VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN MINH PHƢƠNG
ÁP DỤNG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ ĐỐI VỚI
CÁC TỘI PHẠM VỀ MA TÚY TỪ THỰC TIỄN
TỈNH THANH HÓA
Chuyên ngành: Luật Hình sự và Tố tụng Hình sự
Mã số: 60 38 01 04
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS. TRẦN VĂN LUYỆN
HÀ NỘI, 2017
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các tài liệu, số
liệu trong luận văn là trung thực và chính xác. Những kết quả nghiên cứu của luận
văn chƣa từng đƣợc công bố trong bất kỳ công trình nào khác. Nếu có sự gian dối,
tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
TRẦN MINH PHƢƠNG
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
1. ADPL:
áp dụng pháp luật
2. ADPLHS:
áp dụng pháp luật hình sự
3. BLHS:
bộ luật Hình sự
4. BLTTHS:
Bộ luật tố tụng hình sự
5. PLHS:
Pháp luật hình sự
6. TAND:
Tòa án nhân dân
7. VKS:
Viện kiểm sát
8. UBND:
của Công an tỉnh Thanh Hóa, những năm gần đây, số vụ việc, vụ án phát hiện
ngày càng tăng; lƣợng ma tuý thu đƣợc trong các chuyên án, vụ án ngày càng
nhiều; tính chất, thủ đoạn hoạt động của tội phạm ngày càng manh động, liều
lĩnh; nhiều đƣờng dây hoạt động liên huyện, liên tỉnh, xuyên quốc gia với
tính chất đặc biệt nghiêm trọng. Trong những năm qua mặc dù Đảng bộ,
chính quyền tỉnh đã luôn quan tâm, tích cực chỉ đạo thực hiện triển khai
tuyên truyền giáo dục đấu tranh phòng, chống và truy quét tội phạm ma tuý
trên địa bàn tỉnh song công tác phòng chống ma tuý vẫn chƣa đạt đƣợc kết
1
quả nhƣ mong muốn. Số liệu thống kê về tình hình ngƣời nghiện ma tuý và
tội phạm liên quan đến ma tuý trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa trong thời gian
gần đây cho thấy không những không giảm mà còn có xu hƣớng gia tăng
theo chiều hƣớng ngày càng phức tạp.
Hoạt động áp dụng pháp luật hình sự đối với tội phạm về ma túy những
năm vừa qua đạt đƣợc nhiều kết đáng mừng, tuy nhiên vẫn còn nhiều sai sót
nhƣ áp dụng pháp luật sai; bỏ sót, lọt tội phạm; áp dụng các tình tiết tăng
nặng, giảm nhẹ chƣa đúng; nhân thân của bị cáo chƣa đƣợc xác định rõ ràng
dẫn đến việc quyết định áp dụng hình phạt chƣa đúng đắn.
Từ lý do trên, tác giả chọn đề tài: “Áp dụng pháp luật hình sự đối với
các tội phạm về ma túy từ thực tiễn tỉnh Thanh Hóa”, làm đề tài luận văn
Thạc sĩ Luật học của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong lĩnh vực khoa học pháp lý, đã rất nhiều công trình, đề tài nghiên
cứu về Áp dụng pháp luật Hình sự đối với các tội phạm về ma túy nhƣ:
- TS. Trần Văn Luyện - PGS.TS Nguyễn Xuân Yêm (2001), Phát hiện và
điều tra các tội phạm về ma tuý”, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội;
- “Áp dụng pháp luật trong điều tra, truy tố các vụ án ma tuý theo yêu
cầu cải cách tƣ pháp ở Việt Nam hiện nay”(2007), Luận văn Thạc sĩ Luật học
rõ các nguyên nhân dẫn đến việc các bản án, quyết định còn oan, sai, bị hủy,
cải sửa lớn do lỗi chủ quan, không đúng pháp luật.
