Kinh nghiệm bồi dưỡng học sinh giỏi cấp tỉnh lớp 9 kỹ năng viết bài nghị luận về vấn đề lý luận văn học đặt ra trong tác phẩm - Pdf 44

1. MỞ ĐẦU
1.1. Lí do chọn đề tài
Công tác bồi dưỡng học sinh giỏi là một nhiệm vụ rất quan trọng, đầy những
khó khăn, bởi vì học sinh giỏi Văn là những học sinh có tố chất đặc biệt khả năng
cảm thụ, khả năng tư duy và nhất là khả năng viết. Hơn nữa bồi dưỡng học sinh
giỏi không có một giáo án, một mô típ chung nào mà hoàn toàn dựa vào kinh
nghiệm, sự nỗ lực tìm tòi không ngừng của thầy cô. Người giáo viên phải có quá
trình tích lũy kinh nghiệm, sự chuẩn bị và đầu tư nhiều hơn để có thể đạt hiệu quả
và thuyết phục học sinh, làm cho các em thực sự hứng thú và tin tưởng.
Và đối với cuộc đời người giáo viên quả thực, chẳng gì có thể diễn tả hết niềm
vui sướng và tự hào khi thành quả lao động của mình đạt kết quả cao, nhất là chất
lượng mũi nhọn. Vì vậy, trong quá trình giảng dạy học sinh nói chung, bồi dưỡng
học sinh giỏi nói riêng, giáo viên luôn dày công, dốc sức tìm tòi sáng tạo không
ngừng để có phương pháp và cách thức ôn luyện hiệu quả nhất. Sự gian nan ấy
được khẳng định bằng kết quả của mỗi kì thi, mỗi con điểm, mỗi giải mà các em
đạt được.
Những năm gần đây, hoà cùng dòng chảy đổi mới giáo dục, đổi mới kiểm tra,
đánh giá nhằm phát triển toàn diện ở học sinh về kiến thức, kĩ năng, đề thi Học
sinh giỏi Tỉnh môn Ngữ văn lớp 9 có nhiều đổi mới. Kiểu bài nghị luận xã hội và
nghị luận văn học là hai dạng bài thường gặp trong đề thi. Các dạng bài nghị luận
văn học các em thường gặp đó là nghị luận về một tác phẩm; Nghị luận về một
nhân vật; Nghị luận về một khía cạnh, phương diện nội dung và hình thức của tác
phẩm; Nghị luận về một vấn đề lý luận văn học đặt ra trong tác phẩm... Trong đó
kiểu bài: Nghị luận về vấn đề lý luận văn học đặt ra trong tác phẩm chiếm ưu thế
lớn. Với dạng đề này, giáo viên bồi dưỡng và nhất là học sinh gặp nhiều khó khăn.
Bởi dạng bài yêu cầu các em không chỉ cảm thụ được tác phẩm mà còn phải có
kiến thức lý luận văn học nhất định để từ đó biết vận dụng khả năng quan sát, phát
hiện, suy ngẫm và có kỹ năng dựng đoạn, diễn đạt và hoàn thiện bài viết. Trong khi
đó, chương trình Ngữ văn THCS phần kiến thức lí luận cũng như kiểu bài này gần
như các em không được trang bị nên mảng kiến thức về lí luận văn học nhiều học
sinh còn mơ hồ. Vì vậy, các em trong đội tuyển mà tôi phụ trách làm bài còn nhiều

