Học viện khổng tử trong chính sách ngoại giao văn hóa của trung quốc - Pdf 45

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
---------------------------------------

LÊ NGỌC LIÊN

HỌC VIỆN KHỔNG TỬ TRONG CHÍNH SÁCH
NGOẠI GIAO VĂN HÓA CỦA TRUNG QUỐC

LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Châu Á học

Hà Nội – 2017


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
---------------------------------------

LÊ NGỌC LIÊN

HỌC VIỆN KHỔNG TỬ TRONG CHÍNH SÁCH
NGOẠI GIAO VĂN HÓA CỦA TRUNG QUỐC

Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Châu Á học
Mã số: 60 31 06 08

Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Thị Thu Phương

Hà Nội – 2017


trong luận văn chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót. Rất mong nhận được sự góp
ý của các thầy cô và bạn đọc để tôi có thể hoàn thiện hơn nữa luận văn của mình.
Xin chân thành cảm ơn!
HỌC VIÊN
Lê Ngọc Liên


MỤC LỤC
MỤC LỤC ..................................................................................................................................... 1
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT .............................................................................................. 3
DANH MỤC BẢNG BIỂU ...................................................................................................... 4
MỞ ĐẦU ........................................................................................................................................ 5
Chƣơng 1: VỊ TRÍ, VAI TRÒ CỦA HỌC VIỆN KHỔNG TỬ TRONG
CHÍNH SÁCH NGOẠI GIAO VĂN HÓA CỦA TRUNG QUỐC ........................ 19
1.1. Cơ sở lý luận về ngoại giao văn hóa .................................................................. 19
1.1.1. Khái niệm ngoại giao, văn hóa và ngoại giao văn hóa .................................. 19
1.1.2. Chủ thể, đối tượng, mục đích và phương thức của ngoại giao văn hóa ............. 25
1.1.3. Vai trò của ngoại giao văn hóa trong chính sách ngoại giao ........................ 27
1.2. Khái quát chính sách ngoại giao văn hóa Trung Quốc từ năm 2004 đến nay........ 29
1.2.1. Mục tiêu của chính sách ngoại giao văn hóa Trung Quốc ............................. 29
1.2.2. Các chính sách ngoại giao văn hóa Trung Quốc từ năm 2004 đến nay ............. 31
1.3. Lịch sử hình thành, vị trí, vai trò của Học viện Khổng Tử trong chính sách
ngoại giao văn hóa của Trung Quốc ......................................................................... 35
1.3.1. Lịch sử hình thành Học viện Khổng Tử .......................................................... 35
1.3.2. Vị trí, vai trò của Học viện Khổng Tử trong chính sách ngoại giao
văn hóa của Trung Quốc ........................................................................................... 38
TIỂU KẾT................................................................................................................ 43
Chƣơng 2: CƠ CẤU TỔ CHỨC, PHƢƠNG THỨC TRIỂN KHAI
CHÍNH SÁCH NGOẠI GIAO VĂN HÓA TRUNG QUỐC CỦA HỌC
VIỆN KHỔNG TỬ Ở NƢỚC NGOÀI .............................................................................. 44

Khổng Tử ................................................................................................................... 91
TIỂU KẾT................................................................................................................ 95
KẾT LUẬN .................................................................................................................................. 97
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO......................................................................... 100

2


DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

CHLB

Business Chinese Test
Chứng chỉ năng lực tiếng Trung thương mại
Cộng hòa liên bang

CHND

Cộng hòa nhân dân

CNXH

Chủ nghĩa xã hội

HSK
HVKT

汉语水平考试
Chứng chỉ năng lực tiếng Trung
Học viện Khổng Tử

Sơ đồ tổ chức Hán Biện

Hình 2.3:

Sơ đồ tổ chức Tổng bộ Học viện Khổng Tử

Hình 2.4:

Sơ đồ tổ chức bộ máy Học viện Khổng Tử

Bảng 2.5:

Danh sách Học viện Khổng Tử tại Australia

Bảng 2.6:

Danh sách Học viện Khổng Tử tại CHLB Đức

Bảng 3.1:

