I . MỞ ĐẦU
1.1.Lí do chọn đề tài
Lựa chọn phương pháp dạy học thích hợp cho mỗi bài học là hoạt động
sáng tạo chủ yếu và thường xuyên của người giáo viên. Cùng một nội dung như
nhau nhưng học sinh học tập có hứng thú, tích cực hay không lại phần lớn phụ
thuộc vào phương pháp dạy học của người thầy. Một trong những cách để phát
huy hứng thú, tích cực, chủ động của học sinh đó là việc tổ chức cho học sinh
thảo luận nhóm
Trong dạy học hiện đại, giáo viên luôn nhận thức được dạy học theo
phương pháp thảo luận nhóm (PPTLN) có thể phát huy được tính tính cực, chủ
động trong học tập của học sinh. Do đó, ở hầu hết các môn học giáo viên đều sử
dụng phương pháp dạy học này. Tuy nhiên, kết quả đạt được chỉ dừng ở mức
hình thức mà chưa đem lại hiệu quả, nâng cao chất lượng. Từ thực tế dạy học
theo PPTLN của giáo viên trường THPT Lam Kinh cũng như việc nghiên cứu
tài liệu, thu thập thông tin, tôi nhận thấy việc áp dụng PPTLN ở các trường
THPT nổi lên những vấn đề sau:
Thứ nhất, trong quá trình thiết kế bài học theo mô hình thảo luận nhóm,
giáo viên chưa chú trọng đến khâu chuẩn bị bài mới ở nhà của học sinh, dẫn đến
tình trạng bị động về thời gian của cả thầy và trò khi ở trên lớp.
Thứ hai, học sinh được phân nhóm nhưng giáo viên ít quan tâm giao
nhiệm vụ trưởng nhóm. Sau thời gian thảo luận, giáo viên cho học sinh trong
nhóm trình bày kết quả một cách máy móc, hiệu quả không cao.
Thứ ba, học sinh thảo luận đưa ra ý kiến, sau đó được trình bày và kết quả
được giáo viên ghi nhận. Nhưng do không có sự định hướng, giao bài tập ở nhà
từ trước của giáo viên nên khi nội dung bài học được chốt lại, học sinh thường
nhận lại kiến thức mà giáo viên đã chuẩn bị sẵn trong giáo án. Như vậy, mục
tiêu của phương pháp dạy học đã không được thực hiện triệt để.
Thứ tư, việc quản lí các nhóm của giáo viên chưa khoa học khiến học sinh
ít có hứng thú tham gia hoạt động, hợp tác cùng các thành viên khác trong
nhóm,...
Thứ năm, tồn tại lớn nhất từ trong học sinh trong việc vận dụng phương
con người mới có năng lực, có tri thức,... môn Ngữ văn trong nhà trường phổ
thông còn được tích hợp liên môn để giáo dục cho học sinh một số kỹ năng sống
căn bản. Tuy nhiên, do nhiều lý do, học sinh ngày càng thờ ơ với môn Văn,
không say mê học Văn, từ đó không nhận thức được hết tầm quan trọng từ
những bài học Ngữ văn. Vì vậy, để thu hút học sinh tham gia vào quá trình khám
phá văn bản văn học, giáo viên cần vận dụng hệ thống các phương pháp tích cực
kích thích được hứng thú học tập của học sinh. Qua đề tài này, tôi muốn rút ra
nhiều kinh nghiệm để góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn Ngữ văn, từ
đó thu hút được nhiều học sinh say mê, yêu thích văn học, hình thành nhiều kỹ
năng cần thiết.
1.2.2. Trong giờ dạy văn bản văn học theo PPTLN, theo tôi, giáo viên cần
phải quan tâm giải quyết đến một số vấn đề:
Thứ nhất, nắm vững những vấn đề lí luận về PPTLN
Thứ hai, nắm vững mục tiêu của tiết học (chuẩn kiến thức, chuẩn kỹ năng,
thái độ) và các yêu cầu, nội dung tích hợp của bài học.
Thứ ba, cảm nhận sâu sắc tác phẩm văn chương sẽ dạy.
Thứ tư, nắm vững đối tượng học sinh để đưa ra vấn đề thảo luận phù hợp.
1. 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: học sinh lớp 10 ban Cơ bản, trường THPT Lam
Kinh, Thọ Xuân – những đối tượng tôi trực tiếp giảng dạy.
- Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu các mô hình thảo luận nhóm và thiết kế
thể nghiệm một tiết học theo phương pháp trên.
- Giới hạn của đề tài: Trong quá trình công tác ở trường THPT Lam Kinh,
tôi đã được giảng dạy cả ba khối lớp, với nhiều đối tượng học sinh khác nhau.
Tuy nhiên, trong phạm vi của đề tài, tôi chỉ trình bày kinh nghiệm vận dụng
2
phương pháp thảo luận nhóm trong việc dạy học văn bản văn học Ngữ văn 10
thể hiện mình, kỹ năng tự chịu vấn đề, kỹ năng tìm kiếm và xử lý thông tin,...
Ngoài ra, với việc học tập bằng PPTLN, học sinh có thêm hứng thú học
tập, nâng cao tình cảm yêu thích văn chương, nâng cao kết quả học tập bộ môn.
Đề tài này cơ bản đáp ứng được yêu cầu của việc nâng cao chất lượng giờ
học môn Ngữ văn ở trường tôi đang giảng dạy nói riêng, và ở các tổ chuyên môn
Ngữ văn các trường THPT nói chung.
II. NỘI DUNG CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
2.1. Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm.
Mục đích của việc đổi mới phương pháp dạy học là hướng học sinh tới
việc học tập chủ động, hạn chế thói quen học tập thụ động, nghĩa là phải phát
huy tính tích cực, chủ động của học sinh trong học tập. Có nhiều phương pháp
3
dạy học tích cực như phương pháp vấn đáp tìm tòi, phương pháp dạy học đặt
vấn đề và giải quyết vấn đề, phương pháp thảo luận nhóm,...
“Thảo luận nhóm là một phương pháp dạy học trong đó giáo viên chia lớp
thành nhiều nhóm nhỏ để cùng nhau trao đổi, giải quyết những vấn đề giáo viên
đặt ra, từ đó hình thành ở người học kỹ năng giao tiếp, năng lực nhận thức và
liên hệ thực tiễn của bản thân”. [ 8]
Phương pháp thảo luận nhóm là một trong những phương pháp có sự
tham gia tích cực của học sinh. Thảo luận nhóm còn là phương tiện học hỏi có
tính cách dân chủ, mọi cá nhân được tự do bày tỏ quan điểm, tạo thói quen sinh
hoạt bình đẳng, biết đón nhân quan điểm bất đồng, hình thành quan điểm cá
nhân giúp học sinh rèn luyện kỹ năng giải quyết vấn đề khó khăn.
Thảo luận nhóm có thể thực hiện dưới hai hình thức: thảo luận nhóm lớn;
thảo luận nhóm nhỏ (5-7 người).
Phương pháp thảo luận nhóm so với một số các phương pháp giảng dạy
truyền thống có những ưu điểm nhất định:
- Phương pháp này kích thích lòng ham mê học tập của học sinh, tránh lối
- Lựa chọn vấn đề học tập cần chú ý một số điều kiện sau đây:
+ Vấn đề trọng tâm, chứa đựng thông tin mới.
+ Vấn đề thường đưa ra dưới dạng câu hỏi hoặc bài tập nhỏ.
+ Vấn đề học tập phải vừa sức của học sinh và tương ứng với thời gian
làm việc.
Trong thực tế, vấn đề đưa ra thường ngắn gọn và thời gian học sinh làm
việc khoảng từ 5 phút đến 10 phút. Chúng ta sẽ áp dụng ở những tiết giảng có
nội dung ngắn gọn và sử dụng qũy thời gian kiểm tra và củng cố bài. Tuy nhiên
đối với môn Ngữ văn giáo viên có thể tận dụng những tiết đọc văn với thời
lượng 2 tiết/ văn bản văn học.
Phương pháp thảo luận nhóm là một trong những phương pháp có lợi thế
nhưng cả giáo viên và học sinh, vì nhiều lí do khác nhau, đều thụ động trong quá
trình thực hiện. Hiện nay, có nhiều tài liệu nghiên cứu về phương pháp thảo luận
nhóm có các nhà giáo dục viết cũng có, do giáo viên đang trực tiếp dạy học viết
cũng có. Các tài liệu này hầu như cung cấp khá nhiều kiến thức lí luận dạy học
theo Phương pháp thảo luận nhóm. Tuy vây, nguồn minh chứng sinh động nhất
mà giáo viên cần là sự thể nghiệm, áp dụng phương pháp như thế nào cho hiệu
quả thì các tài liệu hầu như không đề cập đến.