2


2. NỘI DUNG
2.1. Cơ sở lý luận của Sáng kiến kinh nghiệm
2.1.1. Đặc trưng của bài nghị luận văn học.
* Khái niệm: Văn nghị luận là loại văn được viết nhằm xác lập cho người
nghe, người đọc một tư tưởng, quan điểm nào đó. Văn nghị luận phải có luận điểm
rõ ràng, có lí lẽ, dẫn chứng thuyết phục. Những tư tưởng, quan điểm trong bài văn
nghị luận phải hướng tới giải quyết những vấn đề đặt ra trong cuộc sống, xã hội thì
mới có ý nghĩa.
- Thông thường, nghị luận văn học có dạng cơ bản: nghị luận về một đoạn thơ,
bài thơ và nghị luận về một tác phẩm truyện (hoặc đoạn trích). Tuy nhiên, đối với học
sinh giỏi đề không chỉ dừng lại ở đó mà thường gắn với các vấn đề sau:
+ Nghị luận về một giai đoạn văn học.
+ Nghị luận về một vần đề mang tính lý luận được đặt ra trong tác phẩm.
+ Nghị luận về một vấn đề trong tác phẩm văn học
+ Nghị luận về một vấn đề mang tính chất so sánh đối chiếu trong văn học.
- Những thao tác chính của văn nghị luận văn học: giải thích, chứng minh,
phân tích, bình luận, bình giảng, so sánh,…
2.1.2. Đặc trưng kiểu bài nghị luận về vấn đề lý luận văn học đặt ra trong
tác phẩm.
Đây là kiểu bài đưa ra các ý kiến bàn về những đặc trưng cơ bản của văn học,
các thể loại tiêu biểu như truyện, thơ, kịch,… các vấn đề thuộc phạm vi lý luận văn
học như tiếp nhận văn học, phong cách nghệ thuật,… Để viết được bài văn hay và
đúng cho kiểu bài này, học sinh cần có kiến thức lí luận sâu sắc để giải thích, cắt
nghĩa và làm nổi bật vấn đề nghị luận.
* Rèn kĩ năng viết bài nghị luận về một vấn đề lí luận văn học đặt ra trong tác
phẩm là phát huy năng lực và tư duy cho học sinh. Để rèn luyện được kiểu bài này
đòi hỏi học sinh:

xác, đầy đủ các nội dung theo yêu cầu đề bài, hoặc viết còn rất sơ sài, chung
chung…. Và kết quả trong các kỳ thi học sinh giỏi đã cho thấy rõ điều đó.
* Theo tôi có nhiều nguyên nhân các em không làm tốt dang bài này bởi:
- Trong bộ môn Văn học thì phần Lí luận văn học thực sự khó hơn cả vì nó
đòi hỏi người học phải có một trình độ tư duy và kiến thức nền tảng nhất định.
Đứng trước thực tế này, cả người dạy và người học đều gặp những thách thức.
- Các em không được học lí luận văn học cũng như kiểu bài nghị luận này
trong chương trình chính khóa. Mặt khác đây lại là kiểu bài đòi hỏi yêu cầu cao:
cách viết, diễn đạt, khả năng tư duy tổng hợp.
- Các tài liệu hướng dẫn cũng như viết về dạng bài này để tham khảo cũng
rất hạn chế nên các em chưa được tiếp cận.

4


Qua khảo sát với số lượng học sinh khá và giỏi gồm 35 em trong đội tuyển
của huyện đang ôn luyện cho kì thi học sinh giỏi tỉnh năm học 2014-2015 khi chưa
được tôi hướng dẫn kỹ năng làm kiểu bài này thì kết quả như sau:
Phân loại
Lớp
35

Giỏi
SL

Khá
%

SL


là tồn tại dưới dạng nguyên lý nên thường khô khan, khái quát, trừu tượng, khó
hiểu, khó có thể gây hứng thú cho học sinh trong quá trình tiếp nhận. Vì vậy trong
quá trình bồi dưỡng cho học sinh, tôi đã cố gắng diễn giải lại một cách đơn giản
nhất, dễ hiểu nhất.
+ Mặt khác, tôi in thành tài liệu cho học sinh đọc và tìm hiểu trước theo định
hướng trước với mục đích để học sinh bước đầu có những hiểu biết nhất định
những nội dung chính của từng chuyên đề.
+ Tiếp theo, trong quá trình tự nghiên cứu, học sinh sẽ ghi nhận lại những từ
ngữ, khái niệm, thuật ngữ khó hiểu, những nguyên lý còn cảm thấy mơ hồ để sau
đó sẽ trao đổi trong nhóm học tập với nhau hoặc trao đổi lại với giáo viên nếu thấy
cần thiết.
+ Khi học sinh hiểu rõ các vấn đề lí luận cần thiết rồi thì sẽ được tôi yêu cầu
trình bày lại kiến thức mình đã nắm bắt được thông qua những hình thức như
thuyết trình trước lớp học, viết bài kiểm tra trên giấy… Khi đó, học sinh sẽ tái hiện
5