Đánh giá của đối tác hợp tác về Học viện Khổng Tử

4


MỞ ĐẦU
1. Lý do lựa chọn đề tài
1. Cộng hòa nhân dân Trung Hoa từ lâu đã được biết đến là một quốc gia có
diện tích rộng lớn, dân số đông với nền văn minh 5.000 năm phát triển rực rỡ. Từ
cuối thế kỷ XX đến nay, Trung Quốc trỗi dậy mạnh mẽ như một cường quốc phát

nhanh số lượng ở các nước phương Tây, song phải 10 năm sau khi ra đời, HVKT
mới có cơ sở đầu tiên tại Việt Nam. Nghiên cứu về HVKT cũng như đánh giá thực
chất hiệu quả của tổ chức này tại các quốc gia khác sẽ giúp đưa ra những gợi mở về
đối sách của Việt Nam đối với những hoạt động mà HVKT sẽ triển khai trong thời
gian tới.
Những trình bày nói trên cho thấy, đề tài “Học viện Khổng Tử trong chính
sách ngoại giao văn hóa của Trung Quốc” không chỉ có tính cấp thiết về mặt lý
luận và khoa học mà còn có giá trị thực tiễn đối với nước ta. Kết quả của đề tài sẽ
cung cấp những nhận thức đầy đủ hơn về cơ cấu tổ chức và phương thức hoạt động
của HVKT với vai trò là một bộ phận của chính sách NGVH Trung Quốc từ đó
đóng góp một số đề xuất trong việc quản lý, giám sát các hoạt động của HVKT tại
Việt Nam, đảm bảo phù hợp với phong tục, tập quán và các quy định của pháp luật.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Bước sang thế kỷ XXI, cùng với những bước đi nhanh chóng của quá trình
toàn cầu hóa, các mối quan hệ quốc tế cũng không ngừng diễn ra phức tạp xuất phát
từ sự bất đồng về quan điểm và mâu thuẫn về lợi ích giữa các quốc gia. Trong bối
cảnh đó, việc tìm ra một phương thức mới trong quan hệ quốc tế trong đó chú trọng
đến vai trò của các giá trị văn hóa đã và đang thu hút sự quan tâm của nhiều nhà
nghiên cứu trên thế giới. Trên thực tế, những vấn đề cơ bản về NGVH đã bắt đầu
được hình thành từ sau Chiến tranh lạnh, trở thành cơ sở và nền tảng cho những
nghiên cứu tiếp sau về hoạt động NGVH của nhiều quốc gia cụ thể, trong đó có
Trung Quốc. Đối với trường hợp Trung Quốc, chính sách NGVH của nước này
được các học giả quan tầm từ những năm cuối thế XX. Đến năm 2004, Trung Quốc
chính thức thành lập tổ chức giáo dục, văn hóa của mình với tên gọi HVKT, và chỉ
hai năm sau đó, khoảng năm 2006, cơ cấu tổ chức cũng như các phương thức thúc
đẩy NGVH của HVKT đã thu hút sự quan tâm của các học giả bao gồm cả phương
Tây và châu Á. Trên cơ sở tham khảo 81 tài liệu, trong đó có 42 tài liệu tiếng Việt,

