Sử dụng công nghệ thông tin và bản đồ tư duy nhằm nâng cao hiệu quả dạy và học lịch sử địa phương (bài thanh hóa từ năm 1919 đến năm 1945) - Pdf 44

MỤC LỤC
PHẦN

TRANG

A. Mở đầu...............................................................................................................2
I. Lí do chọn đề tài.................................................................................................2
II. Mục đích nghiên cứu........................................................................................2
III. Đối tượng nghiên cứu.....................................................................................2
IV. Phương pháp nghiên cứu................................................................................3
B. Nội dung sáng kiến kinh nghiệm.....................................................................4
I. Cơ sở lí luận........................................................................................................4
II. Thực trạng của vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm..............5
III. Các giải pháp...................................................................................................6
IV. Kiểm nghiệm kết quả và bài học kinh nghiệm..............................................12
C. Kết luận và đề xuất...........................................................................................16
I. Kết luận...............................................................................................................16
II. Đề xuất...............................................................................................................16
Tài liệu tham khảo.................................................................................................18
Phụ lục....................................................................................................................19

1


A . MỞ ĐẦU
I. Lí do chọn đề tài:
Lịch sử địa phương là một bộ phận có mối quan hệ hữu cơ, làm phong phú,
sáng tỏ thêm tri thức lịch sử dân tộc. Việc giảng dạy lịch sử địa phương không chỉ
giúp học sinh hiểu sâu sắc hơn kiến thức lịch sử dân tộc, trang bị thêm kiến thức,
rèn luyện thêm kĩ năng mà còn giáo dục cho các em tình cảm yêu mến, lòng tự hào
về quê hương, con đường tiến tới tình yêu đất nước. Chính vì vậy, “học sinh không

III. Đối tượng nghiên cứu:
1

Nguyễn Văn Hồ, Trịnh Trung Châu – Lịch sử địa phương (sách dùng trong các trường THCS tỉnh Thanh Hóa),
NXB Giáo Dục, H.2013,Tr.3

2


Chương trình lịch sử địa phương lớp 9 (bài “Thanh Hóa từ năm 1919 đến
năm 1945”).
Học sinh khối 9 trường THCS Hoằng Đạt – Hoằng Hóa – Thanh Hóa.
IV. Phương pháp nghiên cứu:
- Tìm hiểu lí luận phương pháp nghiên cứu dạy học tích cực bằng bản đồ tư
duy.
- Soạn giáo án, ứng dụng công nghệ thông tin để thiết kế bài giảng điện tử
bài “Thanh Hóa từ năm 1919 đến năm 1945”.
- Giảng dạy thể nghiệm, kiểm tra học sinh lớp thực nghiệm và đối chứng,
đánh giá và so sánh.

3


B. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
I. Cơ sở lí luận:
Nghị quyết số 29 – NQ/TW của Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản
Việt Nam ngày 4 – 11 – 2013 về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo
nhấn mạnh nghiệp vụ: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ và đồng bộ các yếu tố cơ bản
của giáo dục đào tạo theo hướng coi trọng phát triển phẩm chất, năng lực của người
học”, trong đó việc “tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy học theo hướng

2

Trần Đình Châu, Đặng Thị Thu Thủy, Phan Thị Luyến, Module THCS 18: Phương pháp dạy học tích cực, Tài liệu
BDTX GV THCS, Tr.104.
3
Sđd, Tr. 105
4
Sđd. Tr. 108