kiến thức theo cách hiểu của mình, tôi sẽ bổ sung nếu chưa đầy đủ, sẽ sửa chữa nếu
các em hiểu chưa đúng…
Ví dụ: Một số chuyên đề lý luận văn học cơ bản mà tôi đã bồi dưỡng, trang
bị cho học sinh đội tuyển của mình như: Đặc trưng văn học, đặc trưng thể loại;
Phong cách nghệ thuật; Bản chất của lao động nghệ thuật; Giá trị và chức năng của
văn học, vai trò của văn học đối với đời sống; Nhân vật trong tác phẩm văn học...
* Cứ như vậy tôi cung cấp, trang bị kiến thức lí luận văn học cho các em một
cách thật nhẹ nhàng, tự nhiên không khiên cưỡng. Vốn kiến thức các em ngày càng
được bồi đắp, mở rộng dần và trên nền nắm những kiến thức lí luận cơ bản nhất các
em có thể áp dụng làm nhiều đề khác nhau. Như vậy, qua lí luận văn học học sinh có
căn cứ khoa học để hiểu sâu hơn tác phẩm, từ lí luận để tiếp cận và phân tích
tác phẩm văn học, gắn lí luận văn học với việc cảm thụ cái hay cái đẹp của tác
phẩm.

luận văn học… Vì vậy vấn đề nghị luận nằm ngay trong nhận định ấy. Nếu không
tìm hiểu, phân tích kĩ đề học sinh sẽ không xác định đúng vấn đề nghị luận.
+ Việc đầu tiên là tôi yêu cầu học sinh đọc thật kĩ đề, gạch dưới những từ ngữ
quan trọng để “hiểu ý người ra đề”.
Ví dụ:
Đề bài: “Một tác phẩm để lại ấn tượng sâu đậm trong lòng bạn đọc chính là
xây dựng thành công tình huống truyện và nghệ thuật miêu tả nội tâm nhân vật”.
Bằng những hiểu biết của em về văn bản Làng của nhà văn Kim Lân, hãy làm
sáng tỏ nhận định trên.
+ Sau khi gạch chân những từ ngữ quan trọng học sinh sẽ dễ dàng xác định được
vấn đề nghị luận của đề trên là: Chứng minh sự thành công Tình huống truyện và Nghệ
thuật miêu tả nội tâm nhân vật trong tác phẩm Làng.
* Như vậy, rõ ràng điều quan trọng của phân tích đề là phải tìm ra được vấn
đề nghị luận. Nếu học sinh xác định đề sai thì toàn bộ những lập luận sẽ hướng vào
vấn đề sai đó. Hơn nữa, phân tích đề đúng mới giải thích đúng những từ ngữ quan
trọng và xác định đúng hệ thống luận điểm, luận cứ của bài viết. Vậy nên phân tích
đề có vai trò định hướng chuẩn cho bài viết. Bước này như tìm ra sợi chỉ đỏ - vấn
đề nghị luận “ đan” xuyên suốt bài viết.
Bước 2: Tìm ý
- Dùng những câu hỏi tìm ý để xác định luận điểm, luận cứ.
- Câu hỏi phải phù hợp với yêu cầu cụ thể của đề bài.
Ví dụ:
(?) Ý kiến, nhận định trong đề bài đề cập đến vấn đề gì, thuộc phạm vi nào?
(?) Những thuật ngữ, những khái niệm lí luận văn học nào cần cắt nghĩa, giải
thích? Câu nói ấy có ý nghĩa như thế nào?
(?) Nội dung ấy được biểu hiện như thế nào qua tác phẩm văn học tiêu biểu?
(?) Chứng minh nhận định bằng một tác phẩm hay một nhóm tác phẩm với hệ
thống luận điểm, luận cứ nào?
7


(Trích Tiếng nói của văn nghệ, SGK Ngữ văn 9, Tập hai, NXB Giáo dục,
2011, tr.12 -13).

8


Em hiểu thế nào là điều mới mẻ, lời nhắn nhủ trong quan niệm của Nguyễn
Đình Thi? Qua bài thơ Ánh trăng, em hãy làm rõ điều mới mẻ và lời nhắn nhủ mà
nhà thơ Nguyễn Duy muốn góp vào đời sống.
Dàn bài cần trình bày được các ý cơ bản sau:
Dàn
bài
khái
quát

MỞ
BÀI

Nội dung

Giới
- Văn học là tấm gương phản ánh hiện thực qua lăng
thiệu
kính chủ quan của các tác giả. Cho nên đến với mỗi tác
khái
phẩm văn học người đọc không chỉ thấy được bức tranh
quát về hiện thực mà còn thấy tâm tư, tình cảm, thấy những điều nhà
vấn đề văn muốn nói, muốn gửi tới bạn đọc.
nghị
- Vì thế nhà văn Nguyễn Đình Thi viết: “ Tác phẩm…

