“Khai song” và cõi lòng đầy trắc ẩn
của Nguyễn Du
VÕ PHÚC CHÂU
1
***
Truyện Kiều là phần tinh hoa phát tiết của đại thi hào Nguyễn Du. Một thời gian
dài, ta tưởng chừng, chỉ cần Truyện Kiều, thêm nữa là Văn chiêu hồn, Nguyễn Du đã đủ
sừng sững và thành pha lê trong suốt, qua sự ngưỡng mộ và thấu hiểu của người đọc. Nhưng
kỳ thực, Nguyễn Du vẫn còn phần ngọc trong đá, từng bị chôn vùi trong cát bụi thời gian và
sự hững hờ của người đọc. Đó chính là phần thơ chữ Hán. Nó như phần nhật thực của một
tâm hồn cô đơn suốt hai thế kỷ. Nó kết tinh nguyên chất những tư tưởng lớn, tài năng kiệt
xuất, vượt tầm thời đại, của một nhà nhân văn chủ nghĩa. Ngày nay, thơ chữ Hán Nguyễn Du
đang được tìm hiểu, được nghiên cứu có hệ thống, đã phát lộ phần ngọc quý. Góp phần lau
sáng chuỗi ngọc đó chính là các nhà nghiên cứu văn học, dưới góc độ thi pháp. Soi rọi tác
phẩm từ góc độ này, người đọc từng bước khám phá được tầng sâu nỗi niềm, tầm cao tư
tưởng của đại thi hào dân tộc.
Học tập người đi trước, bằng khả năng có hạn, chúng tôi xin được phân tích một
trong số di sản thơ chữ Hán của Nguyễn Du, bài thơ Khai song:
“Môn tiền yên cảnh cận như hà,
Nhàn nhật khai song sinh ý đa.
Lục nguyệt bồi phong bằng tỉ địa,
Nhất đình tích vũ nghỉ di oa.
Thanh chiên cựu vật khổ trân tích,
Bạch phát hùng tâm không đốt ta.
Tái bệnh thượng tu điều nhiếp lực,
Bất tri thu tứ đáo thùy gia.”
Dịch nghĩa:
“Cảnh khói mây trước cửa gần đây không biết thế nào?
Ngày nhàn mở cửa sổ thấy nhiều sinh ý.
Sáu tháng liền chim bằng cỡi gió lớn mà đổi chỗ,
Nước mưa đầy sân, kiến phải dời tổ.
Con người khát khao hướng ngoại ấy quả luôn vọng tưởng những điều lớn lao: cảnh
khói mây trước cửa. Nghĩ đến cảnh khói mây cũng tức là trăn trở về vũ trụ, về sự biến đổi của
không gian và sự chảy trôi của thời gian. Cảnh tượng ấy chẳng đâu xa, ngay trước cửa nhà
mình, đang gợn lên trong tâm trí mình. Con người quan tâm cuộc đời đến thế, lại có khi, trở
nên lạc lõng, ngơ ngác với cả mây khói ngoài kia, đành phải tự hỏi chính mình: gần đây
không biết thế nào?
Thì ra, đã lâu, nhà thơ tuyệt giao với cuộc sống bên ngoài căn nhà, tự khép mình vào
không gian mái che bé nhỏ. Tâm hồn ấy, chắc hẳn, đang mang một khối tâm sự đầy u uẩn,
luôn muốn biết tất cả, nhưng tự cách ly mình với tất cả. Thật lạ, một nho sĩ dấn thân, từng mơ
vung kiếm giữa trời xanh, từng ngược xuôi, am tường sáu cõi, vì sao phải chịu ẩn mình trong
nhà, lại còn gài chặt luôn cửa sổ? Xưa nay, cuộc đời bao kẻ sĩ phong kiến, phần nhiều, đều
dong ruổi theo chân trời góc biển, chỉ mong thỏa chí tang bồng. Nguyễn Du, bình sinh đã là
kẻ sĩ như thế! Giả như, nay chán công danh, về ẩn dật, sao không như Ức Trai ngày xưa, cứ
thong dong rừng trúc mà hóng mát, ngâm thơ; hay như Bạch Vân cư sĩ, dựng am, nằm cười
thế sự. Cớ gì, nhà thơ phải lặng lẽ thu mình trong nỗi cô đơn, biệt lập đến thế?