- Đề xuất các quan điểm và giải pháp cơ bản bảo đảm chất lƣợng ADPL
hình sự trong hoạt động giải quyết án ma túy, góp phần thực hiện có hiệu quả
công cuộc cải cách tƣ pháp, nâng cao uy tín của nền tƣ pháp nƣớc nhà trong
tiến trình xây dựng nhà nƣớc pháp quyền XHCN của dân, do dân và vì dân
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tƣợng nghiên cứu
Đối tƣợng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề lý luận pháp lý và thực
tiễn việc ADPLHS đối với các tội phạm ma túy từ thực tiễn tỉnh Thanh Hóa
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Nội dung: Hoạt động ADPLHS trải dài và xuyên suốt toàn bộ các giai
đoạn tố tụng hình sự. Do giới hạn điều kiện nghiên cứu luận văn thạc sỹ,
trong phạm vi nghiên cứu đề tài thuộc chuyên ngành Luật hình sự và Tố tụng
3
hình sự, luận văn tập trung vào nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn
hoạt động áp dụng pháp luật hình sự trong giai đoạn xét xử sơ thẩm. Trong giai
đoạn xét xử sơ thẩm lại có nhiều hoạt động gồm: định tội danh, quyết định
khung hình phạt, áp dụng hình phạt bổ sung, áp dụng biện pháp tƣ pháp,... Tuy
nhiên do điều kiện luận văn có hạn nên tác giả chỉ tập trung nghiên cứu hai
hoạt động ADPLHS nổi bật nhất và quan trọng nhất của giai đoạn xét xử sơ
thẩm là hoạt động định tội danh và hoạt động quyết định hình phạt đối với một
số tội phạm ma túy thƣờng gặp (Tội mua bán trái phép chất ma túy, Tội tàng
trữ trái phép chất ma túy, Tội vận chuyển trái phép chất ma túy)
- Về thời gian: luận văn nghiên cứu trong khoảng thời gian từ năm 2013
– tháng 6/2017
- Về địa bàn: luận văn nghiên cứu trong địa bàn tỉnh Thanh Hóa và chủ
yếu là hai cấp xét xử
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo; luận văn
đƣợc bố cục thành 03 chƣơng:
Chƣơng 1: Những vấn đề lý luận và pháp luật về áp dụng pháp luật hình
sự đối với các tội về ma túy;
Chƣơng 2: Thực tiễn áp dụng pháp luật đối với các tội phạm về ma túy
tại tỉnh Thanh Hóa;
Chƣơng 3: Yêu cầu và các giải pháp đảm bảo chất lƣợng áp dụng đúng
pháp luật hình sự đối với các tội phạm về ma túy;
5
Chƣơng 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ ÁP DỤNG PHÁP
LUẬT HÌNH SỰ ĐỐI VỚI CÁC TỘI VỀ MA TÚY
1.1. Những vấn đề lý luận về áp dụng pháp luật hình sự đối với các
tội phạm về ma túy
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm của áp dụng pháp luật hình sự
Áp dụng pháp luật (ADPL) là hình thức thực hiện pháp luật, trong đó
nhà nƣớc thông qua cơ quan có thẩm quyền hoặc tổ chức cho các chủ thể
pháp luật thực hiện trong những qui định pháp luật để ra, các quyết định làm
phát sinh, thay đổi, đình chỉ hay chấm dứt một quan hệ pháp luật. Trong khoa
học pháp lý áp dụng pháp luật đƣợc sử dụng nhiều trong lý luận cũng nhƣ
trong thực tiễn. Theo cách hiểu của một số ngƣời thì việc đồng nhất ADPL
với thực hiện pháp luật, trong một khía cạnh nào đó thì việc ADPL đã là một
hoạt động tách ra khỏi hoạt động xây dựng pháp luật và gắn với việc giải
quyết các yêu cầu thực tế.Tuy nhiên ADPL có những điểm khác nhau nhƣng
nhìn chung đều thống nhất cho rằng, ADPL là một hình thức thực hiện pháp
luật đặc biệt, một hình thức để chuyển hóa trách nhiệm hình sự vào thực tiễn.
ngƣời khác. Đó là việc pháp luật cấm. Đồng thời vì lợi ích chung, tuỳ theo
tình hình, hoàn cảnh cụ thể mà pháp luật bắt buộc mọi tổ chức và công dân
phải làm một việc nào đó.
