Vai trò của kiểm sát viên trong quá trình giải quyết vụ án hình sự (trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh thái bình) - Pdf 41

I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT

NGHIấM TH THANH TH

VAI TRò CủA KIểM SáT VIÊN
TRONG QUá TRìNH GIảI QUYếT Vụ áN HìNH Sự
(trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh Thái Bình)

LUN VN THC S LUT HC

H NI - 2016


I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT

NGHIấM TH THANH TH

VAI TRò CủA KIểM SáT VIÊN
TRONG QUá TRìNH GIảI QUYếT Vụ áN HìNH Sự
(trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh Thái Bình)
Chuyờn ngnh: Lut hỡnh s v t tng hỡnh s
Mó s: 60 38 01 04

LUN VN THC S LUT HC

Cỏn b hng dn khoa hc: TS. Lấ LAN CHI

H NI - 2016


án hình sự .....................................................................................................7
Khái niệm Kiểm sát viên ...............................................................................7
Khái niệm giải quyết vụ án hình sự và vai trò của Kiểm sát viên trong
quá trình giải quyết vụ án hình sự ...............................................................10

1.2.

Nội dung vai trò của Kiểm sát viên trong quá trình giải quyết vụ
án hình sự ...................................................................................................12

1.2.1.

Vai trò của Kiểm sát viên trong các quan hệ tố tụng của quá trình giải
quyết vụ án hình sự .....................................................................................13
Các hoạt động thể hiện vai trò của Kiểm sát viên trong quá trình giải

1.2.2.

quyết vụ án hình sự .....................................................................................20
1.3.
Vai trò của Kiểm sát viên trong một số mô hình tố tụng trên thế giới.....34
1.3.1. Vai trò của Công tố viên trong mô hình tố tụng tranh tụng ........................34
1.3.2. Vai trò của Công tố viên trong mô hình tố tụng thẩm vấn ..........................36
1.3.3. Vai trò của Kiểm sát viên trong mô hình tố tụng hỗn hợp ..........................38
KẾT LUẬN CHƢƠNG 1..........................................................................................41
Chƣơng 2: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ VAI TRÒ CỦA KIỂM SÁT
VIÊN TRONG QUÁ TRÌNH GIẢI QUYẾT VỤ ÁN HÌNH SỰ ..............43
2.1.
2.1.1.


3.1.2. Các hạn chế của Kiểm sát viên Viện kiểm sát hai cấp tỉnh Thái Bình
trong quá trình giải quyết vụ án hình sự và nguyên nhân ...........................84
3.2.
Giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao vai trò của Kiểm
sát viên trong quá trình giải quyết vụ án hình sự ..................................92
3.2.1. Giải pháp tiếp tục hoàn thiện Bộ luật tố tụng hình sự .................................92
3.2.2. Giải pháp hoàn thiện pháp luật khác ...........................................................95
3.3.
Giải pháp khác ...........................................................................................97
3.3.1. Giải pháp nâng cao năng lực chuyên môn, nghiệp vụ, đạo đức nghề
nghiệp của Kiểm sát viên ............................................................................97
3.3.2. Giải pháp bảo đảm điều kiện làm việc của Kiểm sát viên ........................100
3.3.3. Giải pháp tăng cƣờng công tác kiểm tra, giám sát hoạt động của Kiểm sát viên ...101
KẾT LUẬN CHƢƠNG 3........................................................................................103
KẾT LUẬN ............................................................................................................104
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO .............................................................107
PHỤ LỤC ...............................................................................................................113


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BLHS:

Bộ luật hình sự

BLTTHS:

Bộ luật tố tụng hình sự

TTHS:


quyền lợi ích hợp pháp của công dân. Bên cạnh đó, công tác thực hành quyền công
tố và kiểm sát điều tra còn chƣa đƣợc hiệu quả, chất lƣợng chƣa cao, chƣa bám sát
chặt chẽ quá trình điều tra vụ án. Tính chiến đấu và chủ động của Kiểm sát viên
thực hành quyền công tố trong quá trình điều tra và xét xử tại Tòa án còn nhiều
trƣờng hợp thụ động, phát huy trách nhiệm chƣa cao. Tính chủ động, tích cực trong
việc tranh luận của Kiểm sát viên ở một số phiên tòa chƣa đƣợc thực hiện tốt. Nội
dung tranh luận, đối đáp của Kiểm sát viên với bị cáo, Luật sƣ còn nhiều lý lẽ thiếu
sắc bén, chƣa khoa học, chƣa sử dụng có hiệu quả tài liệu, chứng cứ khách quan kết