2.3. Giải pháp thực hiện
2.3.1. Trang bị cho người giáo viên những vấn đề lí luận cần thiết về
Phương pháp thảo luận nhóm.
Trong phạm vi một lớp học, giáo viên cần nhất quán: phương pháp thảo
luận nhóm chính là dạy học theo nhóm nhỏ. Bởi lẽ, mỗi nhóm học sinh trong
một lớp thường chỉ được tổ chức từ 5-7 người/nhóm. Do đó, người giáo viên
cần nắm vững những kiến thức lí luận về Phương pháp thảo luận nhóm sau:
Thứ nhất, mục tiêu cơ bản của việc dạy học theo Phương pháp thảo luận
nhóm là giúp học sinh tham gia vào đời sống xã hội một cách tích cực, tránh tính
thụ động, ỷ lại. Với phương pháp này, học sinh được làm việc cùng nhau theo
các nhóm nhỏ và mỗi một thành viên trong nhóm đều có cơ hội tham gia vào
nhiệm vụ đã được phân công sẵn.
khám phá và trao đổi với nhiều người)
- Mục tiêu kỹ năng: giúp học sinh rèn luyện các kỹ năng tư duy (phân tích,
suy luận, tổng hợp, đánh giá, giải quyết vấn đề,…) và kỹ năng xã hội (giao tiếp,
trình bày, tranh luận, lắng nghe, hợp tác, lãnh đạo,…)
- Mục tiêu thái độ: giúp học sinh yêu thích môn học hơn, gắn bó với bạn
bè hơn, có ý thức với tập thể hơn, biết dân chủ hơn.
Bước 2: Công tác chuẩn bị tổ chức học tập
- Chuẩn bị phương pháp: sẽ dùng phương pháp làm việc nào cho các
nhóm ? (sắm vai, xê-mi-na, giải quyết tình huống, giải quyết vấn đề,…)
- Chuẩn bị nội dung thảo luận: sẽ thảo luận về chủ đề gì ? có bảo đảm tính
“hấp dẫn” hoặc “thời sự” không ?
- Chuẩn bị quỹ thời gian: sẽ thảo luận nhóm trong bao lâu là vừa? cần “trừ
hao” bao nhiêu cho việc ổn định, đi lại ?…
- Chuẩn bị tài liệu, phương tiện: cần có những tài liệu tham khảo tối thiểu
gì giúp HS có đủ thông tin để tham gia thảo luận? có cần các phương tiện trình
bày (overhead, projector,…) gì không? có cần giấy khổ lớn, bảng phụ để các
nhóm trình bày ?…
- Chuẩn bị người hỗ trợ: có cần thêm giáo viên hay trợ giảng để cùng theo
dõi các nhóm ?
- Chuẩn bị nội quy: các nhóm sẽ được tổ chức như thế nào (nhóm trưởng,
thư ký…) ?, quy định về điểm danh, phát biểu, ghi chép,… ra sao ?
Bước 3: Công tác tổ chức, quản lý trong quá trình hoạt động thảo luận
học tập
- Tổ chức chia nhóm: nên chia lớp ra làm bao nhiêu nhóm ? mỗi nhóm
bao nhiêu người? chia ra làm sao (theo lứa tuổi, giới tính, sự thân quen, trình
độ…) ?
- Làm thế nào để tạo ra không khí thân thiện, thoải mái trong nhóm ?
- Tổ chức theo dõi: làm thế nào để theo dõi hoạt động của các nhóm ? (ghi
biên bản, ghi hình, ghi tiếng,…).
6
lắng.
7
Mô hình 2: Hiệp ý tay đôi
- Ưu điểm: Hoàn thiện suy nghĩ cá nhân trước khi phát biểu; tạo ra không
khí thảo luận dễ chịu.
- Nhược điểm: Một số người có thể không có cơ hội phát biểu.
- Đề nghị: Nên dùng trong giai đoạn đầu của thảo luận.
Mô hình 3: Hoàn thiện từng bước
- Ưu điểm: Hoàn thiện từng bước suy nghĩ cá nhân; tạo ra không khí thảo
luận dễ chịu.
- Nhược điểm: Nhiều người có thể không được phát biểu trước cả nhóm;
mất nhiều thời gian.
- Đề nghị: Nên dùng trong trường hợp cần hoàn thiện một kết luận/ quan
điểm chung của nhóm.
