I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT
TRNG TH DUNG
HìNH PHạT Bổ SUNG TRONG LUậT HìNH Sự VIệT NAM
ĐốI VớI CáC TộI PHạM Về MA TúY
(trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh thái nguyên)
LUN VN THC S LUT HC
H NI - 2017
I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT
TRNG TH DUNG
HìNH PHạT Bổ SUNG TRONG LUậT HìNH Sự VIệT NAM
ĐốI VớI CáC TộI PHạM Về MA TúY
(trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh thái nguyên)
Chuyờn ngnh: Lut hỡnh s v t tng hỡnh s
Mó s: 60 38 01 04
LUN VN THC S LUT HC
Cỏn b hng dn khoa hc: TS. NG QUANG PHNG
H NI - 2017
Vai trò, mục đích của hình phạt bổ sung ....................................... 17
1.3.
Khái quát lịch sử lập pháp của pháp luật hình sự Việt Nam
về hình phạt bổ sung từ năm 1945 đến năm 1999 ......................... 20
1.3.1. Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1985 ............................................... 20
1.3.2. Giai đoạn từ năm 1985 đến năm 1999 ............................................... 25
Kết luận chƣơng 1 ......................................................................................... 29
Chƣơng 2: QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 1999 VỀ
HÌNH PHẠT BỔ SUNG ĐỐI VỚI CÁC TỘI PHẠM VỀ MA
TÚY VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH
THÁI NGUYÊN ............................... Error! Bookmark not defined.
2.1.
Quy định của Bộ luật hình sự năm 1999 về hình phạt bổ sung
đối với các tội phạm về ma túy........ Error! Bookmark not defined.
2.1.1. Các hình phạt bổ sung đối với các tội phạm về ma túy trong Bộ
luật hình sự năm 1999 ........................ Error! Bookmark not defined.
2.1.2. So sánh các hình phạt bổ sung đối với các tội phạm về ma túy
trong Bộ luật hình sự năm 1999 và Bộ luật hình sự năm 1985Error! Bookmark
2.1.3. Các hình phạt bổ sung cụ thể đối với các tội phạm về ma túy
trong Bộ luật hình sự năm 1999 ......... Error! Bookmark not defined.
2.2.
Thực tiễn áp dụng các hình phạt bổ sung đối với các tội
đối với các tội phạm về ma túy trên địa bàn tỉnh Thái NguyênError! Bookmar
3.2.1. Hướng dẫn kịp thời các quy định của Bộ luật hình sự năm 2015Error! Bookmark
3.2.2. Tiếp tục hoàn thiện pháp luật hình sự về chế định hình phạt bổ
sung đối với các tội phạm về ma túy.. Error! Bookmark not defined.
3.2.3. Tăng cường giải thích pháp luật, tập huấn nghiệp vụError! Bookmark not defin
3.2.4.
Nâng cao năng lực, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, ý thức pháp
luật và trách nhiệm nghề nghiệp của đội ngũ thẩm phán Tòa án
các cấp ................................................ Error! Bookmark not defined.
3.2.5. Tăng cường kiểm sát việc áp dụng pháp luật hình sự liên quan
đến những loại người đồng phạm của Viện kiểm sát nhân dânError! Bookmark
Kết luận chƣơng 3 ......................................... Error! Bookmark not defined.
KẾT LUÂN .................................................... Error! Bookmark not defined.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ...................................................... 30
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BLHS:
Bộ luật hình sự
HPBS:
Hình phạt bổ sung
2.2. bị cáo theo BLHS 1999 tại Thái Nguyên
Bookmark
not
defined.
Bảng Cơ cấu về HPBS đối với các bị cáo phạm tội về ma túy
Error!
2.3. trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên
Bookmark
not
defined.
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Tội phạm và hình phạt là những chế định quan trọng nhất trong Luật
hình sự (LHS), có quan hệ gắn bó hữu cơ với nhau. Khi nói đến LHS, dù đề
cập đến nội dung cụ thể nào thì tập trung lại cũng nhằm đi đến vấn đề tội
phạm và hình phạt. Trong hệ thống hình phạt mà LHS quy định có hình phạt
chính và hình phạt bổ sung (HPBS), hình phạt chính (HPC) và HPBS được
quy định áp dụng riêng biệt trong các tội danh mà Bộ luật hình sự (BLHS)
quy định với tính chất là chế tài mà Nhà nước áp dụng đối với người phạm
tội về các tội danh cụ thể. Hình phạt nói chung và các HPBS đối với các tội
phạm về ma túy vừa là nội dung, vừa là phương tiện của chính sách hình sự
của Nhà nước, bảo đảm cho LHS có thể thực hiện được nhiệm vụ bảo vệ chế
độ Xã hội chủ nghĩa (XHCN), lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp
của công dân, tổ chức, bảo vệ trật tự pháp luật XHCN, chống mọi hành vi
phạm tội về ma túy.