1


hợp với việc viện dẫn điều luật áp dụng để lập luận, chứng minh bảo vệ quan điểm
của mình. Mặt khác, năng lực chuyên môn, kiến thức pháp luật và kinh nghiệm thực
tế của Kiểm sát viên hiện còn chƣa đồng đều. Văn hóa ứng xử của Kiểm sát viên tại
phiên tòa cũng là một trong những vấn đề đang đƣợc quan tâm.
Trƣớc tình hình trên và trƣớc nhiệm vụ phát triển và bảo vệ đất nƣớc, yêu cầu
xây dựng Nhà nƣớc pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc và để đáp ứng yêu cầu của cuộc đấu tranh phòng
chống tội phạm ở nƣớc ta trong tình hình hiện nay, hoàn thành tốt nhiệm vụ cải cách
tƣ pháp thì việc tiếp tục nghiên cứu cơ sở lý luận và phân tích tình hình thực tiễn, qua
đó đƣa ra phƣơng hƣớng, giải pháp nâng cao vai trò của Kiểm sát viên trong quá trình
giải quyết vụ án hình sự là đòi hỏi mang tính khách quan và cấp thiết.
Nghiên cứu về vai trò của Kiểm sát viên trong tố tụng hình sự (sau đây viết
tắt là TTHS) là vấn đề quan trọng, không chỉ giúp cho mọi ngƣời nhận thức đúng,
đủ về chủ thể này trong hoạt động TTHS mà còn thông qua đó hoàn thiện hệ thống
pháp luật, cơ chế tổ chức, các chế độ đãi ngộ đối với Kiểm sát viên; tạo điều kiện
cho đội ngũ Kiểm sát viên có thể thực hiện tốt vai trò của mình. Đây cũng chính là
lý do học viên chọn đề tài “Vai trò của Kiểm sát viên trong quá trình giải quyết vụ
án hình sự (Trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh Thái Bình)” làm luận văn thạc sĩ

tụng hình sự Việt Nam về Viện kiểm sát, người tiến hành tố tụng thuộc Viện kiểm sát
và một số kiến nghị hoàn thiện” của tác giả Nguyễn Duy Giảng (VKSND tối cao,
năm 2013); “Bàn về vai trò, trách nhiệm của Kiểm sát viên trong tố tụng hình sự”
của tác giả Phạm Xuân Khoa đăng trên tạp chí Kiểm sát số 23/2014; “Nâng cao
năng lực tranh tụng của kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân địa phương tại phiên
tòa xét xử các vụ án hình sự” của tác giả Lê Thị Ngọc Dung trên Tạp chí Dân chủ
và pháp luật tháng 9/2014; “Một số giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện quy định
của pháp luật tố tụng hình sự về địa vị pháp lý của Kiểm sát viên” của tác giả Lê
Mạnh Hùng (VKSND Thanh Khê, Đà Nẵng, năm 2015)…
Qua nghiên cứu cho thấy nội dung của các công trình nghiên cứu, luận văn,
các bài viết trên tạp chí khoa học đã công bố ở Việt Nam thời gian qua, đặc biệt là từ
khi có Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 2/6/2005 của Bộ Chính trị Ban Chấp hành
Trung ƣơng Đảng về chiến lƣợc cải cách tƣ pháp đến năm 2020 thì hầu hết các công

3


trình đó đều là những công trình nghiên cứu trực diện về chức năng, nhiệm vụ của
VKSND; về địa vị pháp lý của tất cả các chủ thể tiến hành tố tụng trong VKSND;
hoặc là nghiên cứu đơn lẻ, đề cập đến một vài vấn đề liên quan đến hoạt động của
Kiểm sát viên trong một số giai đoạn tố tụng cụ thể. Chƣa có một công trình khoa học
nào nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện và sâu sắc về vị trí, vai trò của Kiểm sát
viên trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án hình sự. Chính vì vậy, vai trò của Kiểm
sát viên trong TTHS ở tất cả các giai đoạn tố tụng và những hạn chế, bất cập còn tồn
tại chƣa đƣợc phân tích đầy đủ và có hệ thống để có những phƣơng hƣớng, giải pháp
nâng cao vai trò của chủ thể này trong quá trình tham gia giải quyết vụ án hình sự.
Từ nhận định trên, luận văn này sẽ tiếp tục nghiên cứu về vai trò của Kiểm
sát viên nhƣng ở trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án hình sự, với sự phân tích
số liệu cụ thể trên thực tiễn địa bàn tỉnh Thái Bình. Từ đó đƣa ra những phƣơng
hƣớng, giải pháp hoàn thiện và nâng cao vị trí, vai trò của Kiểm sát viên.