4


Công nghệ thông tin (CNTT) là ngành ứng dụng công nghệ quản lí và xử lí
thông tin, là ngành sử dụng máy tính và các phần mềm của nó để chuyển đổi lưu
trữ, bảo vệ, xử lí truyền và thu thông tin.
Có nhiều hình thức ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học: E-learning
(học trực tuyến), sử dụng bài giảng điện tử (BGĐT) trong giảng dạy, sử dụng
Internet trong việc tìm kiếm các thông tin phục vụ dạy học, trao đổi chuyên sâu,
chia sẻ tài nguyên trên các mạng xã hội, ...
Lịch sử là những gì đã diễn ra trong quá khứ xã hội loài người. Do đó, việc
tiếp cận và tái hiện lịch sử gần giống như nó đã từng tồn tại là một việc rất khó
khăn. Vì vậy, nếu giáo viên sử dụng những tư liệu lịch sử như: Hình ảnh, bản đồ,
biểu đồ, phim tư liệu, ... vào giảng dạy thì sẽ góp phần rất lớn giúp học sinh có thể
tái hiện lại những sự kiện lịch sử gần giống như nó đã từng tồn tại – đây là điều rất
quan trọng với môn lịch sử, nhất là lịch sử địa phương. Bài giảng điện tử là công cụ
dạy học đa năng vì nó có thể thay thế cho hầu hết các công cụ dạy học khác từ
truyền thống (tranh vẽ, bản đồ, mô hình, ...) đến hiện đại như Cassette, ti vi, đầu
video, ...). Nếu được đầu tư xây dựng cẩn thận thì các bài giảng điện tử sẽ tạo được
sự hấp dẫn và học sinh có thể tiếp thu bài giảng được dễ dàng hơn. Bài giảng điện
tử cũng góp phần đưa “CNTT trở thành phương tiện, công cụ để làm tăng hiệu quả

- Nhiều nơi chưa thực hiện đúng chương trình quy định: bỏ các tiết học lịch
sử địa phương, dạy không đủ số giờ
- Nhiều học sinh không hứng thú học tập, vì bài học không hấp dẫn, không
phát huy tính tích cực của học sinh.
- Phần lớn học sinh khi đọc sách hoặc nghe giảng lịch sử địa phương trên lớp
không biết cách tự ghi chép để lưu thông tin, lưu kiến thức trọng tâm vào trí nhớ
của mình.
Nếu được chuẩn bị kĩ càng, việc sử dụng CNTT và BĐTD trong dạy học sẽ
giúp học sinh học được phương pháp học, tăng tính độc lập, chủ động, sáng tạo và
phát triển tư duy cho các em, đồng thời khắc phục được phần lớn những hạn chế
nêu trên của việc dạy học lịch sử địa phương.
Qua tìm hiểu thực tế tình hình về sử dụng CNTT và BĐTD tôi nhận thấy có
nhiều giáo viên đã áp dụng BĐTD vào dạy học song mới chỉ dừng ở việc cho học
sinh quan sát những bản đồ tư duy có sẵn vào cuối giờ học với mục đích củng cố
kiến thức đã tiếp thu chứ chưa dạy cho học sinh cách lập BĐTD, học bằng BĐTD,
chưa tự vẽ BĐTD bằng phần mềm hay thủ công để phục vụ dạy học. Cơ sở vật chất
của nhiều nhà trường đã được quan tâm đầu tư xây dựng theo hướng xanh – sạch –
đẹp, song vẫn chưa có phòng máy chiếu, chưa đủ điều kiện ứng dụng triệt để
CNTT vào dạy học.
Về phía học sinh, hầu hết học sinh được hỏi đều biết về BĐTD, song chưa
học sinh nào biết cách lập BĐTD, sử dụng công cụ hữu ích này vào học tập. Các
em chưa có thói quen chuẩn bị đồ dùng học tập như giấy khổ lớn, bút màu, bút chì,
tẩy hoặc bảng phụ trong tiết học lịch sử mà chỉ dùng cho học mĩ thuật. Các em
nhanh quên kiến thức môn Lịch sử dẫn đến chất lượng học tập bộ môn còn hạn chế.
III. Các giải pháp:
III. 1. Xây dựng BĐTD trên phần mềm iMindmap:
Để xây dựng BĐTD làm đồ dùng dạy học trên phương tiện dạy học hiện đại,
tôi đã tải và cài đặt phần mềm iMindmap trên máy tính. Sau đó sử dụng phần mềm
này để xây dựng BĐTD.
* Để tạo một BĐTD tôi đã:

