I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT
H TH PHNG BC
GIáM SáT CủA CƠ QUAN DÂN Cử
ĐốI VớI HOạT ĐộNG Tố TụNG HìNH Sự
(Trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh Phú Thọ)
LUN VN THC S LUT HC
H NI - 2017
I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT
H TH PHNG BC
GIáM SáT CủA CƠ QUAN DÂN Cử
ĐốI VớI HOạT ĐộNG Tố TụNG HìNH Sự
(Trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh Phú Thọ)
Chuyờn ngnh: Lut hỡnh s v t tng hỡnh s
Mó s: 60 38 01 04
LUN VN THC S LUT HC
Ngi hng dn khoa hc: PGS.TS NGUYN NGC CH
H NI - 2017
Khái niệm , đặc điểm giám sát của cơ quan dân cƣ̉ đố i với
hoạt động tố tụng hình sự.................................................................. 6
1.1.1. Khái niệm giám sát của cơ quan dân cử đối với hoạt động tố
tụng hình sự .......................................................................................... 6
1.1.2. Đặc điểm giám sát của cơ quan dân cử đối với hoạt động tố tụng.......... 14
1.2.
Vai trò, ý nghĩa của giám sát của cơ quan dân cử đối với hoạt
đô ̣ng tố tu ̣ng hin
17
̣
̀ h sƣ.........................................................................
1.2.1. Vai trò của giám sát của cơ quan dân cử đối với hoạt động tố
tụng hình sự ........................................................................................ 17
1.2.2. Ý nghĩa của giám sát của cơ quan dân cử đố i với hoa ̣t đô ̣ng tố
tụng hình sự ........................................................................................ 21
1.3.
Giám sát của cơ quan dân cử đối với hoạt động tố tụ ng hin
̀ h
sƣ̣ ở một số nƣớc trên thế giới ......................................................... 24
Chƣơng 2: PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT CỦ A CƠ
QUAN DÂN CƢ̉ ĐỐI VỚI HOA ̣T ĐỘNG TỐ TỤNG HÌNH .......
SƢ̣28
2.1.
Pháp luật Việt Nam từ 1945 đến trƣớc 2003 về hoạt động
̣
3.1.2. Hoạt động giám sát của cơ quan dân cử đối trong tố tụng hình.........
sự 57
3.2.
Yêu cầ u về năng cƣờng giám sát của cơ quan dân cƣ̉ đố i với
hoạt động tố tụng hình sự................................................................ 71
3.3.
Các giải pháp nâng cao hiệu quả giám sát của cơ
quan dân
cử đối với hoạt động tố tụng hình sự .............................................. 74
3.3.1. Giải pháp về hoàn thiện pháp luật ...................................................... 74
3.3.2. Giải pháp về tổ chức thực hiê ̣n........................................................... 79
KẾT LUẬN .................................................................................................... 91
DANH MỤC TÀ I LIỆU THAM KHẢO ..................................................... 93
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BLHS:
Bộ luật hình sự
BLTTHS:
Bộ luật tố tụng hình sự
Viện kiểm sát nhân dân tối cao
XHCN:
Xã hội chủ nghĩa
XXST:
Xét xử sơ thẩm
DANH MỤC BẢNG
Số hiệu
Tên bảng
Trang
Bảng 3.1. Số liệu thụ lý án hình sự trên địa bàn tỉnh Phú Thọ từ
năm 2011 đến 2015
58
Bảng 3.2. Kết quả điều tra, truy tố, xét xử các vụ án hình sự trên
địa bàn tỉnh Phú Thọ
59
quyền, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, phát hiện vi phạm, kịp thời
yêu cầu các cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan khắc phục. Thông qua giám
sát của cơ quan dân cử đã bảo đảm quyề n con người , quyề n công dân ; bảo
đảm được lợi ích của nhà nước và trật tự pháp luật, hạn chế oan sai và bỏ lọt
tô ̣i pha ̣m trong tố tu ̣ng hin
̀ h sự.