- Chấp hành pháp luật: là một hình thức thực hiện pháp luật mà trong đó
các chủ thể thực hiện nghĩa vụ pháp lý của mình với hành động tích cực. Hoạt
động chấp hành pháp luật là cơ sở pháp lý để đánh giá công trạng, thành tích
và danh dự, phẩm giá tốt đẹp của công dân, tổ chức cũng nhƣ của cán bộ công
chức nhà nƣớc.
- Sử dụng pháp luật: là một hình thức thực hiện pháp luật mà trong đó,
các chủ thể pháp luật sử dụng các quyền năng pháp lý để bảo vệ các quyền và
lợi ích hợp pháp của mình. Song nếu các chủ thể không sử dụng quyền của
mình thì pháp luật cũng không bắt buộc. Nói cách khác, các quyền chủ thể
đƣợc pháp luật cho phép thực hiện theo ý chí của chủ thể chứ không bị bắt
buộc phải thực hiện.
7
- Áp dụng pháp luật: là một hình thức thực hiện pháp luật, trong đó nhà
nƣớc thông qua các cơ quan nhà nƣớc hoặc cán bộ công chức có thẩm quyền
tổ chức cho các chủ thể thực hiện những quy định của pháp luật hoặc tự mình
căn cứ vào những quy định của pháp luật ra các quyết định làm phát sinh,
chấm dứt hay thay đổi những quan hệ pháp luật cụ thể. Trong truờng hợp này,
các chủ thể pháp luật thực hiện các quy định của pháp luật có sự can thiệp của
Nhà nƣớc.
Dựa vào bốn hình thức thực hiện pháp luật nêu trên thì áp dụng pháp luật
chỉ là một hình thức của thực hiện pháp luật nhƣng có ý nghĩa đặc biệt quan
trọng vì đây là hoạt động thực hiện pháp luật của cơ quan nhà nƣớc, đƣợc xem
nhƣ để bảo đảm đặc thù của Nhà nƣớc cho các quy phạm pháp luật đƣợc thực
hiện một cách hiệu quả trong đời sống xã hội. Tuân thủ pháp luật, chấp hành
pháp luật và sử dụng pháp luật là những hình thức mà mọi chủ thể pháp luật
tƣợng bị áp dụng. Mặc dù là các chủ thể ADPL có thẩm quyền nhƣng không
nhân danh ý chí chủ quan của mình mà nhân danh ý chí của nhà nƣớc đã đƣợc
quy định trong pháp luật. Trong mối quan hệ này, pháp luật mang tính khách
quan ngay cả đối với những chủ thể có thẩm quyền áp dụng nó. Đứng trƣớc
nghĩa vụ pháp lý khách quan đó, quyền của chủ thể ADPLHS bị giới hạn đến
mức tối thiểu. Họ chỉ có một quyền duy nhất là phải chuyển hóa một cách
chính xác các quy định của pháp luật hình sự vào từng quan hệ xã hội cụ thể.
Các chủ thể cũng không đƣợc thay đổi hay chấm dứt việc ADPL theo ý chí
của mình hay của bất kỳ ai, ngoại trừ các trƣờng hợp đã đƣợc quy định rõ
trong pháp luật
Thứ hai, là hoạt động giải quyết trực tiếp với những vấn đề thực tế nên
ADPLHS là sự điều chỉnh cá biệt, cụ thể các quan hệ xã hội khi có sự kiện
phạm tội. Nói đến ADPL là nói đến tính cụ thể. ADPLHS cũng nhƣ vậy, chỉ
diễn ra trong các trƣờng hợp rất cụ thể, trong những quan hệ pháp luật rất cụ
thể. Khi pháp luật hình sự đƣợc vật chất hóa vào đời sống xã hội thì nó luôn
có tính xác định về mặt chủ thể - áp dụng đối với ai, về mặt, khách thể - áp
dụng cho quan hệ xã hội nào, về mặt không gian - áp dụng ở đâu, về mặt thời
9
gian - áp dụng khi nào, và cả về mặt cơ sở pháp lý - áp dụng quy phạm nào
của hệ thống pháp luật hình sự.
