng nhng iu ny
khụng cũn ỳng vi cõu th hai bi khụng bao gi cú du phy ngn cỏch gia
ch ng v v ng ca mt v cõu , m cõu 2 li xut hin du phy, õy l du
phy ngn cỏch cỏc b phn cú cựng chc v trong cõu (v ng song song), cõu vn
ny mun thụng bỏo 2 ni dung: trng thỏi b sc nc v hot ng bũ ra khi t
ca cỏc con d nờu ch ng, do ú v ng ca cõu 2 l: b sc nc, long
chong bũ ra khi t. Sau khi ó cng c kin thc v cung cp cỏc mo lm bi,
tụi s a ra cho hc sinh h thng bỡ tp rốn k nng.
* Kiu bi ch mt cỏch hiu phõn tớch cõu:
VD: Xỏc nh cỏc b phn ch ng, v ng, trng ng ca cỏc cõu sau:
- Trong búng nc lỏng trờn mt cỏt nh gng, nhng con chim bụng bin
trong sut nh thy tinh ln trũn trờn nhng con súng.
- Vào một đêm cuối xuân năm 194, khoảng hai giờ sáng, trên đường đi công
tác, Bác Hồ đến nghỉ chân ở một nhà bên đường.[3]
- Mùa đông, giữa ngày mùa, làng quê toàn màu vàng.
- Hoa loa kèn mở rộng cánh, rung rinh dưới mặt nước.
- Sóng nhè nhẹ liếm trên bãi cát, tung bọt trắng xoá
15
- Sãng nhÌ nhÑ liÕm trªn b·i c¸t, bät tung tr¾ng xo¸.[8]
- Ngoài đường, tiếng mưa rơi lộp độp, tiếng chân người chạy lép nhép.
- Tiếng suối chảy róc rách.
- Mỗi lần Tết đến, đứng trước những cái chiếu bày tranh làng Hồ rải trên
VN
16
Hoa/ mua ở bên đường. (Hoa được mua từ người bán bên đường)[7]
CN
VN
Sau khi nắm đượccách làm, học sinh sẽ dễ dàng giải quyết các bài tương tự.
3.5. Biện pháp 5: Rèn kĩ năng viết câu có sử dụng các biện pháp nghệ
thuât:
Với yêu cầu hiện nay của chương trình, việc học sinh viết đúng câu
chưa đủ mà còn yêu cầu các em phải viết hay. Viết được câu hay các em mới
có được những bài văn hay. Tuy nhiên trên thực tế, tôi nhận thấy các em viết
còn khô khan, việc sử dụng từ ngữ còn vụng về, chưa biết sử dụng các biện
pháp tu từ để gợi tả nên câu văn chưa có “hồn”. Vì vậy ngoài những biện
pháp đã thực hiện để giúp các em viết đúng, tôi thiết kế các kiểu bài tập để
từng bước rèn cho các em kĩ năng viết hay.
* Kiểu bài nhận diện các biện pháp nghệ thuật có trong bài (đoạn) văn
thơ:
VD: Khi dạy bài 15B (Tài liệu hướng dẫn học Tiếng Việt 5 tập 1B trang 87),
qua bài tập đọc tôi yêu cầu học sinh tìm các hình ảnh nhân hóa, so sánh có trong
bài, nêu tác dụng của từng biện pháp nghệ thuật đó.
Hoặc khi học bài Cửa sông (Bài 25B - Tài liệu hướng dẫn học Tiếng Việt 5
tập 2A trang 119), tôi yêu cầu học sinh tìm các hình ảnh nhân hóa có trong khổ thơ
cuối.