cấp 2, 3, 4, …).
Mỗi ý chính nên sử dụng một
màu. Nên viết tắt bằng kí hiệu chung
hoặc kí hiệu riêng, ngắn gọn song đầy đủ
ý. Viết có tổ chức. Các từ khóa càng
ngắn ngọn càng súc tích càng tốt, vì nó
yêu cầu não bộ phải liên tưởng, gợi nhớ.
Hình ảnh vẽ vào BĐTD phải đảm bảo làm sao khi nhìn lại BĐTD chỉ cần
nhìn hình là lập tức nhớ ngay đến từ khóa của nhánh đó.
Học sinh cần nghĩ trước khi viết. Viết lại theo ý của mình, nên chừa khoảng
trống để có thể bổ sung ý (nếu sau này cần).
Bước 3: Bổ sung BĐTD sau khi nghe bài giảng của giáo viên trên lớp.
* Cách sử dụng một BĐTD:
- Học sinh dùng BĐTD để ghi bài, học bài ở lớp và ở nhà.
- Chỉnh sửa, bổ sung kiến thức trong quá trình học tập.
Sau đó tôi cho học sinh xem Video ‘Ứng dụng BĐTD trong dạy học” (Video
của dự án THCS II) từ Youtube giới thiệu về bản BĐTD. Video ngắn (hơn 6 phút)
tại về tại địa chỉ: http://youtube.com/watch?v=Vj5qDg4nKM
* Lưu ý học sinh những sai lầm cần tránh:
+ Sợ xấu, sợ bẩn, sợ giáo viên đánh giá, sợ tốn giấy, … với BĐTD mục đích
nhớ bài là quan trọng nhất.
7


+ Ghi lại nguyên cả đoạn văn dài dòng.
+ Ghi chép quá nhiều ý không cần thiết.
+ Dành quá nhiều thời gian để tô vẽ.
+ Vẽ những hình ảnh không liên quan đến bài học.
+ Quá cầu kì những hình ảnh không cần thiết hoặc ghi quá sơ sài không có
thông tin.

- Soạn giáo án, bài giảng điện tử phục vụ bài giảng.
- Các điều kiện vật chất: Máy chiếu, phấn màu, …
Về phía học sinh:
- Vẽ BĐTD theo hướng dẫn của giáo viên (thực chất là đọc trước bài ở nhà).
8


- Sưu tầm tư liệu lịch sử địa phương thời kì này để chia sẻ với các bạn.
- Bảng phụ, bút dạ.
III. 3. 2. Sử dụng BĐTD và trong dạy và học bài “Thanh Hóa từ năm 1919 đến
năm 1945”:
Trước khi vào bài mới, tôi tiến hành hai công việc sau:
- Yêu cầu học sinh hoàn thành niên biểu về cách mạng Việt Nam giai đoạn
1919 – 1945 (vừa để kiểm tra kiến thức cũ, vừa nhắc lại những sự kiện tiêu biểu
của lịch sử dân tộc thời gian này, giúp học sinh nhận thức rõ hơn mối quan hệ giữa
lịch sử địa phương và lịch sử dân tộc).
Thời gian
Sự kiện
7/1920
Nguyễn Ái Quốc đọc “Sơ thảo lần thứ nhất những Luận cương về
vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa” của Lê-nin
3/2/1930
Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời.
1930 - 1931 Phong trào cách mạng 1930 – 1931 với đỉnh cao Xô Viết – Nghệ
Tĩnh.
1936 – 1939 Cuộc vận động dân chủ 1936 – 1939.
19/8/1945
Ngày cách mạng tháng Tám
2/9/1945
Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập, khai sinh ra nước