8
Mô hình 4: Chia sẻ giữa các nhóm
- Ưu điểm: Giúp chia sẽ thông tin giữa các nhóm, cá nhân có thêm cơ hội
biết nhiều người, được phát biểu nhiều hơn.
- Nhược điểm: Chỉ dùng tốt với các nhóm nhỏ.
- Đề nghị: Nên dùng khi cần chia sẽ, trao đổi kết quả thảo luận giữa các
nhóm.
Mỗi phương pháp dạy học đều có những thế mạnh riêng. Chính vì thế
qua phát vấn, đàm thoại về các sự việc, chi tiết tiêu biểu trong tác phẩm.
- Phương pháp bổ trợ: Thảo luận.
E. Tiến trình lên lớp
I. Ổn định tổ chức: Kiểm tra HS: nề nếp, tác phong, sĩ số
II. Kiểm tra bài cũ[3].
- Câu hỏi kiểm tra: Qua truyền thuyết An Dương Vương và Mị Châu Trọng Thuỷ, các tác giả dân gian muốn gửi đến người đọc bài học gì ?
- Định hướng trả lời: Nêu bài học về ý thức cảnh giác, không chủ quan,
khinh địch trong công cuộc dựng và giữ nước.
III. Nội dung bài dạy
(Trước khi tiến hành tiết học, giáo viên chia học sinh thành 6 nhóm, mỗi
nhóm từ 4-6 học sinh (đối với lớp dưới 40 học sinh), các nhóm đồng năng lực.
Khi phân nhóm, giáo viên cần chỉ định một nhóm trưởng, một thư ký nhóm theo
những nhiệm vụ đã giao từ tiết học trước. Nếu giáo viên sử dụng mô hình tái
chia sẻ giữa các nhóm thì cần đặt ký hiệu cho từng học sinh trong nhóm.)
Hoạt động 1: Kiểm tra việc chuẩn bị bài ở nhà
- Giáo viên nêu câu hỏi: [7].
+ Trình bày khái niệm và những đặc điểm cơ bản của thể loại truyện cổ
tích?.
+ Truyện cổ tích được chia thành mấy loại ? Đặc trưng cơ bản của truyện
cổ tích thần kì là gì ?
- Học sinh nêu khái niệm, chỉ ra đặc trưng của truyện cổ tích thần kì.
Giáo viên chỉ định nhóm trả lời và nhóm phản biện; nhấn mạnh những
vấn đề cơ bản để học sinh vận dụng đọc – hiểu văn bản.
Về nội dung: truyện cổ tích thần kì thể hiện ước mơ cháy bỏng về hạnh
phúc, lẽ công bằng, phẩm chất và năng lực tuyệt vời của con người.
Về nghệ thuật, truyện cổ tích thần kì có sự tham gia của các yếu tố thần kì
vào sự phát triển của câu chuyện.
- Giáo viên yêu cầu 1 học sinh lên trước lớp để kể lại câu chuyện.
Hoạt động 2: Tạo tâm thế tiếp nhận văn bản
- Giáo viên nêu một số câu hỏi gợi hứng thú học tập cho học sinh:
trả lời các vấn đề, khái quát được hai tuyến nhân vật, giáo viên dẫn đắt để học
sinh phát hiện mâu thuẫn của tác phẩm).
- Giáo viên nêu câu hỏi: Theo em, mâu thuẫn giữa mẹ con Cám và Tấm là
mâu thuẫn giữa mẹ ghẻ con chồng hay mâu thuẫn giữa thiện và ác, giữa kẻ
thống trị và người bị trị? Hãy lí giải.
(Ở câu hỏi này, giáo viên sử dụng mô hình thảo luận hiệp ý từng đôi.
Từng cặp học sinh trong các nhóm trao đổi để đi đến giải quyết vấn đề. Giáo
viên chỉ cho 1-2 cặp trả lời, 1-2 cặp khác tranh luận, phản biện)
- Học sinh trả lời để đi đến kết luận: Bản chất của mâu thuẫn giữa mẹ con
Cám và Tấm chính là mâu thuẫn giữa mẹ ghẻ và con chồng, giữa giai cấp thống
trị và tầng lớp bị trị, là sự xung đột giữa cái thiện và cái ác trong xã hội.
- Giáo viên nêu yêu cầu:
+ Hãy liệt kê những lần hoá thân của cô Tấm sau khi chết. Em thích hình thức
biến hoá nào nhất? Vì sao? Sự hoá thân của cô Tấm có ý nghĩa gì?