Thứ ba, ADPLHS là một hoạt động đƣợc tiến hành với những thủ tục
đƣợc quy định chặt chẽ bởi pháp luật TTHS. Điều này có nghĩa là việc
ADPLHS không thể tiến hành một cách tùy tiện mà phải đƣợc diễn ra trên cơ
sở, trong những điều kiện và theo những thủ tục nhất định do pháp luật quy
định, đó chính là thủ tục tố tụng hình sự
Thứ tƣ, trong khoa học pháp lý, bên cạnh những đặc điểm nêu trên,
ADPL còn có đặc điểm là một hoạt động sáng tạo. Vì vậy, ADPLHS cũng đòi
quyền mà còn là nghĩa vụ của các chủ thể ADPL. Mặc dù là các chủ thể có
thẩm quyền nhƣng các chủ thể ADPL không nhân danh ý chí chủ quan của
mình mà nhân danh ý chí của nhà nƣớc đã đƣợc quy định trong pháp luật.
Trong mối quan hệ này, pháp luật mang tính khách quan ngay cảđối với
những chủ thể có thẩm quyền áp dụng nó. Đứng trƣớc nghĩa vụ pháplý khách
quan đó, quyền của chủ thể áp dụng PLHS bị giới hạn đến mức tốithiểu. Họ
chỉ có một quyền duy nhất - không đƣợc lựa chọn - là phải chuyển hóa một
cách chính xác các quy định của PLHS vào từng quan hệ xã hội cụ thể. Các
chủ thể cũng không đƣợc thay đổi hay chấm dứt việc ADPL theo ý chí của
mình hay của bất kỳ ai, ngoại trừ các trƣờng hợp đã đƣợc quy định rõ trong
pháp luật.
1.1.3. Nội dung của áp dụng pháp luật hình sự
Nội dung của ADPLHS phụ thuộc vào chính PLHS. Cụ thể hơn,
ADPLHS cá biệt hóa những quy định của PLHS trong những quan hệ xã hội
cụ thể và cho các chủ thể cụ thể. Những thành tựu trong quá trình phát triển
của lịch sử đã làm thay đổi nội dung, cấu trúc, phạm vi của những quan hệ xã
hội đƣợc bảo vệ bằng PLHS. Tuy nhiên, về bản chất vốn có, PLHS vẫn giữ
nguyên là quy định về hai vấn đề, đó là tội phạm và hình phạt. Những nội
dung khác nếu có đƣợc quy định trong PLHS thì cũng chỉ nằm trong quan hệ
với tội phạm và hình phạt mà nếu thiếu chúng, PLHS chỉ thiếu đi tính chính
xác. Nhƣ vậy, khi đƣợc chuyển hóa vào thực tế, việc áp dụng PLHS cũng
chính là việc chuyển hóa hai nội dung về tội phạm và hình phạt vào các
11
trƣờng hợp cụ thể thành hai nội dung tƣơng ứng là định tội danh và quyết
định hình phạt.
- Định tội danh: là một trong những nội dung cơ bản của ADPLHS. Định
tội danh là việc chủ thể ADPLHS xác định hành vi nguy hiểm cho xã hội đã
đƣợc thực hiện có phù hợp với mô tả của một tội nào đó đƣợc quy định trong
vậy, việc quyết định hình phạt là chuyển hóa khung hình phạt tƣơng ứng với
một tội phạm cụ thể đƣợc quy định trong BLHS thành trách nhiệm hình sự cụ
thể đối với ngƣời đã thực hiện tội phạm đó. Khi quyết định hình phạt đối với
ngƣời phạm tội, Tòa án chỉ đƣợc tuyên một hình phạt chính và có thể tuyên
kèm theo một hoặc nhiều hình phạt bổ sung. Tòa án phải lựa chọn loại hình
phạt và mức hình phạt tƣơng ứng với tội phạm cụ thể để áp dụng.