sự lãnh đạo của Đảng bộ (1930 – 1939).
a. Sự thành lập Đảng bộ Thanh Hóa:
Học sinh xem một số hình ảnh về sự thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam,
treo bản đồ Thanh Hóa, cho học sinh lên dán các chấm tròn đỏ vào vị trí tương ứng
của bản đồ với nơi thành lập ba chi bộ cộng sản ở Thanh Hóa (Hình 9 phụ lục 3).
Tôi cho học sinh xem một đoạn băng về sự kiện thành lập Đảng bộ tỉnh
Thanh Hóa tại thôn Yên trường, xã Thọ Lập, huyện Thọ Xuân ngày 29 – 7 – 1930
(tải từ website của Đài truyền hình Thanh Hóa).
Tiếp theo tôi tổ chức cho học sinh thảo luận nhóm bằng cách vẽ BĐTD vào
bảng phụ theo hướng dẫn:
- Nhóm 1, 2: Trình bày những nét chính về hội nghị thành lập Đảng bộ Cộng
sản Thanh Hóa? (Các gợi ý: Thời gian, địa điểm, người chủ trì, số người tham gia,
nội dung).
- Nhóm 3, 4: Ý nghĩa của sự ra đời Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa?
Sau khi đại diện học sinh
các nhóm trình bày, tôi cho học
sinh xem BĐTD đã chuẩn bị
(hình 3, 4 – phụ lục 1) để học
sinh tự điều chỉnh BĐTD của
nhóm mình.
Tiếp theo tôi giới thiệu sự
thành lập Đảng bộ cộng sản
Hoằng Hóa: Đầu tháng 9 – 1930,
chi bộ cộng sản đầu tiên của
huyện Hoằng Hóa được thành
Hình 2: BĐTD về Hội nghị thành lập
Đảng bộ Thanh Hóa
lập tại thôn Cự Đà (xã Hoằng Minh) với 3 đảng viên do đồng chí Lê Viết Phồn làm
Bí thư. Chi bộ Cự Đà đã ‘giương cao ngọn cờ lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt
Nam…, là niềm tự hào to lớn của Đảng bộ và nhân dân huyện Hoằng Hóa” (7).

1945 “là lá cờ đầu của công cuộc khởi nghĩa giành chính quyền ở Thanh Hóa” (8).
2. Khởi nghĩa giành chính quyền ở Thanh Hóa tháng Tám năm 1945:
Trên cơ sở tìm hiểu sách giáo khoa, tôi yêu cầu học sinh lên bảng tường thuật
diễn biến khởi nghĩa giành chính
quyền ở Thanh Hóa tháng Tám năm
1945 bằng một BĐTD chuẩn bị sẵn.
Giáo viên tường thuật trên một
BĐTD về ý nghĩa và nguyên nhân
thắng lợi nhanh chóng của cuộc khởi
nghĩa giành chính quyền tháng Tám
năm 1945 ở Thanh Hóa.
Tiếp theo tôi cho học sinh trình
Hình 3: BĐTD về khởi nghĩa
bày một số tư liệu
giành chính quyền ở Thanh Hóa
Cuối cùng tôi cho học sinh vẽ
BĐTD tổng kết bài trên cơ sở chỉnh sửa
BĐTD đã vẽ ở nhà. Tôi coi đây là bài
thu hoạch sau tiết học.

8

Lịch sử Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa, tập 1, Ban Tuyên giáo tỉnh ủy Thanh Hóa, xuất bản năm 1991, Tr 119

11


Để chuẩn kiến thức cho học sinh, tôi đưa ra một BĐTD đã chuẩn bị sẵn,
yêu cầu học sinh đọc những kiến thức thể hiện trên BĐTD. Song song
với việc học sinh đọc kênh chữ trên

19/8/1945
Làm chủ Lộc, Trung, Nga, Xương, Thạch, Vĩnh, Thiệu, Yên, Thọ,
Đông.
20/8/1945
Thị xã Thanh Hóa, Tĩnh Gia giành được chính quyền
21/8/1945
Nông Cống, Cẩm Thủy giành được chính quyền. Tổng khởi nghĩa
thắng lợi trong toàn tỉnh
23/8/1945
Ủy ban nhân dân cách mạng lâm thời tỉnh ra mắt đồng bào.
IV. Kiểm nghiệm kết quả và bài học kinh nghiệm:
- Tôi đã áp dụng BĐTD và CNTT trong dạy và học Lịch sử nói chung và dạy
thể nghiệm bài “Thanh Hóa từ năm 1919 đến năm 1945” nói riêng ở lớp 9B trường
THCS Hoằng Đạt. Lớp 9B là lớp có nhiều học sinh trung bình và yếu hơn lớp 9A.
- Dạy bình thường có sử dụng bản đồ Thanh Hóa và hướng dẫn học sinh
cách vẽ BĐTD ở lớp 9B.
- Kiểm tra trong thời gian 15 phút hai lớp 9A và lớp 9B.
ĐỀ BÀI
Câu 1: Khoanh tròn chữ cái trước câu trả lời đúng:
1. Người chiến sĩ cộng sản đầu tiên của Thanh Hóa là:
a. Lê Hữu Lập
b. Nguyễn Doãn Chấp
12


