BÀI THU HOẠCH BDTX NĂM HỌC 2015-2016
Họ và tên giáo viên: DƯƠNG ANH VŨ
Tổ:
Tên và nội dung chuyên đề (Mô đun) : Kỹ thuật kiểm tra, đánh giá trong dạy học.
Mã Mô đun: THPT 24
CÂU HỎI VIẾT THU HOẠCH
NỘI DUNG BỒI DƯỠNG THƯỜNG XUYÊN 3 CỦA CÁN BỘ, GIÁO VIÊN
NĂM HỌC 2014 - 2015
1. Qua quá trình nghiên cứu tài liệu bồi dưỡng thường xuyên của Bộ GD&ĐT, đồng
chí hãy tóm tắt nội dung chính về kiến thức, kỹ năng qui định trong mục đích, nội
dung của từng Mô đun trong kế hoạch đã đăng ký.
(5 điểm)
2. Liên hệ với việc vận dụng nội dung của Mô đun vào quá trình thực hiện nhiệm vụ
được giao năm học 2014 - 20145? (5 điểm)
BÀI THU HOẠCH
Câu 1.
Đánh giá là một khâu quan trọng của quá trình giáo dục, vừa có vai trò kiểm
chứng kết quả của mục tiêu, nội dung và phuơng pháp dạy học, vừa góp phần điều chỉnh
kế hoạch giáo dục tiếp theo được tiến hành phù hợp và có hiệu quả. Hoạt động đánh giá
nếu được tiến hành một cách đồng bộ, khoa học, với các phuơng pháp và kĩ thuật phù
hợp sẽ có tác động rất tích cực đến quá trình giáo dục.
Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định việc đánh giá bằng điểm kết hợp với nhận xét
của giáo viên hoặc chỉ đánh giá bằng nhận xét của giáo viên cho từng môn học và hoạt
động giáo dục. Sau mỗi lớp và sau cấp học, có đánh giá, xếp loại kết quả giáo dục của
học sinh.
Vì vậy, để đánh giá đúng sự tiến bộ của học sinh, giáo viên cần xây dựng được hệ
thống đề kiểm tra, đánh giá. Kĩ thuật biên soạn đề kiểm tra có vai trò quyết định trong
xây dựng đề kiểm tra.
PHẦN 1. KĨ THUẬT BIÊN SOẠN ĐỀ KIỂM TRA
Để biên soạn một đề kiểm tra, ngưởi ra đề cần thực hiện theo quy trình sau:
Bước 1.Xác định mục đích của đề kiểm tra
kiến thức, từng cấp độ nhận thức.
Dưới đây là một số dạng tổng quát của khung ma trận đề kiểm tra:
Mẫu 1: Khung ma trận đề kiểm tra theo một hình thức
(Dùng cho loại đề kiểm tra TL hoặc TNKQ)
Tên Chủ đề
(nội dung, chương)
Nhận biết
(cấp độ 1)
Thông hiểu
(cấp độ 2)
Vận dụng
Cấp độ
Cấp độ thấp
cao
(cấp độ 3)
(cấp độ 4)
Chuẩn
Chuẩn KT,
KT,
KNcần kiểm
KNcần
tra
kiểm tra
… câu
… câu
…điểm
…điểm
Chuẩn KT,
KNcần kiểm
tra
… câu
…điểm
… câu
…điểm
… câu
…điểm
2
Chuẩn
KT,
KNcần
kiểm tra
… câu
…điểm
Cộng
…câu
… điểm
=…%
…câu
KT,
KNcần
kiểm tra
… câu
…điểm
…câu
… điểm
=…%
Mẫu 2: Khung ma trận đề kiểm tra kết hợp cả hai hình thức
(Dùng cho loại đề kiểm tra kết hợp TL và TNKQ)
Tên chủ đề
(nội dung,
chương…)
Nhận biết
(cấp độ 1)
Thông hiểu
(cấp độ 2)
TNKQ TL
TNKQ
TL
Chuẩn
Chuẩn Chuẩn Chuẩn
KT,
Nội
KT,
KT,
KT,
KT,
KNcần KNcần KNcần KNcần
kiểm tra kiểm tra kiểm tra kiểm tra
... câu ... câu ... câu ... câu
... câu
... điểm ... điểm ... điểm ... điểm
… điểm
Tỉ lệ %
=…%
Chuẩn
Chuẩn Chuẩn Chuẩn
KT,
Nội
KT,
KT,
KT,
KNcần
dung
KNcần KNcần KNcần
kiểm
Chương
kiểm tra kiểm tra kiểm tra
Chương Nội
KT,
KT,
KT,
KT,
KT,
KT,
KT,
KNcần
...
