VIỆN HÀN LÂM
VIỆNXÃ
HÀN
KHOA HỌC
HỘILÂM
VIỆT NAM
KHOA
HỌCKHOA
XÃ HỘI
VIỆT
NAM
HỌC
VIỆN
HỌC
XÃ
HỘI
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
ĐỖ MINH HOÀNG
NGUYỄN THỊ VIỆT HÀ
ĐIỀU KIỆN CÓ HIỆU LỰC VỀ HÌNH THỨC
PHẠM NHIỀU TỘI THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
CỦA GIAO DỊCH DÂN SỰ THEO BỘ LUẬT
TỪ THỰC TIỄN HUYỆN CHƢƠNG MỸ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
DÂN SỰ 2015
Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự
DÂN
SỰLUẬT
2015HÌNH SỰ VIỆT NAM
PHẠM NHIỀU TỘI THEO
PHÁP
TỪ THỰC TIỄN HUYỆN CHƢƠNG MỸ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Chuyên ngành: Luật kinh tế
Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số: 60.38.01.07
Mã số: 60.38.01.04
LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS. TS. HỒ SỸ SƠN
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. LÊĐÌNH NGHỊ
HÀ NỘI - 2017
HÀ NỘI, 2017
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các tư
liệu và kết quả nêu trong luận văn là trung thực. Nếu có điều gì sai sót, tôi xin hoàn
toàn chịu trách nhiệm.
Hà Nội, ngày …tháng … năm 2017
Tác giả luận văn
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BLDS
Bộ luật dân sự
GDDS
Giao dịch dân sự
TAND
Tòa án nhân dân
UBND
Uỷ ban nhân dân
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Để tồn tại và phát triển thì mỗi cá nhân cũng như mỗi tổ chức phải
tham gia nhiều mối quan hệ khác nhau. Trong đó, mối quan hệ về trao đổi với
nhau các lợi ích vật chất nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt tiêu dùng đóng một
vai trò quan trọng, một tất yếu đối với mọi đời sống xã hội và đây là những
tiền đề của phương thức giao dịch dân sự (GDDS). Việt Nam đang ngày càng
hội nhập sâu rộng với khu vực và thế giới, các quan hệ trao đổi về lợi ích giữa
các tổ chức, cá nhân ngày càng đa dạng và phức tạp, chính vì thế việc tìm
hiểu và nghiên cứu sâu hơn về mối quan hệ này được quan tâm nhiều hơn.
đường cùng. Nên việc nghiên cứu nguyên nhân dẫn đến những GDDS vô hiệu
về hình thức để tìm ra cách giải quyết, khắc phục sao cho hiệu quả nhất, tránh
rủi ro nhất có thể nhằm giảm thiểu thiệt hại cho các cá nhân, tổ chức cũng như
xã hội là hết sức cần thiết. Đặc biệt trong nền kinh tế thị trường hiện nay việc
tự do trao đổi, tự do thỏa thuận về hình thức GDDS đã gây ra những hệ lụy
khó ngờ đối với một số người thiếu am hiểu về pháp luật thì việc nghiên cứu
về đề tài này càng tăng tính cấp thiết của nó. Bộ luật dân sự nước Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2015 (BLDS 2015) vừa mới ban hành có hiệu
lực vào ngày 01/01/2017, nhưng việc hiểu và áp dụng những quy định đó
trong việc giải quyết các vấn đề liên quan đến vi phạm liên quan đến không
tuân thủ quy định về hình thức của các GDDS cần được quan tâm nhiều hơn
nữa. Trong thực tiễn thì quy định của pháp luật về điều kiện có hiệu lực về
hình thức của GDDS cũng có những cách hiểu khác nhau, dẫn tới việc nhận
định và quyết định không giống nhau ở một số bản án giải quyết cùng một
loại tranh chấp.