Trong đấu tranh phòng chống tội phạm về ma túy, HPBS tuy không có ý
nghĩa quyết định như HPC, nhưng trong giới hạn tác động của nó đã phát huy
phòng chống tội phạm ma túy của tỉnh Thái Nguyên; giúp cho việc cá thể hóa
trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với hành vi phạm tội về tội phạm ma túy
ở mức cao nhất, đảm bảo tính thống nhất, công bằng trong thực tiễn xét xử
của Tòa án các cấp tại tỉnh Thái Nguyên trong thời gian tới.
Việc nghiên cứu đề tài này cũng là việc triển khai các nhiệm vụ về cải
cách tư pháp theo tinh thần Nghị quyết số 08 ngày 02/01/2002 của Bộ Chính
trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới; Nghị
quyết số 48-NQ/TW ngày 25/04/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây
dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến
năm 2020 và Hiến pháp năm 2013, BLHS năm 1999 và đóng góp nhiều quan
điểm thực tiễn cho việc tiếp tục hoàn thiện BLHS năm 2015.
2
2. Tình hình nghiên cứu
Pháp luâ ̣t hình sự về HPBS trong pháp luật hình sự Việt Nam đối với
các tội phạm về ma túy luôn là vấ n đề có ý nghĩa thời sự trong giai đoạn
hiện nay khi mà nước ta đang bước vào thời kỳ xây dựng nền kinh tế thị
trường hội nhập sâu rộng đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Vấn đề
hoàn thiện pháp luật về hình phạt trong pháp luật hình sự Việt Nam đối với
các tội phạm về ma túy nói chung và về HPBS trong pháp luật hình sự Việt
Nam đối với các tội phạm về ma túy nói riêng được các nhà lập pháp và
đông đảo các nhà nghiên cứu quan tâm, đóng góp sôi nổi tại Diễn đàn lập
pháp của Quốc hội và Ủy ban thường vụ Quốc hội trong quá trình sửa đổi
BLHS năm 1985 đến nay. Khi thảo luận về dự thảo BLHS năm 1985, nhiều
ý kiến đưa ra và được thống nhất bổ sung Điều 185p về HPBS đối với các
tội phạm về ma túy, trong đó quy định mức phạt tiền cao và hình phạt tịch
thu một phần hoặc toàn bộ tài sản [10, tr.3].
Đặc biệt, khi tiến hành thảo luận BLHS năm 2015 có nhiều ý kiến xung
quanh việc áp dụng HPBS đối với tội phạm ma túy. Khi thảo luận, đa số ý
nước, phát hiện những vướng mắc, bất cập của các quy định về HPBS trong
pháp luật hình sự cần khắc phục. Nghiên cứu, đánh giá tình hình áp dụng các
quy định về HPBS của các Tòa án, từ đó chỉ ra những tồn tại, vướng mắc
trong thực tiễn áp dụng và những nguyên nhân của nó; đề xuất những giải
pháp khả thi góp phần nâng cao hiệu quả của HPBS trong thực tiễn áp dụng.
Nhiều công trình tập trung nghiên cứu vấn đề HPBS ở các khía cạnh khác
nhau: Chương thứ bảy - Hình phạt và biện pháp tư pháp, Trong sách: Sách
chuyên khảo Sau đại học: Những vấn đề cơ bản trong khoa học luật hình sự
(Phần chung) của GS.TSKH Lê Văn Cảm, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội,
2005; Chương XV - Khái niệm hình phạt, hệ thống hình phạt và các biện
pháp tư pháp, Trong sách: Giáo trình luật hình sự Việt Nam (Phần chung)
của PGS. TS. Trịnh Quốc Toản (GS.TSKH Lê Văn Cảm chủ biên), Nxb Đại
học Quốc gia Hà Nội, 2001 (tái bản năm 2003 và 2007); Những vấn đề lý
4
luận và thực tiễn về HPBS trong luật hình sự Việt Nam của PGS.TS. Trịnh
Quốc Toản, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2011; Trách nhiệm hình sự và
hình phạt do GS.TS. Nguyễn Ngọc Hòa (Chủ biên), Nxb Công an nhân dân,
2001; Tìm hiểu về hình phạt và quyết định hình phạt trong luật hình sự Việt
Nam của ThS. Đinh Văn Quế, Nxb Chính trị Quốc gia, 2000; Chương 8 Khái niệm hình phạt và hệ thống hình phạt, Trong sách: Tội phạm học, luật
hình sự và luật tố tụng hình sự Việt Nam (GS.TSKH. Đào Trí Úc chủ biên),
Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1994.