9


mới mẻ

lời
nhắn
nhủ của
Nguyễn
Duy qua
Ánh
trăng
(4,0
điểm)

Chí Minh. Bài thơ vừa mang đến điều mới mẻ, vừa là lời
nhắn nhủ sâu sắc của Nguyễn Duy về thái độ sống của con
người.
- Điều mới mẻ mà Nguyễn Duy thể hiện qua Ánh trăng
(2,0 điểm)
Trăng là đề tài quen thuộc của thơ ca xưa nay, nhưng
Nguyễn Duy vẫn có những cảm nhận và cách thể hiện riêng.
+ Bài thơ Ánh trăng mới mẻ ở nội dung:
Trăng được thể hiện như là biểu tượng cho vẻ đẹp
bình dị mà vĩnh hằng của thiên nhiên, theo nhân vật trữ tình
từ thời thơ ấu bình yên đến những ngày chiến tranh ở rừng.
Vì thế, trăng còn là biểu tượng của quá khứ gian khó mà
tươi đẹp, của nghĩa tình thắm thiết, đằm sâu với quê hương,
đồng đội, bạn bè.
Trăng còn được Nguyễn Duy đặt vào trong mối quan

điểm)

- Chính những khám phá mới mẻ về nội dung nghệ thuật,
chính thông điệp giàu tính nhân văn đã làm nên sức sống
của bài thơ và phong cách nghệ thuật của nhà thơ Nguyễn
Duy. Đó đồng thời là bản chất của sáng tạo nghệ thuật, là
yêu cầu đối với mỗi người nghệ sĩ (bài học về sáng tạo).
- Bài thơ không phải là một sản phẩm của triết lý khô khan,
lời nhắn nhủ phải được thể hiện với tính nghệ thuật mới có
khả năng lay động. Điều đó cũng đòi hỏi độc giả phải là
người đồng sáng tạo để cảm nhận được những thông điệp
mà người nghệ sĩ muốn gửi tới (bài học về tiếp nhận).
KẾT
Khẳng
- Tác phẩm văn học nghệ thuật không chỉ là bức tranh đời
BÀI
định lại sống mà qua bức tranh ấy nhà văn muốn đem đến cho người
vấn đề đọc nhiều điều thú vị, mới mẻ, một lời nhắn nhủ chân thành,
nghị
sâu sắc hay một triết lí đời sống. Nó làm cho trái tim người
luận và biết rung động trước cái đẹp, biết yêu ghét, tốt sấu, biết
cảm
vươn tới những gì đẹp nhất, tốt nhất của đời sống...
nghĩ
- Mỗi tác phẩm - một viên ngọc quý, hãy biết đón nhận, trân
bản
trọng, giữ gìn như chính cuộc sống của mình.
thân
Bước 4 : Viết thành văn bản hoàn chỉnh
- Dựa vào dàn ý đã lập viết thành văn bản có 3 phần : mở, thân , kết bài.

của mình về ý kiến trên.
Đề 4: ( Đề thi HSG tỉnh Thanh Hóa năm học 2016-2017)
Trong Tiếng nói của văn nghệ, Nguyễn Đình Thi viết:
“Mỗi tác phẩm lớn như rọi vào bên trong chúng ta một ánh sáng riêng...”
(SGK Ngữ văn 9 - tập 2, trang 14)
Hãy làm rõ ánh sáng riêng mà bài thơ Ánh trăng của Nguyễn Duy đã rọi vào
tâm hồn em.
* Viết đoạn mở bài:
Đây là kĩ năng quen thuộc học sinh đã được rèn rất nhiều từ những bài học của
thầy cô. Tuy nhiên rất nhiều học sinh giỏi khi làm phần này mặc dù dẫn dắt tốt, cảm
xúc trong sáng ... thế nhưng các em cứ đi lòng vòng, diễn giải men theo nhận định, ý
kiến mà không sao đưa được nhận định- vấn đề nghị luận vào phần mở bài. Với học
sinh giỏi thường mở bài gián tiếp qua những cách : diễn dịch, quy nạp, tương đồng,
tương phản. Dù bằng cách nào, tôi thường yêu cầu bắt buộc học sinh trong phần mở
bài cần đảm bảo được:
+ Dung lượng của phần mở bài phải tương ứng với khuôn khổ của bài viết và
phải cân đối với phần kết bài.