2
Từ những phân tích và lý do nêu trên, tác giả đã lựa chọn đề tài “Điều
kiện có hiệu lực về hình thức của giao dịch dân sự theo bộ luật dân sự
2015”để làm luận văn thạc sỹ luật học.
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
iện nay, liên quan đến các vấn đề về điều kiện có hiệu lực về hình
thức GDDS vẫn đang được các nhà khoa học, các nhà làm luật quan tâm. Để
nghiên cứu đề tài luận văn, tác giảtìm hiểu các đề tài nghiên cứu, các luận án,
luận văn và bài báo khoa học dưới đây:
Phạm Thị Minh Trang (2014), Hình thức GDDS theo pháp luật Việt
Nam, Luận văn thạc sĩ luật học, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội. Đề tài
đã làm sáng tỏ những vấn đề lý luận chung về hình thức GDDS. Nghiên cứu
kiện có hiệu lực về hình thức của GDDS theo quy định tại BLDS 2015. Bởi
vậy, việc lựa chọn đề tài “Điều kiện có hiệu lực về hình thức của GDDS theo
bộ luật dân sự 2015” để làm luận văn thạc sỹcủa tác giả là không trùng lặp
với các công trình khoa học đã được công bố.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
3.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận, quyết định của Bộ luật dân sự hiện hành
và thực tiễn áp dụng pháp luật liên quan đến điều kiện có hiệu lực về hình
thức của GDDS ở Việt Nam, đề tài đề xuất giải pháp, kiến nghị góp phần
hoàn thiện pháp luật liên quan đến điều kiện có hiệu lực về hình thức GDDS.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận chung liên quan đến điều kiện có
hiệu lực về hình thức của GDDS như: làm rõ khái niệm và bản chất pháp lý
của vấn đề điều kiện có hiệu lực về hình thức GDDS; nghiên cứu một cách
xuyên suốt vấn đề điều kiện có hiệu lực về hình thức của GDDS trong hệ
thống pháp luật Việt Nam từ xưa đến nay; phân tích và nghiên cứu về điều
4
kiện có hiệu lực về hình thức của GDDS; nghiên cứu khái quát về hình thức là
điều kiện có hiệu lực của GDDS khi pháp luật quy định.
- Nghiên cứu quy định của Bộ luật dân sự hiện hành và thực tiễn áp
dụng pháp luật về điều kiện có hiệu lực về hình thức GDDS; đánh giá thực
trạng và những điểm thiếu sót, mâu thuẫn trong quy định của pháp luật và
cách thức giải quyết tranh chấp của cơ quan có thẩm quyền về điều kiện có
hiệu lực về hình thức của GDDS để từ đó xác định được những điểm cần sửa
đổi, bổ khuyết trong BLDS vềhình thức GDDS.
- Trên cơ sở những bất cập đã được xác định từ đó đưa ra những kiến
nghị, giải pháp phù hợp trong việc sửa đổi, bổ sung các quy định của BLDS
thực trạng và đề xuất phương hướng, kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật
liên quan đến điều kiện có hiệu lực về hình thức GDDS tại Việt Nam. Phương
pháp thống kê, so sánh được sử dụng chủ yếu ở chương 2, nhằm đánh giá
đúng và đầy đủ thực trạng thực hiện pháp luật liên quan đến điều kiện có hiệu
lực về hình thức GDDScả về những kết quả đạt được, những hạn chế, yếu
kém và nguyên nhân trong hoạt động này.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
6.1. Ý nghĩa lý luận
Luận văn nghiên cứu lý luận một cách toàn diện về điều kiện có hiệu
lực về hình thức của GDDS. Đánh giá và phân tích về điều kiện có hiệu lực
về hình thức của GDDS trong pháp luật Việt Nam qua các thời kỳ để thấy
được các quy định mới theo BLDS 2015, đồng thời so sánh với quy định về
điều kiện có hiệu lực về hình thức của GDDS của một số nước trên thế giới.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
- Phân tích thực tiễn áp dụng pháp luật, giải quyết tranh chấp liên quan
đến điều kiện có hiệu lực về hình thức của GDDS thông qua các bản án tại
Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh.