+ Hãy tưởng tượng mình là quả thị (do cô Tấm biến thành), em hãy lí giải vì sao
mình lại rơi vào bị của bà cụ già ?
(Giáo viên cho học sinh làm việc cá nhân để cá thể hoá năng lực)
Những kiếp hồi sinh của Tấm (Tấm chết → vàng anh → xoan đào →
khung cửi → quả thị) phản ánh tính chất gay gắt, quyết liệt của cuộc chiến đấu
giữa cái thiện và cái ác, thể hiện sức sống mãnh liệt, không thể bị tiêu diệt của
cái thiện.
- Giáo viên cho học sinh thảo luận vấn đề:
+ Các em có thích đoạn kết của tác phẩm không ?
+ Có ý kiến cho rằng Tấm trả thù mẹ con Cám như thế là quá tàn nhẫn, không phù
hợp với bản chất hiền lành, lương thiện của Tấm, cũng không phù hợp với đạo lí
của dân tộc Việt Nam. Suy nghĩ của các em về hành động trả thù của Tấm?
11
(GV sử dụng mô hình hoàn thiện từng bước. Một học sinh trong nhóm
(Học sinh tự làm việc cá nhân theo mức độ hiểu bài của mình).
Cốt lõi học sinh cần nắm vững kiến thức:
Tác phẩm thể hiện tâm hồn lãng mạn, tinh thần lạc quan, yêu đời và niềm
khát khao vươn tới hạnh phúc, công lí của nhân dân lao động.
Hoạt động 5: Củng cố kiến thức bài học:
- Giáo viên chốt lại trọng tâm bài học (những vấn đề học sinh cần nắm
vững)
- Học sinh hoàn thành các câu hỏi trắc nghiệm khách quan (1):
(Hoạt động này nhằm đánh giá quá trình tiếp thu của học sinh nên giáo
viên không sử dụng PPTLN)
Câu 1: Hình tượng nhân vật Tấm thể hiện chủ đề gì ?
A. Số phận con người nhỏ bé, bất hạnh B. Người mồ côi không nơi nương tựa
C. Người bị áp bức, hà hiếp
D. Số phận con người nhiều lận đận.
1()
Phần in nghiêng trong 7 câu hỏi trắc nghiệm là đáp án đúng của các câu hỏi.
12
Câu 2: Truyện “Tấm Cám” phản ánh mối xung đột gì trong xã hội ?
A. Mẹ ghẻ, con chồng B. Lợi ích cá nhân C. Thiện và ác D. Giàu và nghèo
Câu 3: Tại sao nhân vật Bụt lại không xuất hiện kể từ khi Tấm vào cung vì:
A. Bụt không thể xuất hiện nhiều hơn hai lần B. Tấm đã có sự bảo vệ của nhà vua
C. Tấm phải tự đấu tranh để sinh tồn
D. Tấm không cần Bụt giúp nữa.
Câu 4: Chi tiết nào trong truyện “Tấm Cám” thể hiện phong tục hôn
nhân của người Việt ?
A. Trầu têm cánh phượn g B. Chiếc giày thêu C. Khung cửi dệt D. Tấm lụa điều.
Phận nghèo hôm sớm dãi dầu
môi
Hóa bao nhiêu kiếp, ngọt ngào,đa
Dịu dàng cũng bấy nhiêu thôi!
đoan.
Nào ai có mấy cuộc đời cho nhau.
Người ngoan ở với người gian
Một lần chết mấy lần đau
Dẫu hiền như Bụt cũng tan nát lòng
Cũng là xá tội cho nhau một lần
Tin em, em cướp mất chồng
Gai hồng giữ lấy hoa hồng
Đành làm quả thị thơm cùng nước
Lại ngồi giặt áo cho chồng như xưa.
non.
2.5. Hiệu quả áp dụng của sáng kiến kinh nghiệm.
13
Với việc xây dựng kịch bản bài dạy theo phương pháp thảo luận nhóm
cùng với hệ thống câu hỏi phù hợp, trong tiết dạy văn bản “Tấm Cám”, mặc dù
vẫn còn nhiều thiếu sót nhưng tôi đã thực hiện được khá tốt mục tiêu bài học.