5. Cơ sở lý luận và các phƣơng pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận của luận văn là quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, tƣ tƣởng
Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và Nhà nƣớc ta về cải cách tƣ pháp, cũng nhƣ các
thành tựu của các chuyên ngành khoa học pháp lý nhƣ: Lịch sử pháp luật, Lý luận về
Nhà nƣớc và pháp luật, những luận điểm khoa học trong các công trình nghiên cứu,
sách chuyên khảo, các bài viết đăng trên tạp chí của một số nhà khoa học.
Luận văn sử dụng các phƣơng pháp nghiên cứu cụ thể là: thống kê, so sánh,
phân tích tổng hợp, phƣơng pháp lịch sử, phƣơng pháp khảo sát thực tiễn, nghiên
cứu báo cáo.
6. Điểm mới của luận văn
Luận văn là công trình nghiên cứu có hệ thống và toàn diện các vấn đề lý
luận về vai trò của Kiểm sát viên trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án hình sự.
Luận văn phác thảo trung thực và chính xác và khách quan thực tiễn khách
quan tại địa bàn tỉnh Thái Bình, những thành tựu cũng nhƣ tồn tại, hạn chế trong
quá trình đội ngũ Kiểm sát viên tiến hành tố tụng trong các vụ án hình sự.
Luận văn cũng nêu lên đƣợc những giải pháp, kiến nghị thiết thực nhằm
hoàn thiện pháp luật TTHS; nâng cao vai trò, chất lƣợng của Kiểm sát viên tại địa
bàn tỉnh Thái Bình nói riêng, đội ngũ Kiểm sát viên trên toàn quốc nói chung nhằm
đáp ứng yêu cầu của cải cách tƣ pháp.

5


7. Cấu trúc luận văn
Cấu trúc luận văn gồm ba phần: phần mở đầu, phần nội dung và phần kết luận.
Phần nội dung gồm ba chƣơng:
- Chương 1: Một số vấn đề lý luận về vai trò của Kiểm sát viên trong quá
trình giải quyết vụ án hình sự.
- Chương 2: Quy định của pháp luật về vai trò của Kiểm sát viên trong quá
trình giải quyết vụ án hình sự.

viên cần xuất phát từ cách tiếp cận về Kiểm sát viên trong một mối quan hệ nhất
định, một thiết chế nhất định.
Theo Từ điển Bách khoa toàn thƣ, “Kiểm sát viên là cán bộ của cơ quan
kiểm sát được bổ nhiệm theo quy định của pháp luật, có thẩm quyền và nghĩa vụ
luật định, thực hiện chức năng kiểm tra giám sát việc chấp hành triệt để nghiêm
chỉnh pháp luật của Nhà nước, tổ chức xã hội và công dân” [22, tr. 563]. Từ điển

7


Bách khoa toàn thƣ chỉ ra nội hàm của khái niệm Kiểm sát viên gồm ba nội dung: 1,
là cán bộ của cơ quan kiểm sát – Kiểm sát viên ở đây có tƣ cách là một cán bộ trong
thiết chế cơ quan kiểm sát; 2, đƣợc bổ nhiệm theo quy định của pháp luật; và 3, có
thẩm quyền và nghĩa vụ luật định, thực hiện chức năng kiểm tra giám sát việc chấp
hành triệt để nghiêm chỉnh pháp luật của Nhà nƣớc, tổ chức xã hội và công dân. Tuy
nhiên, nội dung thứ ba không còn phù hợp, không chính xác tại thời điểm hiện tại khi
chức năng của VKS đã thay đổi, Kiểm sát viên là ngƣời tiến hành tố tụng của VKS
thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tƣ pháp của VKS.
Theo Từ điển Luật học thì: “Kiểm sát viên là người được bổ nhiệm theo quy
định của pháp luật để làm nhiệm vụ kiểm sát việc tuân theo pháp luật, thực hành
quyền công tố” [57, tr. 263]. Khái niệm này chƣa phản ánh rõ địa vị pháp lý của
Kiểm sát viên mà chỉ thể hiện nhiệm vụ của Kiểm sát viên theo chức năng của VKS
đƣợc quy định trong Hiến pháp, Luật tổ chức VKSND tại thời điểm đƣa ra khái
niệm và không còn phù hợp với thời điểm hiện tại.
Pháp lệnh Kiểm sát viên năm 2002 định nghĩa: “Kiểm sát viên là người được
bổ nhiệm theo quy định của pháp luật để làm nhiệm vụ thực hành quyền công tố và
kiểm sát các hoạt động tư pháp” [55, Điều 1]. Khái niệm trên đã xác định đúng về
nhiệm vụ của Kiểm sát viên từ giác độ chức năng hiện hành của VKSND nhƣng cũng
tồn tại những hạn chế trong cách xây dựng khái niệm nhƣ trong Từ điển Luật học.
Theo chúng tôi, để làm rõ khái niệm và vai trò của Kiểm sát viên, thứ nhất,