6



7


Á và Trung Đông, từ đó nêu lên tình hình gia tăng sức mạnh mềm văn hóa của
Trung Quốc tại các khu vực này và tập trung vào một số quốc gia.
Ngoài ra, còn một số nghiên cứu khác cũng nhấn mạnh vị trí và vai trò của
yếu tố văn hóa cũng như NGVH Trung Quốc trong việc gia tăng sức mạnh mềm có
thể kể đến như: Nguồn và giới hạn của “sức mạnh mềm” của Trung Quốc (Sources
and Limits of China Soft Power, 2006) của tác giả Bates Gill và Yanzhong Huang;
Sức mạnh mềm: Trung Quốc trên vũ đài toàn cầu (Soft Power: China on the Global
Stage, 2009) của Alan Hunter; Sự thúc đẩy học tiếng Trung và sức mạnh mềm của
Trung Quốc (The Promotion of Chinese Language Learning and China’s Soft
Power, 2008) của Jeffrey Gil…
Bước sang thập niên thứ hai của thế kỷ XXI, khi mà bản thân Trung Quốc đã
và đang cố gắng hướng sự tập trung của dư luận quốc tế vào cái gọi là ―xã hội hài
hòa‖ hay ―trỗi dậy hòa bình‖ của mình song lại đồng thời gây ra những căng thẳng
với các quốc gia trong khu vực đặc biệt về vấn đề chủ quyền lãnh thổ, các nghiên
cứu chuyển dần theo hướng nhìn nhận NGVH như là một biện pháp để Trung Quốc
xoa dịu dư luận thế giới. Tiêu biểu có thể kể đến công trình Khái quát về ba chiến
pháp của Trung Quốc (Brief on China’s three warfares) của Timothy A. Walton,
xác định truyền thông là một kênh NGVH để tạo dựng dư luận nhằm xây dựng hình
ảnh quốc gia và bảo vệ lợi ích quốc gia.
Nhóm các công trình nghiên cứu về cơ cấu, chức năng, vai trò, tác động của
Học viện Khổng Tử trên phạm vi toàn cầu và các nghiên cứu đối với một số trường
hợp cụ thể tại Đức, Australia, châu Phi.
Học viện Khổng Tử đầu tiên được Trung Quốc thành lập tại Seoul, Hàn
Quốc năm 2004, do vậy những nghiên cứu liên quan đến tổ chức này cũng được bắt
đầu khá muộn. Trong số những tài liệu công bố bằng tiếng Anh đã thu thập được,
nghiên cứu đầu tiên có nhắc đến HVKT là công trình Sự trỗi dạy của ngoại giao

giao công cộng Trung Quốc: Sự gia tăng của các Học viện Khổng Tử (Chinese
Public Diplomacy: The rise of the Confucius Institute). Trong nghiên cứu này, tác giả
đã dành một phần lớn nội dung để giới thiệu về HVKT với vai trò là ―ngôi sao trong
chính sách ngoại giao công cộng của Trung Quốc‖ [45, tr. 98]. Đồng thời, trên cơ sở
nghiên cứu một số trường hợp điển hình tại Đức và Australia, ông đã nhấn mạnh sự
đóng góp quan trọng của HVKT vào nền ngoại giao tổng thể của Trung Quốc song

9


cũng coi sự gia tăng nhanh chóng của các HVKT như một cuộc ―tấn công quyến rũ‖
[45, tr. 3] của nước này và đặt vấn đề rằng tổ chức này là công cụ để Trung Quốc
tăng cường ảnh hưởng địa chính trị của mình trên thế giới. Đây là công trình có giá trị
cả về mặt lý luận và thực tiễn, tác giả đã áp dụng khung lý thuyết về ngoại giao công
cộng để nghiên cứu các trường hợp HVKT cụ thể, từ đó đưa ra những kiến thức
chuyên sâu về tổ chức và hoạt động của tổ chức này. Trong quá trình thực hiện luận
văn, chúng tôi sẽ tham khảo cách tiếp cận này để làm rõ cơ cấu, chức năng của
HVKT cũng như áp dụng để xem xét, đánh giá trường hợp HVKT tại Việt Nam.
Tóm lại, các nghiên cứu của các học giả phương Tây chủ yếu là xây dựng hệ
thống cơ sở lý luận về NGVH bao gồm hình thành hệ thống khái niệm, xác định vai
trò, vị trí của NGVH trong chiến lược tổng thể phát triển quốc gia. Các công trình
liên quan đến NGVH Trung Quốc kế thừa khung lý luận về NGVH, đi sâu làm rõ
những đặc điểm cũng như các biện pháp NGVH mà Trung Quốc triển khai nhằm
gia tăng sức mạnh mềm trên thế giới.
Đối với các công trình nghiên cứu HVKT, các tác giả đã chỉ ra cách thức tổ
chức và hoạt động của tổ chức này đồng thời phân tích vị trí, chức năng của nó
trong chiến lược tổng thể của Trung Quốc. Về cơ bản, các nghiên cứu chủ yếu đặt
HVKT trong mối quan hệ là bộ phận cấu thành của NGVH, là một kênh quan trọng
của NGVH trong việc gia tăng sức mạnh mềm quốc gia. Mặt khác, xuất phát từ
những xung đột trong thực tiễn triển khai HVKT tại nhiều quốc gia phương Tây, các