Ngẫm ra, giữa thời đại “giông bão nổ trăm miền”
(2)
, “đâu đâu cũng là sông Mịch
La”
(3)
, con người tìm đâu một góc bình yên mà vui thú lâm tuyền? Giấu mình trong gian nhà
nhỏ, phải chăng, nhà thơ đang trốn chạy một cái gì ghê gớm bên ngoài cuộc đời? Hay đó là
cách quay lưng, để không phải nhìn một cái gì chán chường, chua chát lắm? Hay cũng vì mặc
cảm thiếu cơm rách áo hàng ngày, vì nỗi buồn đau bệnh triền miên, nhà thơ không muốn bắt
gặp cái nhìn thương hại, mối từ tâm của bất cứ một ai?
Thực tế, suốt chặng đời long đong phiêu bạt, trong nhiều không gian mái che tạm bợ,
biết bao lần nhà thơ đóng cửa. Cả cửa sổ cũng im ỉm đóng, ngay lúc xuân về:
“Đóng cửa không hay xuân sớm hay muộn
Đường lê hoa đã rụng tơi bời”
(Tạp ngâm)
chứa toàn ý tưởng buồn đau, u ám hay sao? May mà hôm nay, sinh ý đã tràn về, bao nhiêu
nặng nề, u uẩn, dần như tan biến.
Vậy, nhà thơ đang thấy gì ngoài kia? Không phải mây khói của trời, cỏ cây của đất.
Từ ô cửa vuông chật hẹp, của căn nhà và của cảnh đời tù túng, nhà thơ bất ngờ gặp được hình
ảnh lớn lao, kỳ vĩ:
“Sáu tháng liền chim bằng cỡi gió lớn mà đổi chỗ”
Hình ảnh thật kiêu hùng! Nó chính là cánh chim bằng đã chở khí phách của Trang
Tử ngày xưa: Chim bằng bay qua biển Nam, làm sóng nước nổi lên ba nghìn dặm, nương gió
mà bay lên cao chín vạn dặm, bay sáu tháng liền mới nghỉ,… Không có tầm nhìn vòi vọi,
Nguyễn Du sao có thể gặp được cánh chim bằng của hàng nghìn năm trước? Không có khí
phách ngất trời, Nguyễn Du sao có thể gặp được sinh ý, lại đồng điệu với một Trang Tử lừng
lẫy bao đời? Dường như, chỉ cần giây phút rời bỏ con người lo âu, con người tráng chí trong
Nguyễn Du liền trỗi dậy. Cánh chim bằng chính là biểu tượng đầy lãng mạn, kết tinh khí
khách, khát vọng của đấng trượng phu chí lớn. Chẳng biết, Nguyễn Du đang vọng tưởng
người anh hùng nào trong đời thực? Hay nó là hình ảnh, trong mơ ước, của chính nhà thơ? Rõ
ràng, khi cửa sổ mở, Nguyễn Du đã thành chứng nhân cho một cuộc bể dâu, sững sờ nhận ra
thời thế đang xuất hiện và cần thêm nữa, những cánh chim bằng cỡi gió. Có lẽ, lúc này,
Nguyễn Du đang tự hồi sinh một cánh chim bằng, trong phần lãng mạn nhất của hồn mình,
đời mình. Bởi, nó vốn là ước mơ náo động suốt một thời tuổi trẻ của thi nhân. Hỏi còn đợi
bao giờ mới mơ làm đấng anh hùng, khi vũ trụ đang làm cuộc chuyển dời ghê gớm:
“Nước mưa đầy sân, kiến phải dời tổ”
Hình ảnh thơ chuyển đột ngột, từ tột đỉnh chín tầng mây trở về mặt đất, từ cánh chim
cỡi gió trở về cùng cái kiến con ong. Trong thơ Nguyễn Du, thỉnh thoảng, lại xuất hiện những
côn trùng bé nhỏ. Nhà thơ luôn quan sát cái thế giới tí hon đó, để rồi, soi rọi, chiêm nghiệm