c. Lê Tất Đắc
d. Đinh Chương Dương.
2. Đảng bộ cộng sản Thanh Hóa được thành lập ở huyện:
a. Đông Sơn
b. TX Thanh Hóa

Sự kiện
29/7/1930
Đảng bộ Cộng sản Thanh Hóa được thành lập
19/9/1941
Thành lập đội du kích Ngọc Trạo
24/7/1945
Hoằng Hóa giành được chính quyền
14/8/1945
Hội nghị Tỉnh ủy mở rộng quyết định Tổng khởi nghĩa, lập
Ủy ban khởi nghĩa, UBNDCM lâm thời
23/8/1945
UBNDCM tỉnh lâm thời ra mắt đồng bào.
Câu 3 (5,5 điểm). Vì:
- Chuẩn bị chu đáo (Đảng bộ đã xây dựng được một đội quân cách mạng
đông đảo ở nhiều địa phương, bao gồm lực lượng chính trị quần chúng và lực
lượng vũ trang được tập dượt qua các thời kì Mặt trận Phản đế, Mặt trân Việt Minh
và cao trào kháng Nhật cứu nước. Nhờ vậy, khi thời cơ cách mạng đến, nhân dân
Thanh Hóa nhanh chóng vùng dậy giành chính quyền (3,0 điểm)
- Vận dụng linh hoạt đường lối của Đảng (Thắng lợi của Tổng khởi nghĩa
tháng Tám năm 1945 ở Thanh Hóa là kết quả của sự vận dụng linh hoạt chủ động

13


sáng tạo những chủ trương nghị quyết Trung ương Đảng, của Đảng bộ Thanh Hóa
trong tình hình cụ thể của tỉnh (2,5 điểm).
(Nếu không phân tích được thì trừ mỗi ý 1,0 điểm)
Kết quả tổng hợp như sau :
Lớp
Sĩ số

0
0
Học sinh lớp 9B cũng vẽ BĐTD tốt hơn lớp 9A. Các em đã biết lựa chọn
những cụm từ ngắn gọn cô đọng để đưa vào BĐTD của mình, trong khi nhiều học
sinh lớp 9A dù tự tin nói rằng các em đã biết BĐTD qua mạng Internet nhưng lại vẽ
BĐTD với những đoạn văn dài, không súc tích bằng học sinh lớp 9B.
Một số bài học kinh nghiệm:
- Đối với bài giảng điện tử: Nên và cần tăng cường sử dụng CNTT vào dạy
học lịch sử địa phương vì CNTT giúp các kiến thức khá khô khan trong các cuốn
Lịch sử Đảng bộ trở nên cụ thể, kể cả khi không đưa học sinh đến các bảo tàng.
Song chỉ nên coi việc sử dụng bài giảng điện tử như một bảng phụ.
- Đối với BĐTD:
Về quy trình thực hiện: Nên cố gắng phát huy năng lực của học sinh trong
thiết kế và sử dụng BĐTD theo các bước:
Bước 1: Lập BĐTD theo trình tự.
Bước 2: Báo cáo, thuyết minh về BĐTD vừa được lập.
Bước 3: Thảo luận, chỉnh sửa BĐTD, trong đó giáo viên là người cố vấn,
trọng tài giúp học sinh hoàn thiện BĐTD, từ đó dẫn dắt đến kiến thức trọng tâm.
Bước 4: Có thể cho học sinh xem một BĐTD đã thiết kế sẵn hoặc BĐTD do
cả lớp hoàn thiện ở bước 3.
Cần hạn chế cho học sinh xem BĐTD có tính minh họa kiến thức, ngại cho
học sinh thực hành, thảo luận vì sợ mất thời gian, lớp ồn, … “Cần khuyến khích,
tạo cơ hội cho học sinh tự viết, vẽ, lập BĐTD và thảo luận nhóm để các em tập
dượt phân tích, so sánh, rút ra kiến thức” (9) . Có thể cho học sinh thảo luận nhóm
với BĐTD, trong đó mỗi học sinh phụ trách một nhánh của BĐTD.
Luôn yêu cầu học sinh vẽ BĐTD trước khi đến lớp. Nếu vì một lí do nào đó
mà học sinh không thể hoàn tất trước giờ học thì để việc đó lại sau giờ học.
Thực tế cho thấy không phải tất cả học sinh đều thích và nhanh chóng tiếp
thu cách học mới, nhất là những học sinh thụ động, học yếu, đã quen với việc giáo
viên đọc hoặc viết lên bảng rồi mới chép vào vở. Vì vậy, cần cho các em có thời