Tuy nhiên, trên thực tế hoạt động giám sát của cơ quan dân cử đối với
hoạt động tố tụ ng hin
̀ h sự cho thấ y còn nhiề u bấ t câ ̣p , hạn chế . Chấ t lươ ̣ng
giám sát còn chưa tương xứng với yêu cầu . Các quy định về giám sát của cơ
quan dân cử trong hoa ̣t đô ̣ng tố tu ̣ng còn chưa
cụ thể, chưa rõ ràng , khó áp
dụng; Hoạt động giám sát của cơ cơ quan dân cử chưa được thường xuyên,
chưa bán sát vào những vấn đề phức tạp, nổi cộm trong hoạt động tố tụng ở
từng đại phương và trên toàn quốc… Năng lực của đại biểu dân cử chưa đáp
ứng được yêu cầu thực hiện chức năng giám sát, trong đó có giám sát hoạt
động tố tụng hình sự - lĩnh vực đòi hỏi sự am hiểu pháp luật sâu, rộng, đòi hỏi
có chuyên môn cao và bản lĩnh chính trị vững vàng.Những hạn chế này của
hoạt động giám sát, của cơ quan dân cử dẫn đến để lọt tội phạm, làm oan
người vô tội; dẫn đến những vi phạm của các cơ quan tiến hành tố tụng, người
có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án hình sự
không được phát hiện, uốn nắn kịp thời. Do đó, những sai lầm,thiếu xót
không bị xử lý làm cho chất lượng tố tụng chưa đạt được hiệu quả như mong
muốn, quyền con người, quyền công dân còn bị xâm phạm, lợi ích nhà nước
và trật tự pháp luật chưa được bảo đảm, công lý chưa được tôn trọng.
Thực tế này đòi hỏi, cần phải được khắc phục bằng các giải pháp có
tính khả thi phù hợp các điều kiện kinh tế xã hội của đất nước. Phú Thọ là
một tỉnh trung du miền núi có những đặc điểm riêng về điều kiện tự nhiên,
hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đều được giám sát trong
quá trình giải quyết vụ án.
Công trình đề cập khá đầy đủ về cơ chế giám sát trong TTHS của
PGS.TS. Nguyễn Ngo ̣c Chí được đăng ở Ta ̣p chí Khoa ho ̣c Đa ̣i ho ̣c Quố c gia
3
Hà Nội “ Cơ chế giám sát trong hoạt động tố tụng hình sự Viê ̣t Nam
– thực
trạng và giải pháp” [5].
GS.TSKH Lê Văn Cảm , PGS.TS Nguyễn Ngo ̣c Chí trong sách “Cải
cách tư pháp ở Việt Nam trong giai đoạn xây dựng nhà nước pháp quyền ” [4]
đã đề cập đến những vấn đề về xây dựng cơ chế giám sát tư pháp nói chung
và trong lĩnh vực tố tung hình sự nói riêng trước những yêu cầu xây dựng nhà
nước pháp quyền XHCN Việt Nam.
Một số công trình khác đề cập đến chức năng giám sát của Quốc hội và
Hội đồng nhân dân, trong đó có giám sát đối với hoạt động TTHS của các tác
giả Phạm Văn Hùng [25]; Bùi Xuân Đức [21]; Nguyễn Đăng Dung [8]; Trần
Ngọc Đường [23], Nguyễn Thái Phúc [31]…
Tuy nhiên chưa có công triǹ h nghiên cứu nào nghiên cứu trực tiế p về
vấ n đề giám sát của cơ quan dân cử với hoạt động tố tụng hình sự, nhất là trên
địa bàn tỉnh Phú Thọ.
3. Mục đích, nhiêm
̣ vu ̣, phạm vi và đối tƣợng nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài góp phần làm rõ những vấn đề lý luận và
thực tiễn về giám sát của cơ quan dân cử đố i với hoa ̣t đô ̣ng tố tu ̣ng hình sự và
thực tiễn áp dung
̣ trên điạ bàn tỉnh Phú Tho, ̣trên cơ sở đó đề xuất giải phápnâng
khảo dùng cho các học viên cao học , các nhà nghiên cứu cũng như cán bộ
thực tiễn.
6. Kế t cấ u của đề tài
Ngoài phần mở đầu , kế t luâ ̣n và danh mu ̣c tài liê ̣u tham khảo , luâ ̣n văn
đươ ̣c kế t cấ u thành 03 chương gồ m:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về giám sát của cơ quan dân cử đối
với hoạt động tố tụng hình sự.
Chương 2: Pháp luật về hoạt động giám sát của cơ quan dân cử đối với
hoạt động tố tụng hình sự.
Chương 3: Thực trạng giám sát và giải pháp nâng cao chất lượng giám
sát của cơ quan dân cử đối với hoạt động tố tụng hình sự tại tỉnh Phú Thọ.