1.2. Khái niệm, đặc điểm và vai trò áp dụng pháp luật đối với các tội
phạm về ma túy
1.2.1. Khái niệm về chất ma túy
Từ xa xƣa, do trình độ nhận thức của con ngƣời còn thấp, trình độ y học
chƣa phát triển nên con ngƣời chỉ biết sử dụng những loại cây cỏ để chữa
bệnh. Trong các loại cây đó bao gồm cả những loại cây nhƣ thuốc phiện, cần
sa, coca,.... Tuy nhiên đi kèm với khả năng chữa bệnh, những loại cây này còn
có tác dụng phụ cao hơn gây ra nhiều tác hại cho con ngƣời. Ngày nay, ngoài
các sản phẩm của các loại cây tự nhiên cây nhƣ thuốc phiện, cần sa, coca,...
còn có các chất đƣợc tổng hợp trong phòng thí nghiệm.
Theo Wikipedia, ma túy là tên gọi chung chỉ những chất kích thích khi
dùng một lần có thể gây nghiện có nguồn gốc tự nhiên hay nhân tạo. Những
chất này khi đƣa vào cơ thể sống sẽ làm thay đổi trạng thái nhận thức và sinh
lý. Theo khái niệm khoa học: Ma túy là các chất có nguồn gốc tự nhiên
(morphin...); bán tổng hợp (heroin đƣợc bán tổng hợp từ morphin) hay tổng
hợp (amphetamine) có tác dụng lên thần kinh trung ƣơng gây cảm giác nhƣ
giảm đau, hƣng phấn hay cảm thấy dễ chịu... mà khi dùng nhiều lần thì sẽ
phải sử dụng lại nó nếu không sẽ rất khó chịu.
13
Theo định nghĩa của tổ chức Y tế Thế giới đã đƣợc Tổ chức Văn hoá
giáo dục của liên hiệp quốc công nhận thì “Ma tuý là chất khi đƣa vào cơ thể
sống xã hội; việc sử dụng các chất này trong phân tích, kiểm nghiệm, nghiên
cứu khoa học, điều tra tội phạm theo quy định đặc biệt của cơ quan có thẩm
quyền.
Danh mục II, 136 chất ma túy đƣợc dùng hạn chế trong phân tích, kiểm
nghiệm, nghiên cứu khoa học, điều tra tội phạm hoặc trong lĩnh vực y tế theo
quy định của cơ quan có thẩm quyền.
Danh mục III, có 69 chất hƣớng thần đƣợc dùng trong phân tích, kiểm
nghiệm, nghiên cứu khoa học, điều tra tội phạm hoặc trong lĩnh vực y tế theo
quy định của cơ quan có thẩm quyền.
Danh mục IV có 43 tiền chất. Trên cơ sở danh mục này, Bộ Y tế, Bộ
Công Thƣơng, Bộ Công an theo chức năng nhiệm vụ đƣợc giao phân loại tiền
chất theo cấp độ để có biện pháp quản lý, kiểm soát phù hợp.
14
- Thuốc gây nghiện, thuốc hƣớng thần là các loại thuốc chữa bệnh đƣợc
quy định trong các danh mục do Bộ Y tế ban hành
- Cây có chứa chất ma tuý bao gồm cây thuốc phiện (cây anh túc), cây cô
ca, cây cần sa hoặc cây khác có chứa chất ma tuý do Chính phủ quy định.
Nhƣ vậy, dƣới góc độ khoa học pháp lý thì ma túy có một số đặc điểm sau:
Ma túy là một chất gây nghiện, khi thâm nhập vào cơ thể ngƣời là thay đổi
một số chức năng, hoạt động thần kinh, làm con ngƣời lệ thuộc vào chất này.