phía, chủ yếu là:
1. Ban Tuyên giáo các cấp:
Cần xem việc đẩy mạnh công tác giáo dục Lịch sử địa phương là một biện
pháp quan trọng trong công tác tuyên giáo, có hiệu quả tích cực trong việc giáo dục
tình yêu quê hương, nâng cao ý thức trách nhiệm của học sinh trong việc xây dựng
nơi sinh ra, lớn lên của mình trong hiện tại và tương lai. Từ đó có hướng chỉ đạo
công tác này đạt hiệu quả cao hơn nữa.
2. Các cấp quản lí giáo dục:
Cần có thay đổi trong cách ra đề kiểm tra học kì môn Lịch sử, nên có thêm
phần Lịch sử địa phương trong đề bài để giáo viên và học sinh có trách nhiệm hơn
với việc dạy học Lịch sử địa phương, nhanh chóng tìm ra cách biến những giờ học
Lịch sử địa phương thành những giờ học thú vị, hiệu quả. Không nên để sự ồn ào
làm ảnh hưởng tới việc đánh giá một giờ giảng vì có những “hoạt động làm cho lớp
học ồn ào hơn, nhưng đó là sự ồn ào có hiệu quả” (10).
Cần có thêm các đợt tập huấn về dạy học tích cực môn Lịch sử nói chung và
Lịch sử địa phương nói riêng. Phương pháp dạy học tích cực cần được cụ thể hóa
công tác chỉ đạo của lãnh đạo nhà trường, tổ chuyên môn, trong việc chuẩn bị giờ
học của mỗi giáo viên, trở thành chủ đề trong các buổi sinh hoạt chuyên môn, các
đợt chuyên đề cụm, bởi đây là những môi trường học hỏi thích hợp với những giáo
viên trực tiếp giảng dạy.
Ngành giáo dục cần đầu tư cơ sở vật chất, hệ thống máy chiếu cố định ở các
lớp học để thầy cô dễ dàng thực hiện ý tưởng của mình mà không mất quá nhiều
thời gian chuẩn bị phương tiên phục vụ cho tiết dạy. Cần có phương án cụ thể để sử
10

Những vấn đề chung về đổi mới giáo dục THCS môn Lịch sử, NXB Giáo dục, H.2007, Tr. 22