5
Chƣơng 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIÁM SÁ T CỦ A CƠ QUAN DÂN CƢ̉
ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG TỐ TỤNG HÌNH SỰ
1.1. Khái niệm, đặc điểm giám sát của cơ quan dân cử đối với hoạt
đô ̣ng tố tu ̣ng hin
̀ h sƣ ̣
1.1.1. Khái niệm giám sát của cơ quan dân cử đối với hoạt động tố
tụng hình sự
Trong điều kiện đổi mới, tiếp tục xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay, giám sát việc thực hiện quyền lực
nhà nước là yếu tố quan trọng bảo đảm bản chất của nhà nước - một nhà nước
pháp quyền của dân, do dân, vì dân, tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân
hướng tới mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Giám sát và hoạt động giám sát là những phạm trù khoa học, khi đưa ra
khái niệm còn có những cách hiểu khác nhau dựa trên cách tiếp cận và quan
vụ Quốc hội.
Như vậy, tuy cách diễn đạt và biểu hiện ý nghĩa của từ "giám sát"
có khác nhau, nhưng các quan niệm trên đều đề cập đến nội dung cơ bản
của giám sát là việc theo dõi, xem xét, kiểm tra một chủ thể nào đó về
một việc làm đã thực hiện đúng hoặc chưa đúng quy định đã được đặt ra
để từ đó có biện pháp điều chỉnh hoặc xử lý đối với việc làm sai, hướng
tới mục đích, hiệu quả đã xác định trước, bảo đảm cho các quyết định
thực hiện đúng và đầy đủ.
Từ quan niệm chung đó, có thể thấy giám sát đối với hoạt động thực
hiện quyền lực nhà nước không chỉ là giám sát của các cơ quan nhà nước mà
là giám sát của toàn bộ hệ thống chính trị, và, chỉ khi nào giám sát được thực
hiện trong mối liên hệ mật thiết, hữu cơ với các bộ phận của toàn bộ hệ thống
chính trị thì hoạt động giám sát đó mới có hiệu quả. Đồng thời, cũng chỉ ra mối
7
quan hệ giữa giám sát của hệ thống cơ quan nhà nước và giám sát của xã hội đối
với việc thực hiện quyền lực nhà nước; đó là mối liên hệ biện chứng, thống nhất
trong cơ chế giám sát thực hiện quyền lực nhà nước mà mỗi yếu tố, mỗi mắt
xích trong cơ chế đó vận hành gắn kết với nhau nhằm mục đích nâng cao hiệu
lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước.
Việc giám sát thực hiện quyền lực nhà nước có đối tượng giám sát là tất
cả các lĩnh vực hoạt động thực hiện quyền lực nhà nước và căn cứ vào phạm
vi hoạt động thực hiện quyền lực nhà nước có thể phân chia thành những loại
giám sát sau: i) Giám sát đối với hoạt động của các cơ quan dân cử (Quốc hội,
Hội đồng nhân dân); ii) Giám sát đối với hoạt động của cơ quan hành chính
nhà nước; iii) Giám sát đối với hoạt động của các cơ quan tư pháp.
Giám sát luôn gắn với một chủ thể nhất định, tức là phải trả lời được
câu hỏi ai (người hoặc tổ chức nào) có quyền thực hiện việc theo dõi, xem
vụ của chủ thể giám sát và đối tượng chịu giám sát.
Giám sát phải được tiến hành trên những căn cứ do pháp luật quy định.
Điều này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng bởi vì: nếu như thiếu những quy định
này thì chủ thể giám sát không có cơ sở để thực hiện quyền giám sát và tiêu
chí để đưa ra những nhận định về hoạt động của đối tượng chịu giám sát.
Giám sát là hoạt động có tính mục đích. Trước hết, mục đích của giám
sát là đưa ra được những nhận định chính xác của chủ thể giám sát đối với
hoạt động của đối tượng chịu giám sát, từ đó có các biện pháp xử lý đối với
những việc làm sai trái nhằm bảo đảm cho những quy định của pháp luật
được thực hiện đúng và có hiệu quả. Như vậy, mục đích chung của giám sát
nhà nước cũng như giám sát xã hội là bảo đảm cho sự hoạt động đúng đắn,
minh bạch, liên tục của các cơ quan tổ chức, cá nhân có chức vụ quyền hạn
trong BMNN, trên cơ sở tuân thủ thường xuyên, nghiêm chỉnh pháp luật về
nghĩa vụ, chức năng và thẩm quyền của họ.