HVKT tương đối đa dạng, phong phú. Có thể phân theo các nhóm sau:
Nhóm các công trình nghiên cứu về nhận thức, mục tiêu, vai trò của NGVH
Trung Quốc đối với việc nâng cao sức mạnh mềm văn hóa Trung Quốc
Ngoại giao văn hóa Trung Quốc ngày càng thu hút sự quan tâm nghiên cứu
của các học giả nước này. Năm 2006, Luận án tiến sĩ của Mậu Khai Kim (缪开金),
đề tài Nghiên cứu về ngoại giao văn hóa Trung Quốc (中国文化外交研究) tại
Trường Đảng Trung ương Trung Quốc đã cung cấp cái nhìn toàn cảnh về NGVH
Trung Quốc, từ lịch sử phát triển, hệ thống tổ chức, cách thức tiến hành đến thành
tựu đạt được và những vấn đề còn tồn tại. Tác giả Bành Tân Lương (彭新良) trong
tác phẩm Ngoại giao văn hóa và sức mạnh mềm Trung Quốc: Một góc nhìn toàn cầu
hóa (文化外交与中国软实力:一种全球化视角) phân tích khá chi tiết về NGVH.
Theo ông, ―NGVH về cơ bản bao gồm tất cả các hoạt động ngoại giao hòa bình của
nhà nước có chủ quyền trong đó có văn hóa với mục tiêu bảo vệ lợi ích văn hóa và

11


thực hiện mục tiêu chiến lược văn hóa đối ngoại của nước đó dưới sự chỉ đạo của
chính sách đối ngoại nhất định‖ [12, tr. 76].
Bước sang thập niên thứ hai của thế XXI, các công trình nghiên cứu về NGVH
Trung Quốc đi sâu hơn vào thực tiễn triển khai NGVH và chỉ ra những thách thức
cũng như hướng đi mới cho công tác này. Bài viết Ngoại giao văn hóa với việc xây
dựng hình tượng quốc gia Trung Quốc (文化外交与中国国家形象塑造) của tác giả
Khang Phủ (康甫) đăng trên Tạp chí 文化论苑 số 2/2014 đã điểm lại lịch sử phát
triển NGVH Trung Quốc, chỉ ra những thành quả và hạn chế của công tác này, trên
cơ sở đó chỉ ra những hướng đi mới cho NGVH Trung Quốc. Trong công trình
nghiên cứu Vài suy nghĩ về cơ hội, thách thức và chiến lược của ngoại giao văn hóa
Trung Quốc (中国文化外交的机遇、挑战与战略思考), tác giả Lỗ Thế Nguy (鲁世
巍) nhận định rằng ―NGVH đã trở thành một điểm tăng trưởng ngoại giao mới, một
bộ phận quan trọng trong ngoại giao tổng thể của Trung Quốc‖ [62].