Dưới góc độ bài viết trên các tạp chí khoa học, đề cập trực tiếp hoặc
gián tiếp đến phạt tiền với tư cách HPBS. Tuy nhiên, rất ít có công trình
nghiên cứu chuyên sâu, chuyên biệt về các quy định và thực tiễn áp dụng
HPBS đối với các tội phạm ma túy. Một số bài viết: Một số vấn đề mới về
hình phạt tiền trong BLHS năm 1999, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 7/2003 của
TS. Trịnh Tiến Việt; Về hình phạt tiền trong luật một số nước, Tạp chí Nhà
nước và pháp luật, số 7/2002 của PGS. TS. Trịnh Quốc Toản; Sự mâu thuẫn
3.1. Mục đích nghiên cứu
Việc nghiên cứu đề tài nhằm đạt được những mục tiêu cơ bản sau:
- Khái quát, hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn HPBS trong pháp
luật hình sự Việt Nam đối với các tội phạm về ma túy;
- Đánh giá thực trạng pháp luật và áp dụng pháp luật về thực tiễn HPBS
trong pháp luật hình sự Việt Nam đối với các tội phạm về ma túy (qua nghiên
cứu điạ bàn tỉnh Thái Nguyên);
- Chỉ ra những thành công, kết quả đạt được và những tồn tại, hạn chế;
nguyên nhân tồn tại, hạn chế của việc áp dụng pháp luật về HPBS trong pháp
luật hình sự Việt Nam đối với các tội phạm về ma túy và đề xuất các giải
pháp nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật về HPBS trong pháp luật hình sự
Việt Nam đối với các tội phạm về ma túy.
6
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đa ̣t đươ ̣c mu ̣c đích, luâ ̣n văn có các nhiê ̣m vu ̣ sau đây:
- Nghiên cứu và xây dựng các khái niê ̣m: Khái niệm, hệ thống HPBS; Vai
trò, mục đích, ý nghĩa của HPBS; Khái quát lịch sử pháp luật hình sự Việt Nam.
- Nghiên cứu pháp luâ ̣t hiê ̣n hành về HPBS trong pháp luật hình sự Việt
Nam đối với các tội phạm về ma túy
- Nghiên cứu các yế u tố ảnh hưởng không tić h cực tới thực hiê ̣n pháp
luâ ̣t HPBS trong pháp luật hình sự Việt Nam đối với các tội phạm về ma túy.
- Đánh giá thực tra ̣ng áp dụng pháp luật về HPBS trong pháp luật hình
sự Việt Nam đối với các tội phạm về ma túy tại địa bàn tỉnh Thái Nguyên;
- Đưa những giải pháp hoàn thiê ̣n pháp luâ ̣t và tổ chức thực hiê ̣n pháp
luâ ̣t trong quá trình áp dụng quy định HPBS trong pháp luật hình sự Việt Nam
đối với các tội phạm về ma túy tại địa bàn tỉnh Thái Nguyên.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Phương pháp phân tích, đánh giá, diễn giải, so sánh, tổng hợp, quy
nạp…được sử dụng trong Chương 2 khi nghiên cứu pháp luật hiện hành về
HPBS trong luật hình sự Việt Nam đối với các tội phạm về ma túy, thực tiễn
áp dụng trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên.
- Phương pháp bình luận, tổng hợp…được sử dụng trong Chương 3 khi
nghiên cứu các giải pháp nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật về HPBS trong
luật hình sự Việt Nam đối với các tội phạm về ma túy và các giải pháp nhằm
nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật đối với HPBS trong luật hình sự Việt
Nam đối với các tội phạm về ma túy nói chung và trên địa bàn tỉnh Thái
Nguyên nói riêng.
6. Ý nghĩa của luận văn
- Làm rõ cơ sở lý luận, phân tích, đánh giá các quy định của pháp luật
hình sự về HPBS nói chung và đi sâu vào phân tích các HPBS áp dụng đối
với các tội phạm về ma túy.
8
- Đưa ra số liệu, từ đó phân tích, đánh giá thực tiễn thi hành HPBS đối
với các tội phạm về ma túy trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên.
- Chỉ ra những bất cập, hạn chế trong việc áp dụng các HPBS đối với
các tội phạm về ma túy còn chưa hợp lý, thiếu chính xác dẫn đến việc thi
hành các hình phạt đó trên thực tiễn không khả thi. Từ đó đưa ra những giải
pháp mang tính tham khảo nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật hình
sự về HPBS đối với các tội phạm về ma túy, nâng cao hiệu quả áp dụng và thi
hành trong thực tiễn.
7. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn có
3 chương bao gồm:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về hình phạt bổ sung trong luật hình
Theo quan điểm của PGS. TS Trần Văn Độ thì:
HPBS là hình phạt được áp dụng kèm theo HPC nhằm
tăng cường hiệu quả của việc áp dụng hình phạt, đáp ứng mục
đích cải tạo, giáo dục người phạm tội, phòng ngừa chung và
phòng ngừa riêng [12].
10
TS Trinh Tiến Việt cho rằng:
HPBS là biện pháp cưỡng chế Nhà nước nghiêm khắc nhất
được quy định trong Luật hình sự, do Tòa án nhân danh Nhà nước
tuyên kèm theo HPC trong bản án kết tội đã có hiệu lực pháp luật
đối với chính người đã có lỗi trong việc thực hiện tội phạm, tước bỏ
hoặc hạn chế những quyền và lợi ích nhất định của người bị kết án
nhằm cải tạo, giáo dục người phạm tội, củng cố, hỗ trợ, tăng cường
tác dụng của HPC; phòng ngừa chung và phòng ngừa riêng [47].
Tuy nhiên có quan điểm lại cho rằng HPBS là hình phạt được
bổ sung thêm vào HPC và không được tuyên độc lập mà chỉ có thể
tuyên kèm theo một HPC. Tuỳ theo từng trường hợp cụ thể của vụ
án mà kèm theo một HPC Toà án có thể tuyên một hoặc vài HPBS.
Theo quy định tại khoản 2 Điều 28 BLHS năm 1999, thì HPBS gồm:
cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định;
cấm cư trú; quản chế; tước một số quyền công dân; tịch thu tài sản; phạt
tiền, khi không áp dụng là hình phạt chính; trục xuất, khi không áp dụng là
hình phạt chính.
Tại BLHS năm 2015 các HPBS đố i với người phạm tội bao gồ m : cấm
đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định; cấm cư
trú; quản chế; tước một số quyền công dân; tịch thu tài sản; phạt tiền, khi
không áp dụng là hình phạt chính; trục xuất, khi không áp dụng là hình phạt
Chúng ta không phủ nhận một thực tế là khi xem xét đánh giá, so sánh
riêng lẻ giữa một số HPBS với HPC, cho thấy mức độ nghiêm khắc của
HPBS có khi còn cao hơn HPC. Ví dụ: Hình phạt tịch thu tài sản so với hình
phạt tiền với tính chất là HPC; hình phạt quản chế với hình phạt cảnh cáo.
Tuy vậy, nhìn một cách tổng thể thì HPC vẫn là biện pháp cưỡng chế Nhà
nước nghiêm khắc hơn nhiều so với HPBS, bởi lẽ có áp dụng HPC mới có
việc xem xét hình phạt bổ sung.
12
HPBS là các biện pháp cưỡng chế không tước tính mạng, tự do thân
thể, không buộc cách ly người phạm tội ra khỏi đời sống xã hội. Trong khi
đó một số HPC lại có thể dẫn đến hậu quả trên cho người bị áp dụng như
hình phạt tử hình, tù chung thân, tù có thời hạn. Điều này làm cho HPBS
thiên về khía cạnh phòng ngừa, giáo dục người phạm tội nhiều hơn là mục
đích trừng trị họ. Không giống như khi áp dụng HPC thì sự trừng trị của
pháp luật nặng nề hơn.
Mặt khác, mặc dù có một số hình phạt vừa có thể là HPC vừa có thể là
HPBS (như hình phạt trục xuất, phạt tiền) nhưng nếu bị áp dụng với tư cách là
HPC thì sẽ để lại án tích cho người bị kết án trong một thời hạn nhất định.
Đây là một đặc điểm pháp lý bất lợi (hay nặng nề hơn) đối với người phạm tội
của HPC so với HPBS.
Thứ hai, HPBS không được sắp xếp theo một trật tự như HPC.
Khi xem xét đối với tính nghiêm khắc của hình phạt là đối với hệ thống
HPC có thể thấy rõ sự phân hóa trong mức độ nặng nhẹ của từng hình phạt.