Như vâ ̣y có thể thấ y giám sát của cơ quan dân cử đố i với hoa ̣t đô ̣ng tố
9
tụng hình sự hoàn toàn khác với hoạt động thanh tra, khác với hoạt động kiểm
sát hoạt động tư pháp của Viện kiểm sát , hoạt động giám sát của c ác cơ quan
tổ chức xã hô ̣i như Mă ̣t trâ ̣n tổ quố c và các thành viên của mă ̣t trâ ̣n.
Giám sát của các cơ quan dân cử đối với hoạt động tố tu ̣ng hiǹ h sự
khác với thanh tra Thanh tra, do "thanh tra là kiểm tra , xem xét tại chỗ việc
làm của địa phương, cơ quan xí nghiệp" [55, tr.984]. Trong khoa học pháp lý,
thanh tra là khái niệm chủ yếu được dùng để chỉ hoạt động của các cơ quan, tổ
chức hay cá nhân có thẩm quyền và thanh tra được hiểu là:
Thanh tra nhà nước là hoạt động xem xét, đánh giá, xử lý theo
trình tự, thủ tục do pháp luật quy định của cơ quan nhà nước có thẩm
quyền đối với việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, quyền
biểu hiện khách quan khá giống nhau như xem xét, đánh giá, tuy nhiên, giữa
chúng có sự khác nhau và phân biệt với nhau bởi đặc thù trong quan hệ pháp
lý, đối tượng chủ thể, phạm vi phương pháp thực hiện và biện pháp xử lý.
Tóm lại, thuật ngữ "giám sát" nếu hiểu theo nghĩa chung thì phạm vi áp
dụng của nó rất rộng, muốn có một khái niệm cụ thể thì hoạt động giám sát
bao giờ cũng gắn với một chủ thể xác định chẳng hạn như giám sát của Quốc
hội, giám sát của HĐND, giám sát của nhân dân.
Hê ̣ thố ng cơ quan nhà nước ở Viê ̣t Nam đươ ̣c tổ chức và hoa ̣t đô ̣ng theo
các nguyên tắc n hấ t đinh
̣ đươ ̣c quy đinh
̣ trong Hiế n pháp . Theo đó bao gồ m
các cơ quan quyền lực nhà nước , cơ quan hành chính nhà nước và các cơ
quan khác . Nguyên tắ c chung trong tổ chức và hoa ̣t đô ̣ng của bô ̣ máy nhà
nước của Viê ̣t Nam là nguyên tắ c tâ ̣p trung dân chủ, tấ t cả quyề n lực nhà nước
thuô ̣c về nhân dân . Do đó , về cơ bản các cơ quan quyề n lực nhà nước đề u do
nhân dân bầ u ra theo nguyên tắ c bầ u cử tiế n bô ̣ , hiê ̣n đa ̣i và dân chủ . Trong
đó, Quố c hô ̣i và hô ̣i đ ồng nhân dân chính là các cơ quan dân cử duy nhất
đươ ̣c nhân dân trực tiế p bằ ng là phiế u của miǹ h lựa cho ̣n , đánh giá để bầ u ra .
Nhằ m thực hiê ̣n quyề n lực của nhân dân thông qua các cơ quan dân cử của
11
mình. Chính vì vậy , hê ̣ thố ng cơ quan dân cử ở Viê ̣t Nam gồ m Quố c hô ̣i và
Hô ̣i đồ ng nhân dân các cấ p.
Như trên đã phân tić h TTHS đó là quá trình xử lý một vụ án hình sự.
Quá trình đó có sự tham gia của các cơ quan, tổ chức, cá nhân với những vị
trí, vai trò, chức năng, quyền và nghĩa vụ cụ thể , còn được gọi là địa vị pháp
lý tố tụng ; với những mối quan hệ , tác động qua lại giữa các chủ thể nhằm
thực hiện chức năng , quyền và nghĩa vụ tố tụng , hướng đến mục tiêu của
các quyền con người , hạ thấp danh dự , phẩ m giá con người . Lịch sử của loài
người đã chứng minh điề u này.
Tính độc lập của Tư pháp cho phép các quan tòa đưa ra
những phán quyết đúng đắn, không những chống lại số đông của đa
số nhân dân vì không kịp nhận ra, mà còn có thể chống lại quyền
lợi của các cành quyền lực nhà nước khác. Hệ thống tư pháp cần
phải đưa ra những đối trọng đối với những hành động tùy tiện của
Nhà nước [10, tr.63].