6
- Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho công tác
giảng dạy pháp luật liên quan đến điều kiện có hiệu lực về hình thức của
GDDS tại Việt Nam; làm tài liệu nghiên cứu cho tất cả những ai quan tâm,
muốn tìm hiểu về vấn đề pháp luật này…
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài Phần mở đầu, kết luận và danh mục tài tiệu tham khảo, nội dung
của Luận văn gồm có 3 chương.
Chương 1: Một số vấn đề lý luận liên quan đến điều kiện có hiệu lực về
hình thức của GDDS
ý nghĩa tương đương hoặc thể hiện bản chất của việc giao dịch như: khế ước
hoặc mua, bán, cho, cầm hoặc hành vi thể hiện ý chí của con người nhằm phát
sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự mà không phụ thuộc vào
ý chí bên kia như hành vi lập di chúc…
Đối với thế giới, sự phát triển của “GDDS” tại mỗi quốc gia có những
đặc thù riêng. Nét chung nhất có thể nhận thấy được là vị trí của chế định
8
GDDS ngày càng được nâng cao và chú trọng. Tuy nhiên, tùy theo tình hình
phát triển kinh tế xã hội ở một đất nước mà GDDS lại được quy định ở những
khía cạnh, góc độ khác nhau.
Chiếm một vị trí quan trọng trong hệ thống luật pháp của các quốc gia
nên GDDS cũng có nhiều cách hiểu, định nghĩa khác nhau. Ở Việt Nam khái
niệm GDDS được các nhà khoa học định nghĩa theo nhiều góc độ. Có nhà
khoa học cho rằng: “GDDS là hành vi được thực hiện nhằm thu được kết quả
nhất định và pháp luật tạo điều kiện cho kết quả trở thành hiện thực” [4, tr66],
đồng thời cũng có cách hiểu khác theo nghĩa chủ quan như: “Giao dịch là một
sự kiện pháp lý, bao gồm hành vi pháp lý đơn phương hoặc đa phương (giao
dịch) làm phát sinh hậu quả pháp lý” [4, tr67]. Tác giả đồng tình với cách lý
giải GDDS theo nghĩa chủ quan này. Bởi nó mang tính khái quát cao nhất bản
chất của GDDS.
Trong nghiên cứu của luận văn, đề tài sử dụng khái niệm GDDS
theoĐiều 116,BLDS 2015 như sau: “GDDS là giao dịch (thay giao dịch bằng
hợp đồng) hoặc hành vi pháp lý đơn phương làm phát sinh, thay đổi hoặc
chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự” [7, tr33].
1.1.1.2. Điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự
Điều kiện có hiệu lực của GDDS là điều kiện mà các bên khi ký kết các
giao dịch phải tuân thủ thì giao dịch mới có hiệu lực, nếu không tuân thủ thì
giao dịch sẽ vô hiệu. Bên cạnh nguyên tắc tôn trọng quyền tự do thoả thuận
giao dịch phải có “năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự” cả
hai yếu tố này là một trong những điều kiện tiên quyết để GDDS có hiệu lực.
Trong đó năng lực pháp luật là quyền xử sự của chủ thể được ghi nhận và
được phép thực hiện. Năng lực hành vi là khả năng tự có của chủ thể trong
việc thực hiện, kiểm soát và làm chủ hành vi của mình. Cụ thể theo quy định
tại Điều 16 và Điều 19 của BLDS quy định rất rõ ràng về năng lực pháp luật
dân sự và năng lực hành vi dân sự của cá nhân.