dung
KNcần KNcần KNcần KNcần KNcần KNcần KNcần
kiểm
Chủ đề
kiểm tra kiểm tra kiểm tra kiểm tra kiểm tra kiểm tra kiểm tra
tra
...
Số câu ... câu ... câu ... câu ... câu ... câu ... câu ... câu ... câu
Số
... điểm ... điểm ... điểm ... điểm ... điểm ... điểm ... điểm ... điểm
điểm
Tỉ lệ %
... câu
… điểm
=…%
* Các bước cơ bản thiết lập ma trận đề kiểm tra:
− Bước 1: liệt kê tên các chủ đề (nội dung, chương...) cần kiểm tra.
− Bước 2: Viết các chuẩn cần đánh giá đối với mọi cấp độ tư duy.
công dụng của mỗi loại để lựa chọn loại nào thích hợp với mục tiêu khảo sát hoặc mục
tiêu dạy học. Các loại câu hỏi trắc nghiệm khách quan trên đây đều đuợc sử dụng có
hiệu quả trong giở lên lớp. Tuy nhiên hiện nay, trong các đề bài kiểm tra 1 tiết, học kỳ,
cuối năm... (trong đánh giá tổng kết) ngưởi ta thường dùng các câu hỏi nhiều lựa chọn,
vì: Khả năng phân biệt học sinh cao, đánh giá được kiến thức của học sinh trên một diện
rộng; hạn chế được khả năng học tủ, học lệch, học vẹt của học sinh, chấm điểm khách
quan, nhanh chóng, chính xác, có thể sử dụng công nghệ thông tin để chấm.
* Việc biên soạn câu hỏi theo ma trận cần đảm bảo: loại câu hỏi, số câu hỏi và nội
dung câu hỏi do ma trận đề quy định, mỗi câu hỏi trắc nghiệm khách quan chỉ kiểm tra
một chuẩn hoặc một vấn đề, khái niệm.
* Các yêu cầu đối với câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn.
− Câu hỏi phải đánh giá những nội dung quan trọng của chương trình;
− Câu hỏi phải phù hợp với các tiêu chí ra đề kiểm tra về mặt trình bày và số điểm
tương ứng;
− Câu dẫn phải đặt ra câu hỏi trực tiếp hoặc một vấn đề cụ thể;
4
− Không trích dẫn nguyên văn những câu có sẵn trong sách giáo khoa;
− Từ ngữ, cấu trúc của câu hỏi phải rõ ràng và dễ hiểu đối với mọi học sinh;
− Mỗi phương án nhiễu phải hợp lý đối với những học sinh không nắm vững kiến
thức
− Mỗi phương án sai nên xây dựng dựa trên các lỗi hay nhận thức sai lệch của học
sinh
− Đáp án đúng của câu hỏi này phải độc lập với đáp án đúng của các câu hỏi khác
trong bài kiểm tra;
− Phần lựa chọn phải thống nhất và phù hợp với nội dung của câu dẫn;
− Mỗi câu hỏi chỉ có một đáp án đúng, chính xác nhất;
− Không đưa ra phương án “Tất cả các đáp án trên đều đúng” hoặc “không có
phương án nào đúng”.
nhiệm vụ rõ ràng; Sử dụng những từ ngữ có nghĩa rõ ràng, đơn giản; Đảm bảo rằng
những đáp án đúng thực sự đúng; Kiểm tra lỗi ngữ pháp; Các phương án nhiễu cần có vẻ
đúng; Không sử dụng “ Không có phương án nào "; Sắp xếp đề kiểm tra sao cho các
phương án lựa chọn (A, B, C, D đối với câu hỏi trắc nghiệm) được sắp xếp ngẫu nhiên;
Phù hợp với khả năng của đối tượng học sinh được kiểm tra.