pháp luật [68, tr. 5].
Nhƣ vậy, từ khía cạnh thứ hai, có thể hiểu Kiểm sát viên là một chức danh tƣ
pháp, thực hiện một loại hình nghề luật tƣơng ứng – nghề công tố/nghề kiểm sát tùy
theo quan điểm của mỗi quốc gia trên thế giới và sẽ có vai trò tƣơng ứng với tính
chất nghề nghiệp của họ trong sự phân công lao động xã hội.
Thứ ba, khi đƣợc phân công giải quyết các vụ án hình sự, dân sự, kinh doanh
thƣơng mại… Kiểm sát viên là một loại ngƣời tiến hành tố tụng, có các thẩm quyền
tiến hành tố tụng, có quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm thực hiện các quyết định và
hành vi tố tụng và cũng phải chịu trách nhiệm cá nhân đối với các quyết định, hành
vi tố tụng do họ thực hiện. ở khía cạnh này, Kiểm sát viên có vai trò tố tụng của họ
trong quá trình giải quyết vụ án hình sự.
Nhƣ vậy, cả ba tƣ cách này của Kiểm sát viên đều gắn với hoạt động nghề

9


nghiệp của họ. Trong đó, tƣ cách ngƣời tiến hành tố tụng của Kiểm sát viên thể hiện
cả tƣ cách của một công chức nhà nƣớc làm việc tại VKS và tƣ cách ngƣời hoạt
động nghề nghiệp. Tƣ cách ngƣời tiến hành tố tụng gắn với một vụ án, vụ việc cụ
thể mà họ đƣợc phân công thụ lý và cũng thể hiện đầy đủ, trọn vẹn vai trò nghề
nghiệp của họ.
1.1.2. Khái niệm giải quyết vụ án hình sự và vai trò của Kiểm sát viên
trong quá trình giải quyết vụ án hình sự
Giải quyết vụ án hình sự là một khái niệm đƣợc nhắc đến khá thƣờng xuyên
trong quá trình TTHS. Tuy nhiên, hiện nay chƣa có định nghĩa hoàn chỉnh và thống
nhất về khái niệm này.
Trong cuốn Sổ tay kiến thức pháp luật của Điều tra viên, tại trang 288, tác
giả Nguyễn Ngọc Anh nhận định: “Trong tố tụng hình sự, xử lý vụ án hình sự chính
là việc giải quyết vụ án của các cơ quan tiến hành tố tụng thông qua các giai đoạn
điều tra, truy tố, xét xử và thi hành bản án hình sự. Xử lý vụ án còn có một cách gọi