—以孔子学院为例), tác giả Y Phàm (伊凡); Phân tích cơ chế mở rộng của Học
viện Khổng Tử (孔子学院的创新扩散机制分析) của Chu Văn Phi (周汶霏) và
Ninh Kế Minh (宁继鸣)…
Những nghiên cứu này về cơ bản đều khái quát được những đặc điểm của
HVKT cũng như đều nhìn nhận HVKT là một bộ phận cấu thành trong chiến lược
quảng bá hình ảnh của Trung Quốc ra thế giới. Tuy nhiên, những đánh giá, nhìn
nhận trong các nghiên cứu này còn tương đối chủ quan, dựa trên lập trường xây
dựng và phát triển của Trung Quốc, chưa có được những đánh giá khách quan,
chính xác về những vấn đề còn tồn tại, hạn chế của các HVKT trên thế giới.
2.2. Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam
Nhóm các công trình nghiên cứu về ngoại giao văn hóa Trung Quốc
Giới học giả Việt Nam cũng đóng góp một số lượng không nhỏ các nghiên
cứu về NGVH Trung Quốc. Cuốn Ngoại giao Cộng hòa nhân dân Trung Hoa 30
năm cải cách mở cửa (1978-2008) (2009), Ngoại giao Cộng hòa nhân dân Trung
Hoa 20 năm đầu thế kỷ XXI (2011) và Ngoại giao Trung Quốc trong quá trình trỗi
dậy và những vấn đề đặt ra cho Việt Nam, (2013) do Lê Văn Mỹ chủ biên đã trình
bày các nội dung của chính sách NGVH Trung Quốc trong mỗi giai đoạn cụ thể

13


cũng như nêu rõ vai trò của NGVH trong chính sách đối ngoại và tăng cường sức
mạnh mềm của Trung Quốc. Trong cuốn Sự trỗi dậy về sức mạnh mềm của Trung
Quốc và những vấn đề đặt ra cho Việt Nam (2013) do Nguyễn Thị Thu Phương chủ
biên, các tác giả đã phân tích những mặt tích cực và hạn chế của công tác NGVH
Trung Quốc trong quá trình trỗi dậy về sức mạnh mềm của quốc gia này. Trong bài
nghiên cứu Các kênh tác động của sức mạnh mềm văn hóa Trung Quốc ở một số
nước Đông Á của Phạm Hồng Thái và Nguyễn Thị Thu Phương, NGVH Trung
Quốc được đề cập với tư cách là một kênh tác động của sức mạnh mềm Trung Quốc
trên cơ sở phân tích những biện pháp triển khai cụ thể của chính sách NGVH tại

cũng như mâu thuẫn giữa HVKT với các trường đại học hợp tác tại nước sở tại dựa
trên ―sự tương đồng hay xung đột thể chế giáo dục do sự chi phối mạnh mẽ của các
yếu tố liên quan tới thể chế chính trị mỗi nước‖ [17].
Nhóm các nghiên cứu về Học viện Khổng Tử từ góc nhìn của bên hợp tác
“Học viện Khổng Tử và ngoại giao văn hóa Trung Quốc nhìn từ góc độ bên
tiếp nhận – Lấy ví dụ khu vực Đông Nam Á” (从接受方的视角看孔子学院与中国文
化外交---以东南亚地区为例) là đề tài luận văn thạc sĩ quan hệ quốc tế năm 2009 tại
Đại học Phúc Đán của tác giả Đỗ Thanh Vân. Trong luận văn của mình, tác giả đã đưa
ra những phân tích về ý nghĩa của HVKT đối với NGVH Trung Quốc trên cơ sở khảo
sát, đánh giá thực trạng triển khai hoạt động của HVKT tại Đông Nam Á đồng thời
cũng đưa ra một số nhận định về nguyên nhân HVKT không được đón nhận tại Việt
Nam. Sau khi HVKT được thành lập tại Đại học Hà Nội tháng 12/2014, với tư cách là
Viện trưởng HVKT tại Đại học Hà Nội, tác giả Đỗ Thanh Vân tiếp tục có những
nghiên cứu về HVKT. Bài viết Học viện Khổng Tử và ngoại giao văn hóa Trung Quốc:
nhìn từ góc độ bên tiếp nhận của tác giả tiếp nối mạch nghiên cứu của luận văn đồng
thời cung cấp thêm một số thông tin về HVKT tại Đại học Hà Nội. Song, do thời gian
triển khai chính thức của HVKT tại đây chưa lâu, hoạt động mới ở giai đoạn đầu nên tư
liệu thực tế còn hạn chế, chủ yếu là những suy nghĩ của tác giả về việc các cơ quan
quản lý Trung Quốc cần áp dụng nhiều biện pháp để giải quyết những vướng mắc của
các HVKT trong quá trình triển khai.
Qua tổng quan lịch sử vấn đề đã nêu trên, có thể thấy rằng các nghiên cứu đi
trước đã xây dựng được hệ thống cơ sở lý luận khá đầy đủ về NGVH trong đó đều
khẳng định vai trò quan trọng của NGVH trong chính sách đối ngoại của mỗi quốc