Tại Luật phòng chống ma túy năm 2000, sửa đổi bổ sung năm 2008 xác
định chất ma túy là chất gây nghiện, chất hƣớng thần đƣợc quy định trong các
danh mục do Chính phủ ban hành, khi sử dụng gây ra tình trạng kich thích
hoặc ức chế thần kinh gây ảo giác, nếu sử dụng nhiều lần sẽ gây ra tình trạng
nghiện đối với ngƣời sử dụng.
1.2.2. Khái niệm, đặc điểm và vai trò áp dụng pháp luật đối với các tội
phạm về ma túy
Cũng nhƣ các tội phạm khác, tội phạm về ma tuý là: “những hành vi
tội danh trong cùng một điều luật gặp không ít khó khăn cho các cơ quan tiến
hành tố tụng, trong việc xác định tội danh và áp dụng hình phạt đối với ngƣời
phạm tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma
túy. Nhƣ vậy các tội phạm về ma túy quy định tại Chƣơng XX của BLHS
2015 gồm 13 điều luật, so với BLHS 1999 tăng thêm 3 điều luật (từ Điều 247
- Điều 259).
Về định lƣợng các chất ma túy, BLHS 2015 đã pháp điển hóa quy định
cụ thể, rõ ràng mức tối thiểu đến mức tối đa định lƣợng các chất ma túy để
truy cứu trách nhiệm hình sự trong từng điều luật, đó là các Điều 249, Điều
250, Điều 252; quy định cụ thể việc định lƣợng các tiền chất, các phƣơng tiện,
dụng cụ dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma túy tại các Điều 253 và
Điều 254.
Đồng thời BLHS 2015 đã quy định thêm một số chất ma túy nằm trong
danh mục các chất ma túy đã đƣợc Chính phủ quy định vào các Điều luật cụ
thể nhƣ chất ma túy Methamphetamine, Amphetamine, MDMA…
BLHS 2015 có sự thay đổi về đơn vị tính, các vụ án ma túy từ trƣớc đến
nay khi thu giữ đƣợc vật chứng đều đƣợc xác định bằng gam, kilogam,… đây
chính là đơn vị tính khối lƣợng chứ không phải trọng lƣợng. Vì vậy, Bộ luật
17
hình sự 2015 đã thay đổi đơn vị tính từ “trọng lƣợng” thành “khối lƣợng”
trong các điều luật để đảm bảo tính chính xác của đơn vị tính.
Nhằm thực hiện chủ trƣơng, chính sách của đảng về giảm hình phạt
tử Bộ luật hình sự 2015 đã bỏ hình phạt tử hình, quy định khung hình phạt
nhẹ hơn so với Bộ luật hình sự 1999. Theo đó, khung hình phạt cao nhất đối
với tội phạm về ma túy là tù chung thân.
Bên cạnh những đặc điểm chung của hoạt động ADPLHS, hoạt động
ADPLHS đối với tội phạm về ma túy có những đặc điểm riêng dựa trên
những đặc điểm đặc trƣng của tội phạm ma túy là hoạt động ADPLHS đối với
hƣởng nặng nề.
Thời gian gần đây, các cơ quan có thẩm quyền đã triệt phá và đƣa ra xét
xử nhiều đƣờng dây buôn bán ma túy lớn nhỏ, đã tạo dựng đƣợc niềm tin của
xã hội đối với Nhà nƣớc, đối với pháp luật. Tuy nhiên những tội phạm ma túy
vẫn còn tồn tại rất nhiều, vẫn chƣa bị phát hiện. Do vậy, những cá nhân, cơ
quan có thẩm quyền phải áp dụng pháp luật đối với các tội phạm ma túy hợp
tình hợp lý, đúng ngƣời đúng tội để tăng cao tính giáo dục và răn đe.
Thứ hai, áp dụng pháp luật hình sự đối với các tội phạm về ma túy bảo
vệ lợi ích Nhà nƣớc; bảo vệ an toàn, trật tự xã hội.