định đoạt đối với số phận pháp lý của một hay nhiều ngƣời bị truy cứu trách nhiệm
hình sự. Có nhiều quan điểm khác nhau về phân chia các giai đoạn của quá trình
giải quyết vụ án hình sự. Trong luận văn này chúng tôi lựa chọn tiếp cận vai trò của
Kiểm sát viên trong giải quyết vụ án hình sự ở các giai đoạn khởi tố, điều tra, truy
tố, xét xử và một phần giai đoạn thi hành án. Thi hành án là giai đoạn tiếp theo của
xét xử nhƣng nó không phải là hoạt động tƣ pháp thuần túy mà còn mang tính chất
hành chính. Khi Tòa án ra quyết định thi hành án đồng nghĩa với việc kết thúc quá
trình giải quyết vụ án hình sự. Hoạt động của Cơ quan công an, Ủy ban nhân dân,
Cơ quan thi hành án hình sự… tổ chức thi hành bản án, quyết định của Tòa lại là
hoạt động tác nghiệp thi hành án, không chịu sự điều chỉnh của pháp luật TTHS mà
cần áp dụng các quy định của luật thi hành án. Do vậy, giải quyết vụ án hình sự chỉ
dừng lại ở phân đoạn đầu tiên của giai đoạn thi hành án hình sự.
Từ các phân tích nêu trên về mối quan hệ giữa tƣ cách của Kiểm sát viên với
vai trò của Kiểm sát viên và từ các phân tích về nội dung quá trình giải quyết vụ án
hình sự, chúng tôi cho rằng: “Vai trò của Kiểm sát viên trong quá trình giải quyết
vụ án hình sự là sự thể hiện địa vị pháp lý của Kiểm sát viên với tư cách là người
tiến hành tố tụng của VKSND, thông qua các hoạt động tố tụng để góp phần giải
quyết vụ án hình sự theo thẩm quyền, từ giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố, xét
xử và một phần của giai đoạn thi hành án hình sự”.

11


1.2. Nội dung vai trò của Kiểm sát viên trong quá trình giải quyết vụ án
hình sự
Kiểm sát viên là một ngƣời tiến hành tố tụng trong các vụ án hình sự. Khi
đƣợc phân công thụ lý một vụ án hình sự, Kiểm sát viên trở thành ngƣời tiến hành
tố tụng trong một vụ án hình sự cụ thể - hiện thực hóa chức năng của VKS trong vụ
án cụ thể này. Vai trò ngƣời tiến hành tố tụng của Kiểm sát viên tƣơng ứng với chức
năng của VKS là một cơ quan tiến hành tố tụng nhƣng phải chịu trách nhiệm cá

Quá trình giải quyết vụ án hình sự có nhiều giai đoạn với sự tham gia của nhiều
chủ thể khác nhau. Kiểm sát viên thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tƣ
pháp từ giai đoạn khởi tố, điều tra đến thi hành án hình sự. Do vậy, Kiểm sát viên có
mối quan hệ pháp luật với nhiều chủ thể tiến hành và chủ thể tham gia TTHS.
Thứ nhất, mối quan hệ giữa Kiểm sát viên với những người tiến hành tố tụng
khác của VKS.
Mối quan hệ giữa Kiểm sát viên với những ngƣời tiến hành tố tụng khác
trong VKS là mối quan hệ giữa Kiểm sát viên với Viện trƣởng, Phó Viện trƣởng và
Kiểm tra viên trong cùng một cơ quan VKS.
Trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, khi thực hiện chức năng thực hành
quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tƣ pháp của VKS, Kiểm sát viên tuân theo
pháp luật và chịu sự chỉ đạo của Viện trƣởng VKS cấp mình. Phó Viện trƣởng giúp
Viện trƣởng thực thi nhiệm vụ. Khi có vụ án xảy ra, Kiểm sát viên thực thi nhiệm
vụ, quyền hạn theo sự phân công của Viện trƣởng, Phó Viện trƣởng (đƣợc Viện
trƣởng ủy nhiệm). Kiểm sát viên có trách nhiệm báo cáo trung thực, chính xác, đầy
đủ nội dung vụ việc, tiến độ giải quyết và đề xuất hƣớng xử lý. Viện trƣởng, Phó
Viện trƣởng (đƣợc Viện trƣởng ủy nhiệm) sau khi nghe Kiểm sát viên báo cáo thì
ghi ý kiến chỉ đạo của mình vào phiếu đề xuất của Kiểm sát viên. Mặc dù là ngƣời
tiến hành tố tụng theo quy định của pháp luật TTHS nhƣng hoạt động của Kiểm sát
viên không mang tính độc lập cao nhƣ Thẩm phán. Kiểm sát viên chỉ đƣợc thực
hiện độc lập một số hoạt động tố tụng và đồng thời phải tuân thủ nguyên tắc thủ
trƣởng và nguyên tắc trực thuộc một chiều đặc thù của ngành Kiểm sát. Trong quá
trình tác nghiệp, Kiểm sát viên phải thƣờng xuyên báo cáo với Viện trƣởng, Phó
viện trƣởng (đƣợc Viện trƣởng ủy nhiệm). Mối quan hệ giữa Viện trƣởng, Phó Viện
trƣởng với Kiểm sát viên trong cùng một cơ quan VKSND đƣợc điều là mối quan