Chính vì lẽ đó , viê ̣c đô ̣c lâ ̣p tư pháp đươ ̣c khẳ ng đinh
̣ và bảo vê ̣ trong
thế giới hiê ̣n đa ̣i. Tuy nhiên, nguyên tắ c đô ̣c lâ ̣p tư pháp có làm ảnh hưởng tới
hoạt động giám s át nói chung tới hoạt động tố tụng hoặc hoạt động giám sát
của cơ quan dân cử đối với tố tụng hình sự hay không
? Mô ̣t khi đã đô ̣c lâ ̣p
trong tư pháp thì viê ̣c giám sát – tức mô ̣t thiế t chế bên ngoài đươ ̣c quyề n kiể m
tra, giám sát , soi xét hoa ̣t đô ̣ng của các cơ quan thực hiê ̣n viê ̣c điề u tra , truy
tố , xét xử đối với tội phạm có làm mất đi tính độc lập này hay không . Trả lời
đươ ̣c điề u này cầ n phải nghiên cứu nguyên tắ c tổ chức và hoa ̣t đô ̣ng củ
a bô ̣
máy nhà nước của Việt Nam . Trong Hiế n pháp cũng như các văn bản khác
của Nhà nước đều thừa nhận nguyên tắc tập trung dân chủ và tất cả quyền lực
nhà nước thuộc về nhân dân . Các cơ quan như Quốc hội , Hô ̣i đồ ng nhân dân
là các cơ quan dân cử , do nhân dân trực tiế p bầ u ra và thực hiê ̣n quyề n lực
nhà nước đối với mọi hoạt động xã hội . Ở Việt Nam hiện nay chưa thừa nhận
̣ của BLTTHS , Luâ ̣t tổ chức Viê ̣n kiể m sát ,
Luâ ̣t tổ chức Tòa án nhân dân , Luâ ̣t tổ chức điề u tra hình s ự. Đây chính là cơ
sở đảm bảo cho quyền lực nhà nước được kiểm soát một cách chặt chẽ, đồng
thời bổ sung cho giám sát của Quốc hội, kiểm tra của Đảng đối với các tổ
chức đảng trong các cơ quan tiế n hành tố tu ̣ng. “Kiểm tra, giám sát, kiểm soát
việc thực hiện quyền lực nhà nước là yêu cầu tất yếu khách quan nhằm bảo
đảm cho quyền lực được vận hành đúng đắn và hiệu quả” [2, tr.38]. Với mục
đích trên, giám sát hoạt động tố tu ̣ng hình sự góp phần thiết lập trật tự trong tố
tụng hình sự như: khởi tố , điề u tra, truy tố , xét xử, bảo vệ các quyền tự do, lợi
ích hợp pháp của con người, công dân, lợi ích nhà nước và lợi ích của toàn xã
hô ̣i. Đồng thời, giám sát hoạt động tố tu ̣ng hiǹ h sự cũng nhằm chống lại sự
14
lộng hành, lạm dụng quyền lực tố tụng hình sự , phát hiện và ngăn chặn các
hành vi tham nhũng, lãng phí, vi phạm pháp luật của các cán bộ có chức, có
quyền. Giám sát tố tu ̣ng hiǹ h sự nói chung và giám sát thông qua hoạt động
xét xử của Tòa án nói riêng, với ưu thế của các phán quyết của tòa án được
coi là hoạt động giám sát hữu hiệu nhất đối với hoạt động tố tu ̣ng hiǹ h sự.
Khép kín, thiếu kiểm tra, kiểm soát trong tố tụng hình sự
càng dẫn đến những nguy cơ nghiêm trọng hơn bởi lẽ đây là lĩnh
vực liên quan trực tiếp đến công cuộc đấu tranh phòng, chống vi
phạm, tội phạm, đến cuộc sống bình yên của nhân dân, trật tự, kỷ
cương của xã hội; đồng thời, toàn bộ quá trình đó đụng chạm đến
những quyền thiêng liêng nhất, đến sinh mệnh, quyền tự do của
con người [2, tr.38].
- Về chủ thể giám sát: Giám sát hoạt động tố tu ̣ng hiǹ h sự của các cơ
quan dân cử như tên go ̣i của nó được thực hiện bởi chủ thể giám sát là Quố c
hô ̣i, Hội đồng nhân dân. Đây là các cơ quan dân cử , do nhân dân trực tiế p bầ u
vụ, chức năng giám sát đối với cùng một đối tượng bị giám sát, phát huy được
hiệu quả giám sát nói chung.