Trước hết, học sinh có hứng thú học tập. So với cách dạy trước đây của
chính bản thân và đồng nghiệp, việc vận dụng máy móc, rập khuôn các phương
pháp vấn đáp, thuyết trình khiến bài học trở nên hàn lâm, học sinh khó tiếp thu,
người thầy trở nên mờ nhạt, học sinh cũng thiếu tâm thế tiếp cận văn bản.
Thứ hai, qua bài dạy, tất cả học sinh đều tham gia một cách tích cực, tạo
nên một giờ học hiệu quả, sinh động. Bản thân tôi nhân thấy những điều đó đều
xuất phát từ việc mình thay đổi phương pháp dạy học để học sinh tự khám phá
nội dung bài học.
Trong thảo luận nhóm, việc nảy sinh các vấn đề tranh luận đi xa rời nội
dung bài học là điều khó tránh khỏi. Vì thế, giáo viên cũng cần thiết phải “mạo
hiểm” để học sinh lý giải vấn đề, phải đủ bản lĩnh để tiếp nhận, lí giải các ý kiến
chủ qua của học sinh để hướng vào kiến thức và kỹ năng chuẩn cho học sinh
nắm bắt.
Khi sử dụng Phương pháp thảo luận nhóm, người giáo viên phải luôn linh
hoạt, sáng tạo, không nên theo một khuôn mẫu chung giống như những đơn
thuốc cho sẵn. Thực tế cho thấy, sử dụng PPTLN, người giáo viên cần chú ý các
vấn đề sau:
14
Khi đưa ra câu hỏi thảo luận cần phải có tình huống tranh luận để phát
huy tính sáng tạo đến mức tối đa. Câu hỏi đưa ra phải mang tính “có vấn đề” và
cần nhiều người tham gia giải quyết.
Căn cứ vào lực học của từng học sinh, giáo viên phân ra ít nhất làm 5 loại:
giỏi, khá, trung bình, yếu và kém để từ đó tổ chức nhóm sao cho phù hợp năng
lực hoặc nhóm phân loại đối tượng. Theo kinh nghiệm của tôi, nên chia học sinh
theo nhóm đồng năng lực (tức trong nhóm có cả 5 loại trí năng trên), không nên
chia các nhóm toàn giỏi hoặc toàn yếu.
Mặt khác khi dạy giáo viên nên linh hoạt vận dụng phương pháp phát vấn
để học sinh làm việc cá nhân, khi đó câu hỏi cần nhằm vào đối tượng cụ thể (yếu
kém, khá hoặc trung bình, giỏi) để tất cả các đối tượng học sinh trong lớp đều
được làm việc thực sự.
Nội dung thảo luận cũng nên gắn liền với thực tiễn. Cần thảo luận những
vấn đề từ những sự kiện, hiện tượng hằng ngày mà học sinh quan sát được để
học sinh chủ động tìm tòi kiến thức mới một cách sáng tạo.
Phương pháp thảo luận nhóm không phải dùng để áp dụng cho tất cả các
bài dạy mà phải tuỳ thuộc vào mục đích, nội dung bài dạy, đặc điểm trình độ học
sinh. Giáo viên có thể vận dụng một vài biện pháp, phương pháp dạy học ở một
mình viết, không sao chép nội dung của
người khác.
(Ký và ghi rõ họ tên)
Lê Thị Bình
16
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1]. Hướng dẫn thực hiện Chuẩn kiến thức và kĩ năng môn Ngữ văn 10,
NXB Giáo dục Việt Nam, 2010.
[2]. Hướng dẫn thực hiện chương trình sách giáo khoa 10, môn Ngữ văn,
Phan Trọng Luận - Trần Đình Sử, NXB Giáo dục, 2008.
[3]. Phương pháp giảng dạy và đánh giá, TS. Lê Văn Hào (chủ biên),
Phòng Đào tạo Đại học và sau Đại học – Đại học Nha Trang, 2006.
[4]. Ngữ văn 10, Phan Trọng Luận (Tổng chủ biên), NXB Giáo dục 2010.
[5]. Sách giáo viên Ngữ văn 10, Phan Trọng Luận (Tổng chủ biên), NXB
Giáo dục, 2010.
[6]. Giáo dục kĩ năng sống trong dạy học môn Ngữ văn THPT, NXB Giáo
dục Việt Nam, 2010.
[7]. Văn học dân gian – những công trình nghiên cứu. Bùi Mạnh Nhị (chủ
biên). NXB Giáo dục, 2004.
[8]. Tham khảo một số tài liệu trên mạng internet
- />- />-Website: />- />
17