10
Thuật ngữ “chủ thể” ở đây được hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm các chủ
thể của quan hệ pháp luật dân sự: cá nhân (là con người cụ thể), pháp nhân
(một tổ chức tồn tại theo một hình thức nhất định), hay cũng có thể là hộ gia
đình và tổ hợp tác (BLDS 2015 đã bỏ chủ thể này)nhà nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam – một chủ thể đặc biệt.
Đối với chủ thể là cá nhân: GDDS do cá nhân xác lập chỉ có hiệu lực
pháp luật nếu phù hợp với mức độ năng lực hành vi dân sự của cá nhân. Mặt
khác, thuật ngữ “cá nhân “ bao gồm cả công dân Việt Nam và người nước
ngoài. Trong phạm vi bài viết này tác giả xin phép chỉ bàn về năng lực chủ
thể của cá nhân là công dân Việt nam nhằm xác định rõ khi cá nhân tham gia
một GDDS thì trường hợp nào được coi là đủ năng lực chủ thể, trường hợp
nào được coi là chưa đủ năng lực chủ thể. Như trên đã đề cập, cá nhân khi
tham gia và giao dịch chỉ được coi là có đủ năng lực chủ thể khi họ có năng
lực pháp luật Dân sự và có năng lực hành vi Dân sự, Điều 16 BLDS 2015 đã
ghi nhận năng lực pháp luật Dân sự cá nhân như sau: “1. Năng lực pháp luật
Dân sự cá nhân là khả năng của cá nhân có quyền Dân sự và có nghĩa vụ Dân
sự. 2. Mọi cá nhân đều có năng lực pháp luật Dân sự giống nhau. 3. Năng lực
pháp luật Dân sự của cá nhân có từ khi người đó sinh ra và chấm dứt khi
người đó chết” [7].
thời phải gánh chịu mọi trách nhiệm và nghĩa vụ phát sinh từ hành vi pháp lí
mà họ thực hiện. Tuy nhiên không phải cứ có năng lực hành vi dân sự đầy đủ
thì có thể tham gia mọi GDDS mà pháp luật có quy định hạn chế quyền tự
định đoạt của những người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ khi tham gia
vào một số quan hệ giao dịch nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
người được đại diện như: bán trao đổi, cho thuê, cho mượn, cho vay, cầm cố,
thế chấp, đặt cọc và các giao dịch khác đối với tài sản có giá trị lớn của người
được giám hộ mà không được sự đồng ý của người giám sát việc giám hộ.
Những giao dịch không nằm trong phạm vi thẩm quyền đại diện của người đại
12
diện. Bên cạnh đó người có năng lực hành vi dân sự có thể ủy quyền cho
người đại diện cho mình tham gia quan hệ giao dịch trừ trường hợp pháp luật
quy định họ phải tự mình xác lập thực hiện giao dịch đó.
Theo khoản 3 Điều 21 BLDS 2015 [7], người từ đủ sáu tuổi đến chưa
đủ mười lăm tuổi khi xác lập, thực hiện GDDS phải được người đại diện theo
pháp luật đồng ý, trừ GDDS phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày phù hợp
với lứa tuổi. Tuy nhiên pháp luật cũng quy định trường hợp riêng cho những
người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi tự mình xác lập, thực hiện GDDS, trừ
GDDS liên quan đến bất động sản, động sản phải đăng ký và GDDS khác
theo quy định của luật phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý.
Đối với cá nhân chưa đủ 6 tuổi và người mất năng lực hành vi dân sự
đều không được phép thực hiện các GDDS, mọi GDDS của những người này
đều phải thông qua người đại diện theo pháp luật xác lập và thưc hiện. Quy
định này được nêu rõ tại Khoản 2 Điều 21 và Khoản 2 Điều 22 của BLDS
2015 [7].
- Đối với chủ thể là pháp nhân:
Pháp nhân là chủ thể của GDDS theo Điều 74 BLDS 2015 quy định
thế nào thì bị coi là giao dịch được giao kết không có sự tự nguyện của người
tham gia giao kết giao dịch là việc hết sức khó khăn. Vì vậy, về nguyên tắc
khi giao dịch đã được giao kết thì được coi là có sự tự nguyện giữa các bên.