12


+ Trong đoạn văn mở bài học sinh phải nêu được ý kiến, nhận định, tác giả,
tác phẩm, nhân vật... nghĩa là phải đưa được vấn đề vấn đề nghị luận vào mở bài.
+ Đây là phần phải tạo được ấn tượng ban đầu, tạo được âm hưởng chung,
định hướng chung cho cả bài viết và cuốn hút, thuyết phục được người đọc. Muốn
vậy mở bài cần đảm bảo được các yếu tố: ngắn gọn, đầy đủ, độc đáo tự nhiên,
giàu xúc cảm.
- Các mở bài minh họa
+ Mở bài đề 2: (Đề thi HSG tỉnh Vĩnh Phúc năm học 2013 -2014)
Văn chương có hơi ấm của lòng người như một cánh nôi trĩu nặng tình thương

đoạn văn phần thân bài phải luôn luôn lấy nhận định làm sợi chỉ đỏ xuyên suốt cả
bài văn. Tức là phải lấy các “từ ngữ then chốt” trong nhận định nêu lên vấn đề nghị
luận để dẫn dắt và chốt, tiểu kết các đoạn văn. Có như vậy bài viết mới làm nổi bật
vấn đề lí luận- vấn đề nghị luận và có sự liên kết liền mạch. Vấn đề nghị luận như
được “chảy” tiếp nối từ luận điểm này sang luận điểm khác, từ đoạn văn này sang
đoạn văn khác. ( Đây là kỹ năng mà nhiều giáo viên và học sinh không quan tâm
nhưng với tôi đây lại là kỹ năng quyết định sự thành công của bài viết nên tôi luôn
yêu cầu khắt khe và đầu tư thời gian để rèn luyện kỹ năng này cho học sinh đội
tuyển của mình)
- Không những thế, tôi luôn tâm niệm và bồi dưỡng, hướng dẫn, yêu cầu học
sinh của mình khi làm dạng đề này: để viết phần thân bài hấp dẫn, có sức thuyết
phục thì trong quá trình viết bài bên cạnh sự sắc bén, chặt chẽ trong lập luận,
người viết cần thể hiện những xúc động chân thành, tha thiết của bản thân trước
những hình ảnh thơ đẹp, những ý văn hay để lời văn giàu cảm xúc. Bởi như đã nói
ở trên, yếu tố miêu tả, biểu cảm trong bài văn nghị luận tạo nên sức ngân vang rất
lớn trong lòng người đọc.( Đây là kỹ năng tôi đặc biệt chú ý rèn luyện cho học
sinh để biến kiến thức lí luận vốn mang tính nguyên lí khó hiểu, khô khan...trở nên
có sức sống xanh tươi trong lòng bạn đọc)
- Các đoạn thân bài minh họa.
+ Đoạn văn thân bài giải thích ý kiến, nhận định đề 3. (Đề thi HSG tỉnh
Thanh Hóa năm 2014-2015)
Lời nhận định của Nguyễn Đình Thi như chứa chan lên từ tận đáy lòng văn
chương say đắm. “Tác phẩm nghệ thuật là kết tinh tâm hồn người nghệ sĩ” , đúng
vậy, văn nghệ là những cung đàn thăng hoa nhất, khi con tim nghệ sĩ rung động
mãnh liệt nhất, khi tâm lòng khao khát nhất, khi linh hồn họ như một cánh bướm
non thoát ra khỏi cánh kén bao vây vô giác, va chạm với sự sống tinh khiết ở bên
ngoài mà rung lên những dư ba xúc cảm. Tác phẩm là đứa con tinh thần được chắt
chiu bằng tình yêu, ao ước, trăn trở của nghệ sĩ, là một phần, một mảnh ghép tâm
hồn họ, những con chữ đều nhuộm màu tấm lòng thương yêu của họ, nhuộm
14

“bể”, mở ra không gian đồng quê mênh mông, bát ngát, bao la, rộng lớn. Thời gian cứ
ào ạt rời đi, để khi chiến tranh “ở rừng” không biết tự bao giờ, “trăng” đã “thành tri
kỷ” gắn bó thân thương. Trăng soi tỏa chiến sĩ giữa đường hành quân, trăng làm bạn
những đêm “rừng hoang sương muối” “Đầu súng trăng treo”, trăng cùng người lính
15


vượt qua bao khó khăn, vất vả, gian nan. Sự “kết tinh trong tâm hồn” Nguyễn Duy là
sự tình nghĩa, thủy chung, sắc son. Bạn đọc cảm nhận rõ “sự sống” đang bung tỏa
trong lòng tác giả.
( Đoạn văn trích của Trịnh Thu trang - Lớp 9B - Trường THCS Lê Đình Kiên
- HS đạt giải Nhì cấp Tỉnh - Năm học 2014-2015)