Thể hiện rõ nhất điều này thông qua việc sắp xếp các HPC theo mức độ
nghiêm khắc tăng dần. Trong khi đó đối với HPBS thì giữa các hình phạt
dường như rất khó để so sánh tính nghiêm khắc. Bởi lẽ với tư cách là HPBS
cho HPC thì nội dung cải tạo, giáo dục của chúng là rất khác nhau. Mỗi loại
được áp dụng độc lập đối với mỗi tội phạm cụ thể và không được áp dụng với
tất cả các tội phạm được quy định trong BLHS. Tòa án chỉ có thể áp dụng
HPBS đối với một người trong một bản án kết tội về một tội phạm mà người
đó thực hiện, nhưng chỉ trên cơ sở điều luật về tội phạm có quy định.
Việc áp dụng HPBS như thế nào đối với người phạm tội sau khi đã xác
định HPC cho họ còn phụ thuộc vào tính chất tùy nghi hay bắt buộc của điều
luật quy định. Nếu quy định cho phép Tòa án được lựa chọn loại việc có áp
dụng HPBS và áp dụng những hình phạt nào thì Hội đồng xét xử căn cứ vào
14
các yếu tố trong vụ án để quyết định. Còn nếu điều luật quy định bắt buộc
phải áp dụng HPBS nào đó đối với tội phạm cụ thể thì Tòa án buộc phải áp
dụng HPBS đó đối với người phạm tội.
Thứ năm, HPBS không áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội.
Không áp dụng HPBS đối với người chưa thành niên phạm tội. Đây là
sự thể hiện chính sách nhân đạo, khoan hồng đối với người chưa thành
niên. Bởi nếu áp dụng HPBS đối với người bị kết án là người chưa thành niên
sẽ dẫn tới hiệu quả của hình phạt không cao hoặc không đạt được. Trong lứa
tuổi này, đa số người chưa thành niên chưa có hoặc có nhưng hạn chế về nghề
nghiệp, tiền, tài sản… không đảm bảo cho việc thi hành HPBS. Mặt khác,
người chưa thành niên phạm tội có đặc điểm là họ chưa phát triển đầy đủ về
thể chất và tâm sinh lý, vì vậy nguyên tắc chủ yếu của đường lối xử lý hành vi
phạm tội của họ là nhằm giáo dục họ có ý thức tôn trọng pháp luật và các quy
tắc của cuộc sống xã hội, giúp đỡ họ có điều kiện sửa chữa sai lầm, phát triển
lành mạnh và trở thành công dân có ích cho xã hội.
1.1.2. Hệ thống hình phạt bổ sung
Hệ thống hình phạt trong BLHS năm 1999 (được quy định từ Điều 28
đến Điều 40) gồm 7 HPC và 7 HPBS. 07 HPC là: Cảnh cáo; phạt tiền; cải tạo
hình phạt đối với pháp nhân thương mại phạm tội”; bỏ cụm từ “Hình phạt
bao gồm HPC và HPBS ".
Bên cạnh đó, BLHS năm 2015 điểm mới nữa là có quy định về các
HPBS đố i với pháp nhân thương mại phạm tội bao gồ m : Cấm kinh doanh,
cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định; cấm huy động vốn; Phạt tiền,
khi không áp dụng là hình phạt chính. Đối với mỗi tội phạm, pháp nhân thương
mại phạm tội chỉ bị áp dụng một HPC và có thể bị áp dụng một hoặc một số
HPBS. Hệ thống hình phạt này trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm nước ngoài;
thống nhất với các quy định của pháp luật về xử phạt hành chính và phù hợp xử
lý đối với các hành vi phạm tội do pháp nhân thương mại gây ra.
16
1.2. Vai trò, mục đích của hình phạt bổ sung
HPBS cùng với HPC cấu thành nên hệ thống hình phạt theo quy định
của pháp luật. Là một bộ phận của hình phạt nên vai trò HPBS trước hết cũng
thể hiện:
Thứ nhất, hình phạt không chỉ nhằm trừng trị người phạm tội mà
còn giáo dục họ trở thành người có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo
pháp luật và các quy tắc của cuộc sống xã hội chủ nghĩa, ngăn ngừa họ
phạm tội mới. Hình phạt còn nhằm giáo dục người khác tôn trọng pháp
luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm. Ngoài ra với những tính
chất, đặc trưng riêng của mình, HPBS còn có những vai trò riêng của nó,
được áp dụng nhằm thực hiện những vai trò riêng so với HPC.
HPBS sẽ giúp cho hệ thống hình phạt chung được đa dạng
hóa hình phạt trong hệ thống hình phạt là điều kiện đảm bảo tính
thống nhất trong thực tiễn xét xử của Tòa án các cấp, bảo đảm
cho việc xét xử bình đẳng, công bằng. Với nhiều loại hình phạt
khác nhau được quy định thì khả năng cá thể hóa và bảo đảm sự