16



Hoàng Văn Mậu

17


TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Trần Đình Châu, Đặng Thị Thu Thủy, Phan Thị Luyến, Module THCS 18:
Phương pháp dạy học tích cực, Tài liệu BDTX GV THCS.
2. Nguyễn Văn Hồ, Trịnh Trung Châu – Thiết kế bài giảng Lịch sử Thanh Hóa,
NXB Thanh Hóa, 2014.
3. Nguyễn Văn Hồ, Trịnh Trung Châu – Lịch sử địa phương (sách dùng trong các
trường THCS tỉnh Thanh Hóa), NXB Giáo dục, 2013.
4. Những vấn đề chung về đổi mới giáo dục THCS môn Lịch sử, NXB Giáo dục,
H.2007.
5. Lịch sử Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa, tập 1, Ban Tuyên giáo tỉnh ủy Thanh Hóa, xuất
bản năm 1991.
6. Lịch sủ Đảng bộ và phong trào cách mạng của nhân dân Hoằng Hóa, tập 1, xuất
bản năm 1995.
7. Cơ sở cách mạng nhà ông Lê Quang Trường , xã Hoằng Tiến (1930 – 1945),
NXB Thanh Hóa, 2007.
8. Nguồn Internet:
http://edu.net.vn/ (Mạng Giáo dục Edunet – Bộ Giáo dục và Đào tạo).
http://www.youtube.com
http://vi.wikipedia.org
www.sodotuduy.com

18


PHỤ LỤC

(nay là xã Xuân Lộc, huyện Hậu Lộc, Thanh Hóa). Lúc còn nhỏ tên là Độ (ngoài ra
còn một số tên gọi khác như Cậu Ấm, Hoàng Tức Thoại, tức Hoàng Lùn).
Năm 1918, sau khi tốt nghiệp trường Pháp Việt, ông tham gia phong trào
cách mạng đòi độc lập cho Việt Nam.
Năm 1922, Ông đã gặp Đinh Chương Dương và được Đinh Chương Dương
kể cho nghe về các tổ chức Cách mạng trong và ngoài nước, về các nhà ái quốc như
Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh...
Năm 1923, Ông tạm biệt mẹ già, người vợ hiền và đứa con thơ mới 3 tháng
tuổi bước vào con đường thoát ly hoạt động.
Giữa năm 1924, Ông được Đinh Chương Dương đưa sang Quảng Châu
(Trung Quốc) tham gia vào Tâm Tâm Xã, một tổ chức cách mạng của người Việt
Nam yêu nước ở Trung Quốc.
Năm 28 tuổi, 1925, ông gặp Nguyễn Ái Quốc ở Trung Quốc và được kết nạp
vào tổ chức Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí hội. Sau đó, ông được tổ
chức cử về nước cùng với một số đồng chí của ông để tuyên truyền tư tưởng cách
mạng cho thanh niên ở Thanh Hóa, Thái Bình, Nam Định, Nghệ An, Quảng Trị...
và đưa một số người sangQuảng Châu huấn luyện. Đoàn xuất dương lần đầu thuộc
các tỉnh Miền Trung gồm mười người trong đó có Trần Phú, sau này là Tổng Bí thư
đầu tiên của Đảng Cộng sản Đông Dương.
Năm 31 tuổi, 1928, ông được bầu vào ban chấp hành Kỳ bộ thanh niên Trung
kỳ của Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí hội và được cử sang Thái
Lan hoạt động. Ông bị tòa án của chính quyền bảo hộ thực dân ở Thanh Hóa kết án
tử hình vắng mặt.
Tháng 3 năm 1930, khi tổ chức Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí
hội chuyển thành tổ chức cộng sản, Lê Hữu Lập trở thành đảng viên cộng sản và là
người thành lập chi bộ cộng sản đầu tiên của huyện Hoằng Hóa tại thôn Cự Đà (nay
là xã Hoằng Minh, huyện Hoằng Hóa).
Đầu năm 1934, Lê Hữu Lập tham gia Ban viện trợ cách mạng Đông Dương
và được cử về hoạt động ở huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An. Tại đây, ông lâm bệnh
nặng và được đưa về điều trị ở nhà thương Vinh. Do bệnh quá nặng, Lê Hữu Lộc

Hình 1: Bia tưởng niệm đồng chí
Lê Hữu Lập

Hình 3: Đồng chí Lê Thế Long

Hình 5: Núi Mật – nơi lá cờ đỏ sao vàng
quyền
xuất hiện đếm 20 rạng 21/8/1945

Hình 2: Đồng chí Lê Hữu Lập

Hình 4: Văn tự bán con ở Thọ Xuân

Hình 6: Khởi nghĩa giành chính
ở Hoằng Hóa ngày 24/7/1945
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status