Người nào cho rằng giao dịch đó không có sự tự nguyện trong giao kết thì
phải chứng minh rằng giao dịch đó được giao kết trong các trường hợp cụ thể
như là:
Thứ nhất, GDDS giả tạo: là GDDS được lập ra nhưng không phản ánh
đúng bản chất của quan hệ đích thực giữa các bên, thể hiện ở việc các bên xác
lập hợp đồng để che đậy một giao dịch khác hay một hành vi trái pháp luật
của một hoặc các bên. Nói cách khác, GDDS giả tạo là GDDS “mà trong đó,
14
việc thể hiện ý chí ra bên ngoài khác với ý chí nội tâm và kết quả thực hiện
của các bên tham gia”.
Thứ hai, Giao dịch giao kết do bị đe dọa là hành vi cố ý của một bên
hoặc người thứ ba làm cho bên kia buộc phải thực hiện giao dịch nhằm tránh
thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ, danh dự, uy tín, nhân phẩm, tài sản của mình
hoặc của cha, mẹ, vợ, chồng, con của mình. Sự đe dọa thường được hiểu là
việc một bên cố ý gây ra sự sợ hãi cho bên kia bằng hành vi bạo lực vật chất
hoặc sự khủng bố tinh thần, làm bên kia tê liệt ý chí hoặc làm mất khả năng
kháng cự nên đã xác lập giao dịch trái với nguyện vọng đích thực của họ
hoặc giao dịch giao kết do bị lừa dối là hành vi cố ý của một bên hoặc của
người thứ ba nhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối
tượng hoặc nội dung của GDDS nên đã xác lập giao dịch đó. Biểu hiện của sự
lừa dối là hành vi cố ý cung cấp thông tin sai sự thật khiến cho bên kia tin vào
các thông tin đó mà xác lập hợp đồng bất lợi cho họ hoặc trái với nguyện
vọng đích thực của họ.
Hay giao dịch giao kết do nhầm lẫn là sự không trùng hợp ý chí được
tài sản được phép giao dịch hoặc thực hiện các công việc không bị pháp luật
cấm và không phạm vào sự ứng xử chung được cộng đồng thừa nhận và tôn
trọng. Những giao dịch xác lập nhằm trốn tránh pháp luật hoặc trái đạo đức xã
hội là những giao dịch có mục đích và nội dung không hợp pháp, không làm
phát sinh hiệu lực của GDDS đó.
(4) Hình thức của GDDS là điều kiện có hiệu lực của GDDS trong
trường hợp luật có quy định.
GDDS có thể thực hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi
cụ thể. Người xác lập giao dịch có quyền lựa chọn hình thức cho giao dịch đó.
Trong trường hợp pháp luật có quy định GDDS phải được thể hiện bằng văn
bản, phải được công chứng, chứng thực, đăng ký hoặc phải xin phép thì phải
16
tuân theo quy định đó. Chẳng hạn như giao dịch mua bán nhà, chuyển quyền
sử dụng đất.
Như vậy, GDDS chỉ có hiệu lực khi đáp ứng đủ các điều kiện nêu trên
(tuân thủ về mặt hình thức nếu pháp luật có quy định). Nếu thiếu 1 trong các
điều kiện trên, GDDS có thể thuộc các trường hợp bị vô hiệu theo pháp luật
như: vô hiệu do vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội; vô hiệu
do giả tạo; vô hiệu do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân
sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự thực hiện;…
Tóm lại, điều kiện có hiệu lực của GDDS là tổng hợp những yêu cầu
pháp lý nhằm đảm bảo cho GDDS được lập đúng bản chất đích thực của nó.