sâu sắc hơn về cuộc đời, về bản thân mình. Đêm tha hương, nằm thao thức, nghe tiếng côn
trùng kêu, lòng thi nhân thêm xót xa, buồn bã (Đêm thu). Nhìn côn trùng chim chóc bay mất
hết, người rơi nước mắt vì cảnh binh lửa hoang tàn (Xua nỗi buồn). Kiên quyết không sống
như loài kiến mối, con người muốn giữ mãi được hùng tâm (Tạp ngâm),… Ở bài thơ này,
hình ảnh mang đầy ẩn ý. Nhà thơ đâu dễ mơ đến cánh chim bằng, rồi chỉ quay về tả thực, cơn
mưa dầm sùi sụt của tiết trời tháng Bảy. Có thể, lúc này, nhà thơ đang nhìn ra cuộc sống bằng
“Tóc bạc rồi, dù còn có hùng tâm nhưng chỉ còn biết than thở”
Hai tiếng đốt ta (lấy làm lạ mà than thở) bỗng nhắc về chuyện cũ: đời Tấn, Ân Hạo
đang làm quan, bị phế truất, cả ngày cứ lấy tay viết lên không bốn chữ “đốt đốt quái sự” (chà
chà sự lạ!). Chuyện lạ của người xưa, không ngờ, nay đã vận vào tác giả. Nguyễn Du ngạc
nhiên với chính mình, bởi tráng chí còn hừng hực trong huyết quản, nhưng soi gương, tóc đã
bạc rồi. Còn gì chán hơn, khi tuổi chưa cao mà đầu đã bạc? Còn gì buồn hơn, khi thoáng thấy
tuổi già mà chưa gặp công danh? Còn gì đau hơn, khi có hùng tâm nhưng làm người vô dụng?
Đã bao lần, Nguyễn Du đưa mái tóc bạc vào thơ. Mái tóc xõa dài như nỗi bất đắc chí dãi ra
cùng trời đất. Nỗi buồn chen lẫn nỗi đau, nhà thơ đành bật lên tiếng thở dài xa xót. Cánh chim
bằng còn cơ hội nào tung cánh, tấm nệm xanh chẳng biết có lành không? Nguyễn Du như
ngọn cỏ bồng phiêu bạt, tự vận lấy thân phận của kẻ sinh bất phùng thời.
Thật đáng buồn, con người mở cửa tìm sinh ý nhưng chẳng được bao sinh khí. Hình
như chính cảnh khói mây, trời mưa gió khiến người tóc bạc trở lại bệnh xưa:
“Bệnh tái phát nên phải gắng sức điều trị”
Bật ra tiếng than đã buồn, biết mình tái bệnh lại càng buồn hơn. Nguyễn Du phải lâm
bệnh cả đời, không hẳn vì phong trần lang bạt, không hẳn vì cửa nhà ngột ngạt, âm u. Bệnh
xưa tái phát chỉ vì bao u uất, nghẹn ngào không sao giải tỏa. Thanh kiếm sắc bên mình là để
xông pha trận mạc, cánh chim bằng sinh ra là để cỡi gió tận chín tầng mây. Thế mà, tất cả cứ
lẽo đẽo sau lưng kẻ tuổi già. Hễ con người tráng chí càng trỗi lên thì con người âu lo càng đổ
bệnh. Bệnh xác thân thuốc thang còn dễ, bệnh tinh thần biết trị làm sao? Còn ai có thể chạy
chữa cho một người thất chí, giờ sắp bị cướp cả tấm nệm xanh. Nguyễn Du thành ra cùng cực
cô đơn, đành tự lo liệu lấy thân mình, đành phải “giật mình, mình lại thương mình xót xa”
(4)
.
(
4)
Lẩy Kiều.
5
Khi đã bi quan, con người dễ sinh mặc cảm. Gặp toàn rủi ro, mất mát, người ta càng
cảm giác mọi thứ tốt đẹp xung quanh đều không phải cho mình. Nguyễn Du chừng như đang