Nhà nƣớc là chủ thể kiểm soát các hoạt động vận chuyển, tàng trữ, sử
dụng, mua bán ma túy, tiền chất, thuốc gây nghiện, thuốc hƣớng thần trên toàn
lãnh thổ Việt Nam (Điều 15, 19 Luật phòng, chống ma túy năm 2000). Các tội
phạm ma túy là các tội phạm vi phạm quyền kiểm soát ma túy của nhà nƣớc.
Ma tuý còn là nguyên nhân gây mất trật tự an toàn xã hội, là nguồn gốc
của nhiều loại tội phạm hình sự. Thực tế cho thấy ma tuý là bạn đồng hành
của tội phạm, mối quan hệ giữa ma túy và tội phạm là mối quan hệ nhân quả.
Ma tuý gắn liền với hành vi phạm tội, là nguồn bổ sung tội phạm. Khi bị
nghiện, những ngƣời nghiện sẵn sàng làm mọi việc miễn là có tiền, có ma tuý,
thậm chí giết ngƣời, cƣớp của. Khi đã bị nghiện, ngƣời nghiện luôn có xu
hƣởng tăng liều lƣợng dùng, chi phí về tiền ngày càng lớn, dẫn đến họ bị suy
kiệt về kinh tế. Sử dụng ma túy làm cho ngƣời nghiện thay đổi trạng thái tâm
lý, sa sút về tinh thần. Khi đã lệ thuộc vào ma túy thì nhu cầu cao nhất đối với
19
ngƣời nghiện là ma túy, họ dễ dàng bỏ qua những nhu cầu khác trong cuộc
sống đời thƣờng. Hành vi, lối sống của họ bị sai lệch so với chuẩn mực đạo
đức của xã hội và luật pháp.
Thứ ba, hoạt động áp dụng pháp luật đối với các tội phạm về ma túy có
vai trò quan trọng trong việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật nói chung và
cần thiết góp phần quan trọng trong việc nâng cao sự hiểu biết về pháp luật và
ý thức tôn trọng pháp luật trong nhân dân. Bên cạnh đó thông qua áp dụng
pháp luật trong xét xử các tội phạm về ma túy còn có vai trò trong việc trừng
trị nghiêm khắc những ngƣời có hành vi vi phạm pháp luật và bị truy cứu
trách nhiệm hình sự bảo vệ công dân, bảo vệ danh dự, nhân phẩm, tính mạng
của con ngƣời theo quy định của pháp luật, giữ gìn trật tự trị an và an toàn xã
hội, giữ gìn kỷ cƣơng phép nƣớc trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội.
1.3. Quy định của pháp luật về áp dụng pháp luật hình sự đối với các
tội phạm về ma túy
Do luận văn này chỉ tập trung nghiên cứu giai đoạn xét xử sơ thẩm nhƣ
phần phạm vi của luận văn đã nêu, do vậy ở phần này, tác giả chỉ phân tích
những quy định về ADPLHS trong giai đoạn xét xử.
Áp dụng pháp hình sự trong giai đoạn xét xử là hoạt động thƣờng xuyên
của TAND trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình do Hiến
pháp và pháp luật quy định. ADPL trong hoạt động giải quyết án hình sự của
Toà án mang những đặc điểm chung của hoạt động ADPL, bên cạnh đó, nó
còn có những đặc điểm riêng. Quy trình ADPL trong hoạt động giải quyết án
hình sự của Toà án đƣợc thực hiện theo quy định của BLTTHS nhƣng luật nội
dung giải quyết vụ án hình sự phải là BLHS.
Theo quy định tại Điều 102 Hiến pháp 1992 sửa đổi bổ sung năm 2013
và Điều 2 Luật tổ chức TAND thì TAND là cơ quan xét xử của nƣớc Cộng
hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tƣ pháp, xét xử các vụ án
hình sự, dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thƣơng mại, lao động,
hành chính và giải quyết các việc khác theo quy định của pháp luật; xem xét
đầy đủ, khách quan, toàn diện các tài liệu, chứng cứ đã đƣợc thu thập trong
quá trình tố tụng; căn cứ vào kết quả tranh tụng ra bản án, quyết định việc có
21