Đây là những điều kiện cần và cũng là tiền đề pháp lý nhằm đảm bảo cho giao
dịch được xác lập hợp pháp và có hiệu lực ràng buộc đối với các bên. Theo
BLDS 2015 thì có bốn điều kiện để một GDDS có hiệu lực, khi giao dịch
không tuân thủ các điều kiện này thì giao dịch có thể bị vô hiệu không thực
hiện được. Tuy nhiên các điều luật về vấn đề này trong pháp luật Việt Nam
luật quy định GDDS phải được thể hiện bằng văn bản có công chứng, chứng
thực, đăng ký thì phải tuân theo quy định đó” [7].
1.1.3. Điều kiện có hiệu lực về hình thức của giao dịch dân sự
Tuỳ theo tính chất của đối tượng giao dịch và hình thức GDDS mà
pháp luật dân sự có những yêu cầu khác nhau về điều kiện có hiệu lực về hình
thức của giao dịch. Đối với các giao dịch đáp ứng cho nhu cầu vật chất và tinh
thần hàng ngày của cuộc sống và thông thường giá trị tài sản không lớn thì chỉ
cần các bên thể hiện bằng lời nói, có sự tự nguyện, thống nhất ý chí của các
bên là giao dịch đó có hiệu lực. Tuy nhiên, có loại giao dịch không đòi hỏi
phải có sự thống nhất ý chí của hai bên mà chỉ cần 1 bên bày tỏ ý chí bằng lời
nói hoặc bằng hành vi cụ thể ví dụ như viết di chúc. Song có những loại giao
dịch pháp luật bắt buộc các bênphải thể hiện bằng văn bản và còn có trường
18
hợp phải có công chứng, chứng thực của cơ quan có thẩm quyền. Theo quy
định tại khoản 2 Điều 117 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì chỉ trong những
trường hợp có quy định của pháp luật về loại giao dịch nào đó phải tuân theo
những hình thức nhất định và hình thức đó là điều kiện có hiệu lực của giao
dịch thì hình thức của giao dịch mới trở thành một điều kiện bắt buộc để giao
dịch đó có hiệu lực.
Có nhiều cách hiểu khác nhau về “Điều kiện có hiệu lực về hình thức
của giao dịch dân sự”
Điều kiện có hiệu lực về hình thức của GDDS là khi pháp luật đã quy
định hình thức của giao dịch là một điều kiện bắt buộc thì khi các bên vi
phạm điều kiện về hình thức thì giao dịch sẽ vô hiệu.
Theo cách hiểu trên thì khi pháp luật đã quy định một loại giao dịch
nào đó phải tuân theo một hình thức nhất định mà vi phạm điều kiện về hình
thức đều vô hiệu. Cách hiểu này sẽ không bao trùm được hết các quy định
Theo sử gia Phan Huy Chú thì Quốc triều hình luật là mẫu mực để trị
nước, cái khuôn pháp để buộc dân. Đây là bộ “ ình luật” chính thức và quan
trọng nhất của Triều đại nhà Lê (1428-1788). Theo các nhà khoa học pháp lý,
tuy Quốc triều hình luật là bộ “Hình luật” nhưng lại có nhiều quy định về di
chúc - những hoạt động đặc trưng của GDDS.
Trong Quốc triều hình luật không sử dụng khái niệm “khế ước” như
một số bộ luật thời kỳ phong kiến khác mà thường dùng khái niệm cụ thể như
mua, bán, cho… hoặc đặc biệt hơn là “văn khế” . Ví dụ theo Điều 76 “Bán
mắm muối cho người nước ngoài thì bị lưu đi châu xa” [50]…
Phân loại khế ước trong các quy định gồm có hai loại: miệng (tức là
khẩu ước) và khế ước bằng văn bản (tức là văn khế). Theo quốc triều thư khế
thể thức, một số loại khế ước liên quan đến ruộng đất, trâu bò (sức kéo), nhà
cửa, tàu bè bắt buộc phải lập văn bản. Còn những đối tượng khác không quy
20