13


hệ chỉ huy, mệnh lệnh – phục tùng, xuất phát từ sự phân định thẩm quyền hành



nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, Quân đội nhân dân đƣợc giao nhiệm
vụ tiến hành một số hoạt động điều tra) có mối liên hệ mật thiết với nhau trong quá
trình tiến hành hoạt động TTHS mà đại diện trực tiếp là giữa Kiểm sát viên với
Điều tra viên, những ngƣời đƣợc giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra
của các cơ quan theo luật định. Mối quan hệ giữa Kiểm sát viên và Điều tra viên,
những ngƣời đƣợc giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra vừa mang tính
chỉ đạo vừa có tính chất phối hợp, kiểm soát lẫn nhau. Tính chất chỉ đạo thể hiện ở
việc Kiểm sát viên đại diện cho VKS thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt
động tƣ pháp có quyền tác động trực tiếp vào hoạt động điều tra của các Điều tra
viên, các cá nhân có thẩm quyền của cơ quan đƣợc giao nhiệm vụ tiến hành một số
hoạt động điều tra. Trong trƣờng hợp cần thiết, Kiểm sát viên trực tiếp hoặc trình
Viện trƣởng VKS ra các quyết định tố tụng và yêu cầu Cơ quan điều tra, những cơ
quan đƣợc giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra và những ngƣời tiến
hành tố tụng của các cơ quan này phải thực hiện. Nhƣng ngƣợc lại, Điều tra viên,
những ngƣời có thẩm quyền thuộc các cơ quan đƣợc giao nhiệm vụ tiến hành một
số hoạt động điều tra của Bộ đội Biên phòng, Hải quan, Lực lƣợng cảnh sát biển,
Kiểm ngƣ, Kiểm lâm, Công an nhân dân, Quân đội nhân dân không có quyền can
thiệp vào hoạt động của Kiểm sát viên. Pháp luật TTHS quy định cơ chế kiểm soát
lẫn nhau giữa Cơ quan điều tra và VKS (Nguyên tắc kiểm tra, giám sát trong tố tụng
hình sự). Kiểm sát viên đại diện cho VKS kiểm tra, giám sát kết quả hoạt động tiếp
nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra của Điều tra viên đƣợc
phân công giải quyết vụ án hình sự; đồng thời có trách nhiệm thông báo các kết quả
giải quyết vụ án cho Điều tra viên. Cơ chế kiểm soát lẫn nhau giúp loại bỏ các hành
vi vi phạm pháp luật, tăng hiệu quả hoạt động của các bên khi tham gia giải quyết
vụ án hình sự. Bên cạnh đó, VKS và các cơ quan điều tra này thuộc hệ thống cơ
quan nhà nƣớc khác nhau, có sự độc lập nhất định và không có sự ràng buộc với
nhau trong quan hệ hành chính. Pháp luật TTHS cũng không có những quy định và
chế tài về chế độ trách nhiệm của từng cơ quan, của những ngƣời tiến hành tố tụng,

chế ƣớc lẫn nhau. Là những chủ thể tiến hành tố tụng, Kiểm sát viên và Thẩm phán
có sự tác động qua lại nhằm kiểm soát việc tuân thủ pháp luật trong quá trình giải
quyết vụ án hình sự. Trong giai đoạn xét xử, Thẩm phán là ngƣời kiểm soát toàn bộ
quá trình xét xử. Thẩm phán là chủ thể đại diện cho Tòa án có quyền xem xét, kết
luận về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Kiểm sát viên trong quá