- Về đối tượng giám sát: Đối tượng giám sát là hoạt động tố tu ̣ng hiǹ h
sự của các cơ quan tiế n hành tố tu ̣ng người tiế n hành tố tụng. Đây là một hoạt
động hết sức đa dạng, phức tạp, bởi lẽ, hoạt động tố tu ̣ng hiǹ h sự là hoạt động
rấ t phức ta ̣p , có nhiều thành phần tham gia , ảnh hưởng tới quyền con người ,
quyề n công dân và các quyề n khác , tác động tớ i quyề n lơ ̣i ić h hơ ̣p pháp của
nhà nước của xã hội . Đây cũng là hoạt động mang tính quyền lực nhà nước
(quyền lực công) có liên quan trực tiếp và gắn bó với đời sống hàng ngày của
nhân dân nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân và do đó
phải chịu sự giám sát của nhân dân.
- Về hình thức và phương pháp giám sát: Với mỗi một chủ thể giám sát
có các hình thức giám sát và phương pháp giám sát đặc thù. Do đặc điểm về
chủ thể giám sát và đối tượng giám sát nêu trên mà hình thức và phương pháp
giám sát hoạt động tố tu ̣ng hình sự cũng phải linh hoạt, trong đó đă ̣c trưng của
hoạt động giám sát của cơ quan dân cử đối với tố tụng hình sự đó là hoạt động
giám sát mang tính quyền lực nhà nước. Sử du ̣ng các công cu ̣ và phương pháp
mang tính mê ̣nh lê ̣nh hành chính và cưỡng chế cao của cơ quan quyề n lực nhà
nước ở trung ước và điạ phương.
Giám sát mang tính quyền lực nhà nước là hình thức giám sát do cơ
16
quan nhà nước có thẩm quyền tiến hành đối với hoạt động tố tu ̣ng hiǹ h sự
theo nguyên tắc phân công quyền lực nhà nước do Hiến pháp và pháp luật
quy định. Đó là hoạt động giám sát của Quố c hô ̣i và Hội đồng nhân dân với
tính cách là hoạt động giám sát của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương
và địa phương đối với hoạt động hành tố tu ̣ng hiǹ h sự đươ ̣c thực hiê ̣n trên điạ
bàn cả nước.
Hiến pháp 1946 đến Hiến pháp 2013 khẳng định: Tất cả quyền lực nhà nước
thuộc về nhân dân. Nhân dân thực hiện quyền lực của mình thông qua cơ
quan đại diện từ Quốc hội đến Hội đồng nhân dân các cấp. Các cơ quan dân
cử ở Viê ̣t Nam gồ m có Quố c hô ̣i và Hô ̣i đồ ng nhân dân các cấ p
là cơ quan
đại diện, cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương cũng như địa phương,
thay mặt nhân dân thực thi quyền lực nhà nước bằng cách căn cứ vào Hiến
pháp, Luật, tình hình thực tế địa phương mà quyết định các biện pháp tổ
chức thực hiện Hiến pháp, Luật. Nghị quyết của Quố c hô ̣i , Hội đồng nhân
dân vừa mang tính đại diện, vừa mang tính quyền lực nhà nước, có giá trị
bắt buộc chung cho mọi cơ quan, tổ chức và công dân ở cả nước. Như vậy,
giám sát việc tuân theo Hiến pháp, pháp luật của các cơ quan dân cử đối với
hoạt động tố tụng hình sự là một trong những biện pháp cần thiết và không
thể thiếu được nó, đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm quyền lực nhà
nước thuộc về nhân dân.
Hễ ở đâu và chừng nào, mọi hoạt động của các cơ quan nhà nước, các
cán bộ nhân viên nhà nước trong đó có các cơ quan tiế n hành tố tu ̣ng hình sự
và người tiến hành tố tụng hình sự
đặt dưới sự giám sát của Quốc hội, Hội
đồng nhân dân thì khi ấy quyền lực nhà nước mới thực sự thuộc về nhân
dân. Hễ ở đâu chừng nào, quyền giám sát của Quốc hội, Hội đồng nhân dân
bị xem nhẹ hoặc bị xâm hại thì khi ấy quyền lực của nhân dân không được
đảm bảo và có thể trở thành hình thức. Chính vì vậy, bắt đầu công cuộc đổi
mới trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng đã nhận
định về các cơ quan dân cử và xác định yêu cầu đối với các cơ quan dân cử
là “Tăng cường hiệu lực quản lý của Nhà nước, trước hết nêu cao vị trí của