Làm việc nhóm chuyên gia/hội đồng thẩm định
Rà soát các câu hỏi thông qua một nhóm chuyên gia/hội đồng, trong đó có một thành
viên được bầu làm nhóm trưởng.
− Lựa chọn các câu hỏi để xem xét.
− Nhóm chuyên gia/hội đồng cần có nhiều câu hỏi.
− Đồng thời cần có nhiều phương án nhiễu hơn mức cần thiết cho mỗi câu hỏi.
− Thành tập một nhóm gồm tối đa 10 chuyên gia môn học.
− Bổ nhiệm một thành vìên làm chủ tịch để kiểm soát quá trình rà soát câu hỏi.
− Lựa chọn các câu hỏi để rà soát.
− Cung cấp cho mọi thành viên của hội đồng 1 câu hỏi.
− Đánh dấu các câu hỏi.
− Mọi thành viên hội đồng sẽ rà soát câu hỏi mình được giao và ghi chú về những lỗi
sai/khuyến nghị để sửa các lỗi đó.
− Giữ những nhận xét đó và chuyển câu hỏi cho thành viên tiếp theo mà không thảo
luận về phần việc của mình.
* Những lỗi sai phổ biến khi biên soạn câu hỏi trắc nghiệm khách quan, trắc
nghiệm tự luận
Khi biên soạn câu hỏi, cần tránh các trường hợp sau:
− Các câu hỏi không phù hợp với trình độ của học sinh, diễn đạt không chính xác về
mặt ngôn ngữ, không đưa ra một vấn đề duy nhất, dựa trên những thực tế hiển nhiên.
− Những phương án nhiễu không hợp lí, không gần với đáp án và không đồng đẳng
với nhau, cho phép học sinh đoán được câu trả lời
− Các câu dẫn không định hướng cho tư duy của học sinh. Đưa ra những gợi ý cho
học sinh thông qua sử dụng cú pháp hoặc từ ngữ liên quan.
− Sử dụng ngôn ngữ phủ định. Sử dụng những câu hỏi “ đánh lừa" học sinh. Sử dụng
thích hợp không? Thời gian dự kiến có phù hợp không?
- Thử đề kiểm tra để tiếp tục điều chỉnh đề cho phù hợp với mục tiêu, chuẩn chương
trình và đối tượng học sinh (nếu có điều kiện).
- Hoàn thiện đề, hướng dẫn chấm và thang điểm.
PHẦN II. KĨ THUẬT ĐÁNH GIÁ TRONG DẠY HỌC
1. Vận dụng kiểm tra, đánh giá theo hình thức trắc nghiệm, tự luận
* Theo ý kiến của các chuyên gia về trắc nghiệm, ta nên sử dụng tự luận để khảo sát
thành quả học tập trong những trường hợp dưới đây:
− Khi nhóm học sinh được khảo sát không quá đông và đề khảo sát chỉ được sử dụng
một lần, không dùng lại nữa.
− Khi giáo vìên cố gắng tìm mọi cách có thể được để khuyến khích sự phát triển kĩ
năng diễn tả bằng văn viết
− Khi giáo vìên tin tưởng về khả năng phê phán và chấm bài của mình một cách vô
tư và chính xác hơn là vào khả năng soạn thảo những câu trắc nghiệm thật tốt
− Khi không có nhiều thởi gian soạn thảo bài khảo sát nhưng lại có nhiều thời gian
để chấm bài
* Ngược lại, ta nên sử dụng trắc nghiệm khách quan trong những trưởng hợp sau:
− Khi giáo vìên cần khảo sát thành quả học tập của số đông học sinh, hay muốn rằng
bài khảo sát ấy có thể được sử dụng lại vào một lúc khác
− Khi giáo viên muốn có những điểm số đáng tin cậy, không phụ thuộc vào chủ quan
người chấm bài.