*. Viết kết bài:
- Nhiệm vụ của phần này là khẳng lại vấn đề nghị luận, phát biểu cảm nghĩ
hoặc liên hệ bản thân từ vấn đề nghị luận.
- Khi viết cần chú ý cân xứng với mở bài đặc biệt tạo được dư âm sâu lắng
bằng cảm xúc, suy nghĩ chân thành tha thiết.
- Có nhiều cách kết bài : tổng kết, mở rộng vấn đề, nêu bài học, lên tưởng.
Một kết bài hay là kết bài không chỉ khái quát được vấn đề mà còn gợi mở, liên
tưởng nhiều chiều cho người đọc.
- Các kết bài minh họa.
+ Kết bài đề 3 : (Đề thi HSG tỉnh Thanh Hóa năm học 2013 -2014)
“Ánh trăng” vừa là “sự kết tinh tâm hồn” vừa là “sợi dây truyền cho người
đọc sự sống”. Yêu tác phẩm hay cũng là ta yêu chính tâm hồn nghệ sĩ. Bài thơ ra
đời sau quá trình lao động say mê, đầy xúc cảm của Nguyễn Duy đã gửi cho ta
muôn vàn sự sống như lời nhận định của Nguyễn Đình Thi thật đúng, thật hay:
“Tác phẩm vừa là kết tinh trong tâm hồn người sáng tác, vừa là sợi dây truyền tới
bạn đọc sự sống người nghệ sĩ mang trong lòng”. Sự sống ấy cũng là sự kết tinh
linh hồn người nghệ sĩ, kết tinh từ tấm lòng tình yêu vì vậy “Ánh trăng” có sức

35
22

%

Khá
SL %

62,8 % 13

37,2 %

Trung bình
SL
%

Yếu, kém
SL
%

0

0

0,0%

0,0%

* Đặc biệt kết quả của SKKN được kiểm chứng rõ nét nhất qua kết quả kỳ thi học
sinh giỏi cấp tỉnh năm học 2014-2015.

học sinh của mình làm được điều đó. Là một giáo viên tâm huyết với nghề và có
nhiều năm làm nhiệm vụ bồi dưỡng học sinh giỏi, tôi thiết nghĩ: Dù bất kì đứng
trước một đơn vị kiến thức nào cũng phải huy động hết trí tuệ, dồn hết tâm huyết
đào sâu suy nghĩ, tìm cách truyền tải đến học sinh một cách ngắn gọn, dễ hiểu
nhất, hợp với khả năng tiếp thu của đối tượng. Đặc biệt đối với đối tượng học sinh
giỏi phải phát huy được năng khiếu văn chương, khơi nguồn cảm hứng cho các em.
Và như vậy sẽ nâng cao chất lượng thực sự cho môn Ngữ văn trong nhà trường,
học sinh mới thực sự yêu thích môn làm văn, giáo viên dạy Văn mới lấy lại niềm
tin, uy tín cho mình.
3.2. Kiến nghị
- Đối với giáo viên: trong quá trình bồi dưỡng tôi đề nghị thầy cô luôn dày
công, dốc sức bằng ngọn lửa của lòng nhiệt huyết và đam mê với nghề; bằng niềm
say mê với mỗi tác phẩm văn học...
- Đối với nhà trường: Cần quan tâm, hỗ trợ kinh phí để bổ sung thêm các tài
liệu mới và khen thưởng đối với các đề tài được xếp loại cấp tỉnh.
- Phòng GD&ĐT tổ chức hội thảo về trao đổi SKKN (01 năm một lần).
Những điều tôi viết ra chỉ là kinh nghiệm của bản thân, vì vậy sẽ không tránh
khỏi khiếm khuyết. Rất mong nhận được sự trao đổi, góp ý kiến của đồng nghiệp
để tôi có thể hoàn thiện hơn nữa cho đề tài.
Tôi xin chân thành cảm ơn !

18


XÁC NHẬN CỦA CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG KHOA HỌC NGHÀNH

19




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status