15


gia cũng như trong quan hệ quốc tế. Các nghiên cứu về NGVH Trung Quốc trên
cơ sở những lý luận chung về NGVH đã cung cấp cái nhìn tổng thể về chính sách
NGVH mà Nhà nước Trung Quốc đã và đang thực hiện nhằm hướng tới mục tiêu


4. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
4.1. Mục đích nghiên cứu
Đề tài tập trung làm rõ cơ cấu tổ chức và phương thức hoạt động của HVKT
với vai trò là một bộ phận của chính sách NGVH Trung Quốc từ đó chỉ ra một số
vấn đề đặt ra cho Việt Nam.
4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu, đề tài tập trung thực hiện những nhiệm vụ sau:
- Phân tích, làm rõ vị trí, chức năng của HVKT trong chính sách NGVH của
Trung Quốc.
- Nhận diện cơ cấu tổ chức, phương thức triển khai chính sách NGVH Trung
Quốc của các HVKT trên thế giới.
- Đánh giá những thành công và hạn chế của HVKT tại các nước trên thế
giới từ đó đưa ra những gợi mở đối với Việt Nam.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành và liên ngành chủ
yếu sau:
- Phương pháp nghiên cứu hệ thống: qua đó đem lại sự hiểu biết có hệ thống
về chính sách NGVH chung của Trung Quốc, từ đó xác định vị trí của HVKT trong
tổng thể chính sách này.
- Phương pháp phân tích – tổng hợp: làm rõ chức năng, tổ chức và phương
thức hoạt động của HVKT với tư cách là một bộ phận của chính sách NGVH Trung
Quốc và phục vụ cho chính sách NGVH trong giai đoạn mới.
- Phương pháp so sánh, đối chiếu: xem xét cơ cấu tổ chức và cách thức triển
khai các hoạt động của HVKT trong mối tương quan so sánh với các tổ chức tương
ứng của một số quốc gia khác, từ đó lý giải nguyên nhân những thành công hoặc
hạn chế của HVKT trong quá trình triển khai chính sách NGVH Trung Quốc.
- Phương pháp dự báo: căn cứ vào những đánh giá về HVKT và tình hình
mối quan hệ Việt Nam – Trung Quốc hiện nay để dự báo những tác động, ảnh
hưởng đối với Việt Nam sau khi HVKT chính thức triển khai các hoạt động ở nước

18


Chƣơng 1
VỊ TRÍ, VAI TRÒ CỦA HỌC VIỆN KHỔNG TỬ
TRONG CHÍNH SÁCH NGOẠI GIAO VĂN HÓA CỦA TRUNG QUỐC
1.1. Cơ sở lý luận về ngoại giao văn hóa
1.1.1. Khái niệm ngoại giao, văn hóa và ngoại giao văn hóa
1.1.1.1. Khái niệm ngoại giao
Ngoại giao là một lĩnh vực rộng lớn và khái niệm ngoại giao cũng được định
nghĩa theo rất nhiều cách khác nhau. Trên thế giới có nhiều khái niệm về ngoại giao,
nhưng tựu chung lại có thể phân thành 3 dạng cơ bản:
- Thứ nhất, dạng định nghĩa thiên về hình thức ngoại giao và chủ yếu coi trọng
vai trò của các nhà ngoại giao, các chính khách. Dạng định nghĩa này xác định, ngoại
giao là việc là thông qua đàm phán để xử lý các vấn đề quan hệ đối ngoại. Cụ thể:
Trong Từ điển Anh ngữ Oxford chỉ ra ngoại giao là ―(1) Thông qua đàm
phán xử lý quan hệ quốc tế; (2) Phương pháp mà đại sứ hoặc các nhân viên ngoại
giao điều chỉnh và xử lý những quan hệ này; (3) Nghiệp vụ hoặc kỹ thuật của nhà
ngoại giao; (4) Kỹ năng hoặc cách ăn nói trong xử lý quan hệ giao lưu và đàm phán
quốc tế‖ [12, tr. 57].
Trong Đại từ điển tiếng Việt: ―ngoại giao có nghĩa là công việc giao thiệp giữa
quốc gia với các quốc gia nước ngoài và giải quyết các vấn đề quốc tế‖ [41, tr. 1021].
- Thứ hai, dạng định nghĩa nhấn mạnh về chức năng của ngoại giao, cho rằng
ngoại giao có chức năng xử lý quan hệ quốc gia và công việc quốc tế.
Từ điển Ngoại giao của Liên Xô do A. Gromyko chủ biên định nghĩa:
―Ngoại giao là công cụ thực hiện chính sách đối ngoại của quốc gia, là tổng thể
những biện pháp phi quân sự, những phương pháp, thủ thuật được sử dụng có tính
đến điều kiện cụ thể và đặc điểm của yêu cầu nhiệm vụ; hoạt động chính thức của
người đứng đầu nhà nước, chính phủ, bộ trưởng bộ ngoại giao, các cơ quan đại diện
ngoại giao ở nước ngoài, các đoàn đại biểu tại các hội nghị quốc tế nhằm thực hiện