− Khi giáo vìên có nhiều câu hỏi trắc nghiệm tốt đã được dự trữ sẵn đề có thể lựa
chọn và soạn lại một bài trắc nghiệm mới và muốn chấm nhanh để sớm công bố kết quả.
− Khi giáo viên muốn ngăn ngừa học tủ, học vẹt.
2. Áp dụng quy trình đánh giá chung và quy trình biên soạn đề kiểm tra trong
đánh giá tổng kết.
* Xác định các bước cùa quy trình đánh giá chung
− Trình bày vấn đề và mục đích đánh giá
− Xác định đối tượng, phạm vi và lĩnh vực đánh giá
− Liệt kê các điều kiện tối thiểu: chỉ ra các điều kiện tối thiểu cần phải có khi đánh
Nhà trường bổ sung thêm những tài liệu tham khảo về công tác kiểm tra đánh giá học
sinh, tiếp tục bổ sung ngân hàng đề phong phú, thống nhất về nội dung, cấu trúc ra đề
tiếp tục giáo dục cho học sinh có nhận trhuwcs và thái độ đúng đắn trong kiểm tra và thi
cử
Tăng thời lượng vào các bài ôn tập chương, ôn tập cuối kỳ cho học sinh, để công tác
chuẩn bị cho làm bài kiểm tra của học sinh đạt kết quả tốt.
Ngoài ra nhà trường cũng nên thường xuyên tổ chức hướng dẫn để học sinh biết cách tự
đánh giá, học sinh được đánh giá lẫn nhau, mọi sự đổi mới kiểm tra đánh giá phải làm
cho học sinh tích cực hơn, nỗ lực hơn và phải dẫn đến sự biến đổi ở người học (không
chỉ là làm chủ kiến thức, kỹ năng… mà quan trọng hơn thay đổi cả thái độ, niềm tin).
CBQL, GV, cha me học sinh cần nhất quán: học để phát triển các kỹ năng, hình thành
hứng thú, sự tự tin… chứ không phải học vì điểm số. GV phải hình thành ở học sinh khả
năng tự kiểm tra, tự đánh giá. Giáo viên giúp học sinh hiểu rõ nhiệm vụ và có thể tự
mình tổ chức các hoạt động học của mình dưới dự hướng dẫn. Giáo viên phải chọn lựa
kỹ thuật và phương pháp giảng dạy ở trên lớp để kích thích học sinh chủ động chiếm
lĩnh tri thức. Quá trình tổ chức dạy học ấy, GV tôn trọng sự khác biệt, khuyến khích học
sinh phải nỗ lực khám phá tri thức theo cách riêng của mình, kinh nghiệm riêng của
mình, bởi mỗi học sinh học theo những phong cách khác nhau. Có em học thụ động, có
em chủ động, những em thông minh hơn ở lĩnh vực ngôn ngữ, có em thông minh hơn ở
linh vực tính toán suy luận logic… Nhiệm vụ của giáo viên là tổ chức hướng dẫn để học
sinh thể hiện bộc lộc, làm sao để mỗi học sinh nói ra những suy nghĩ (trân trọng mọi suy
nghĩ dù đúng hay sai), tạo mọi cơ hội để HS nêu câu hỏi/thắc mắc, tranh luận với GV…
và được trải nghiệm các tình huống thực tiễn để thực hành những điều mình học. HS
nhận ra những điểm mình còn đang thiếu, những sai sót thông qua phản hồi, đánh giá.
Và đặc biệt nữa là học sinh phải tương tác với nhau để được thể hiện mình, nuôi dưỡng
hứng thú, sự tự tin. Thông qua tương tác (đưa câu hỏi, thảo luận nhóm…) từ đó GV mới
phát hiện được đâu là lỗi/ thiếu sót trong quá trình tư duy, lập luận, biết được trong đầu
HS đang nghĩ gì. Đấy chính là cách dạy học dựa trên tiếp cận quá trình và dựa trên tiếp