16


trình điều tra, truy tố, xét xử; xem xét và kết luận về tính hợp pháp của chứng cứ, tài
liệu do Kiểm sát viên thu thập. Trong trƣờng hợp xét thấy cần thiết, Thẩm phán có
quyền trả hồ sơ yêu cầu VKS điều tra bổ sung, yêu cầu VKS bổ sung, hoàn thiện
chứng cứ. Tại phiên tòa, Kiểm sát viên có trách nhiệm chứng minh tính có căn cứ
của nội dung truy tố bằng việc đƣa ra những căn cứ pháp lý, các chứng cứ chứng
minh, lập luận để buộc tội bị cáo và bác bỏ các quan điểm, chứng cứ mà bị cáo,
ngƣời bào chữa của bị cáo đƣa ra. Tuy nhiên, Kiểm sát viên chỉ đƣa ra ý kiến, đề
xuất quan điểm giải quyết đối với vụ án còn vai trò quyết định trong việc đƣa ra bản
án lại thuộc về thẩm quyền của Thẩm phán. Thẩm phán chủ tọa phiên tòa có quyền
yêu cầu Kiểm sát viên trình bày các vấn đề có liên quan đến vụ án tại phiên tòa.
Kiểm sát viên tại phiên tòa ngoài thực hành quyền công tố còn tiến hành kiểm sát
việc tuân thủ pháp luật của Hội đồng xét xử tại phiên tòa. Kiểm sát viên kiểm sát
tính hợp pháp và có căn cứ của bản án đã tuyên. Nếu có vi phạm pháp luật, Kiểm
sát viên có quyền yêu cầu tòa án khắc phục những vi phạm đó hoặc báo cáo Viện
trƣởng để tiến hành kháng nghị theo trình tự phúc thẩm.
Thứ ba, mối quan hệ giữa Kiểm sát viên với những người tham gia tố tụng.
Những ngƣời tham gia TTHS bao gồm ngƣời tố giác, báo tin về tội phạm,
kiến nghị khởi tố; ngƣời bị tố giác, bị kiến nghị khởi tố; ngƣời bị giữ trong trƣờng
hợp khẩn cấp; ngƣời bị bắt; ngƣời bị tạm giữ; bị can; bị cáo; ngƣời bị hại; nguyên
đơn dân sự; bị đơn dân sự; ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; ngƣời
làm chứng; ngƣời bào chữa; ngƣời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đƣơng sự,

tụng, trong đó có Kiểm sát viên tôn trọng, bảo đảm quyền con ngƣời; tuyệt đối không
đƣợc đối xử với họ nhƣ ngƣời phạm tội. Bên cạnh đó, Kiểm sát viên không chỉ tiến
hành buộc tội bị cáo mà còn có trách nhiệm thu thập các chứng cứ, tài liệu để gỡ tội
cho bị cáo. Ngoài các tình tiết chứng minh tội phạm, Kiểm sát viên còn đƣa ra các
tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, miễn trách nhiệm hình sự... Bên cạnh hoạt
động thực hành quyền công tố, Kiểm sát viên còn kiểm sát hoạt động của các cơ quan
tiến hành tố tụng, cơ quan đƣợc trao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động tố tụng và
các chủ thể có thẩm quyền của các cơ quan đó nhằm bảo đảm toàn bộ quá trình
chứng minh tội phạm phải đƣợc tiến hành một cách chặt chẽ theo đúng trình tự, thủ
tục do luật định; đảm bảo ngƣời bị buộc tội đƣợc thực hiện quyền bào chữa của mình
một cách đầy đủ và thuận lợi. Nhƣ vậy, Kiểm sát viên không chỉ là đại diện cho VKS

18


tiến hành buộc tội mà còn là ngƣời bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo
trong quá trình giải quyết vụ án hình sự.
Ngƣời tố giác, báo tin về tội phạm, kiến nghị khởi tố; ngƣời bị hại; nguyên
đơn dân sự; bị đơn dân sự; ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; ngƣời
làm chứng; ngƣời bào chữa; ngƣời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đƣơng sự,
của ngƣời bị tố giác, bị kiến nghị khởi tố; ngƣời phiên dịch, ngƣời dịch thuật; ngƣời
giám định; ngƣời định giá tài sản, ngƣời đại diện theo pháp luật của pháp nhân
phạm tội là những cá nhân góp phần vào quá trình làm sáng tỏ sự thật khách quan
của vụ án. Kiểm sát viên có thể căn cứ vào lời khai của ngƣời tố giác, báo tin về tội
phạm, kiến nghị khởi tố; ngƣời bị hại; nguyên đơn dân sự; bị đơn dân sự; ngƣời có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; ngƣời làm chứng; kết quả giám định của
giám định viên, biên bản định giá của ngƣời định giá tài sản và sự trợ giúp của
phiên dịch viên, dịch thuật viên trong trƣờng hợp ngƣời tham gia tố tụng không biết
Tiếng Việt để tìm ra các chứng cứ chứng minh tội phạm. Đây là những chủ thể trợ
giúp Kiểm sát viên thực hiện hoạt động của mình và phải có mặt khi đƣợc triệu tập.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status