Đây là kiểu bài đơn giản nhất, đề bài cho các đoạn văn thơ có sẵn các biện pháp
nghệ thuật, học sinh chỉ cần chỉ ra biện pháp nghệ thuật đó. Sau khi tìm hiểu nội
dung bài tập đọc, tôi gợi ý các em đọc kĩ bài và học sinh đã phát hiện ra các biện
pháp nghệ thuật trong bài.
tính nghệ thuật nhưng không xa rời thực tiễn, vụng về để miêu tả về sự vật cho
trong câu ban đầu được hay hơn. Quan trọng nhất của dạng bài này là hướng dẫn
và chữa lỗi, nhận xét trực tiếp trên từng bài của học sinh. Các em đã viết thành
thạo các câu có chứa biện pháp nghệ thuật nhân hóa, so sánh
4. KẾT QUẢ
Trong quá trình bồi dưỡng kiến thức và kỹ năng ngữ pháp cho học sinh Tiểu
học bằng các dạng bài tập phân loại cụ thể như trên, tôi thấy: Học sinh đã thích học
ngữ pháp, trong các tiết học lý thuyết cũng như thực hành và bồi dưỡng, học sinh
hăng say phát biểu, các em được rèn kĩ năng viết câu, từ đó các em mới có kĩ năng
viết đoạn, bài và ứng dụng trong giao tiếp một cách thuận lợi.
Qua thực tế giảng dạy và qua các lần kiểm tra, tôi thấy việc nắm kiến thức
ngữ pháp và sử dụng các đơn vị ngữ pháp ngày càng tốt hơn và đến bây giờ kết
quả tăng lên rõ rệt so với lần đầu năm:
Viết câu
Câu thiếu thành
Số lượng
Viết câu đúng Diễn đạt câu
hay, đúng ngữ
phần, diễn đạt
học sinh
ngữ pháp
chưa rõ ý
pháp
chưa gãy gọn
khảo sát
SL
TL
SL
TL
cách hoàn toàn thoải mái. Các em có được niềm vui khi học, những kiến thức các
em học được dễ dàng ứng dụng vào bất cứ lúc nào.
- Qua thời gian áp dụng sáng kiến cho học sinh đại trà đạt kết quả như vậy,
trong thời gian tới tôi có hướng phát triển sáng kiến, mở rộng và sâu thêm về mặt
nội dung và đối tượng, nhằm bồi dưỡng học sinh có năng khiếu về môn Tiếng Việt,
giúp các em có khả năng viết câu tốt, tiến tới viết đoạn bài và những tác phẩm
bước dầu mang tính nghệ thuật.
2. Kiến nghị:
Để SKKN đạt hiệu quả cao hơn tôi có một số đề xuất sau:
a. Về phía giáo viên: Để giúp học sinh nắm vững kiến thức ngữ pháp không
chỉ một ngày, hai ngày, giờ học này hay giờ học khác mà là cả một quá trình.
Ngoài giờ học chính, giáo viên còn có thể bồi dưỡng thêm ở các tiết học tăng buổi,
đề có thể lồng ghép các nội dung ngữ pháp vào nội dung tiết học đó, buổi học đó.
- Giáo viên phải nắm vững kiến thức ngữ pháp, phải có kĩ năng phân tích
các dơn vị ngữ pháp thành thạo mới hướng dẫn, bồi dưỡng ngữ pháp cho các em.
- Để học sinh giải được các bài tập ngữ pháp, giáo viên phải đưa ra được các
lưu ý, các điều dễ sai, dễ nhầm.
- Một điều có tầm quan trọng rất lớn, ảnh hưởng rất lớn đến việc rèn luyện
kỹ năng ngữ pháp cho học sinh, cũng như đạo đức cho học sinh là giáo viên phải
nói, viết đúng ngữ pháp ở mọi tình huống, hoàn cảnh.
b. Về phía nhà trường và các cấp quản lí:
- Cần mua sắm bổ sung thêm tài liệu dạy học.
19
- Tổ chức hiệu qủa các buổi sinh hoạt chuyên môn trường, cụm trường.
Trên đây là một vài ý kiến nhỏ của bản thân nhằm bồi dưỡng kiến thức và kỹ
năng ngữ pháp cho học sinh Tiểu học.Với khả năng còn hạn chế, những suy nghĩ
và cách làm của tôi chắc chắn không thể tránh khỏi thiếu sót. Rất mong được sự
đóng góp, bổ sung của các đồng nghiệp và bạn đọc để sáng kiến của tôi có thể
21