cơ quan chuyên trách về đối ngoại để thực hiện chính sách đối ngoại của quốc gia
nhằm bảo vệ chủ quyền, lãnh thổ và lợi ích quốc gia; là một khoa học tổng hợp của
các yếu tố chính trị, xã hội; là nghệ thuật đàm phán nhằm mở rộng các quan hệ quốc
tế, giải quyết các vấn đề quốc tế bằng hình thức hòa bình, giảm thiểu xung đột.
Ngoại giao mang tính giai cấp sâu sắc.

20


1.1.1.2. Khái niệm văn hóa
Văn hóa là một khái niệm trừu tượng, có liên quan mật thiết đến mọi mặt của
đời sống xã hội. Chính vì thế, định nghĩa về văn hóa cũng vô cùng đa dạng, với mỗi
góc nhìn khác nhau lại có những cách hiểu về văn hóa khác nhau.
Từ góc độ ngôn ngữ học, tại châu Âu, ―người ta dùng từ ―culture‖ có gốc
Latinh là chữ ―cultus animi‖ nghĩa là trồng trọt, thích ứng với tự nhiên, khai thác tự
nhiên‖ [8, tr. 307]. Sau đó, từ này dần chuyển nghĩa thành sự giáo dục về tâm hồn
và trí tuệ - và nội hàm này giống như quan niệm văn trị giáo hóa - dùng văn đức rồi
mới dùng vũ lực của Lưu Hướng thời Tây Hán, Trung Quốc (năm 77-76 TCN).
Từ góc độ xã hội học và nhân loại học, văn hóa được coi là mọi thứ vốn có
trong đời sống con người. Theo nhà nhân chủng học người Anh Edward B.Tylor,
―văn hóa là toàn bộ phức thể bao gồm kiến thức, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp,
phong tục và những khả năng, những tập quán mà con người có được với tư cách là
thành viên của xã hội‖ [40, tr. 18]. Nhà truyền bá học người Mỹ Jim Rogers thì cho
rằng, ―văn hóa là tổng hòa hội tụ phương thức sống, trong đó bao gồm các quy tắc
sống, niềm tin, quan niệm giá trị, thế giới quan và các sản phẩm mang ý nghĩa
tượng trưng và mang hàm nghĩa văn hóa‖ [12, tr. 69]. Như vậy, mọi thứ sản sinh
trong đời sống con người, kể cả yếu tố vật chất và tinh thần, đều có thể được xem là
văn hóa. Cũng với góc nhìn này, Tổ chức Văn hóa – Khoa học và Giáo dục của
Liên hợp quốc (UNESCO) định nghĩa về văn hóa như sau: ―Theo nghĩa rộng nhất,
ngày nay văn hóa có thể được coi là toàn bộ các tính chất đặc biệt về tâm hồn, thể


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status