Hình phạt chính không tước tự do theo luật hình sự việt nam (trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh phú thọ) - Pdf 47

I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT

NGUYN èNH DUYT

Hình phạt chính không t-ớc tự do
theo luật hình sự Việt Nam
(Trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh Phú Thọ)

LUN VN THC S LUT HC

H NI - 2017


I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT

NGUYN èNH DUYT

Hình phạt chính không t-ớc tự do
theo luật hình sự Việt Nam
(Trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh Phú Thọ)

Chuyờn ngnh: Lut hỡnh s v t tng hỡnh s
Mó s: 60 38 01 04

LUN VN THC S LUT HC

Ngi hng dn khoa hc: PGS.TS TRNH QUC TON

H NI - 2017

̀ h pha ̣t chính không

1.1.1.

tƣớc tƣ ̣ do ..................................................................................................... 6
Khái niệm và đặc điểm của các hình pha ̣t chính không tƣớc tƣ̣ do .............. 6

1.1.2.

Ý nghĩa của các hình phạt chính không tƣớc tự do trong luật hình sự
Việt Nam ..................................................................................................... 12

1.2.

Khái quát lịch sử quy định hình phạt chính không tƣớc tự do
trong Luâ ̣t hin
̀ h sƣ ̣ Viêṭ Nam.................................................................... 17

1.2.1.

Giai đoa ̣n tƣ̀ năm1945 đến trƣớc khi ban hành Bộ luật hình sự
năm 1985 ........ 17

1.2.2.

Giai đoa ̣n tƣ̀ sau khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985 đến trƣớc khi
ban hành Bộ luật hình sự năm 1999 ............................................................ 22

1.3.


̀ h pha ̣t

chính không tƣớc tƣ ̣ do ............................................................................. 31
2.1.1.

Hình phạt cảnh cáo ...................................................................................... 31

2.1.2.

Hình phạt tiền .............................................................................................. 38


2.1.3.

Hình phạt cải tạo không giam giữ ............................................................... 42

2.1.4.

Hình phạt trục xuất ...................................................................................... 47

2.2.

Thƣ ̣c tiễn áp du ̣ng các hin
̀ h pha ̣t chính không tƣớc tƣ ̣ do trên điạ
bàn tỉnh Phú Thọ trong giai đoạn từ năm 2011 đến năm 2015 ............. 50

2.2.1.

Phân tích, đánh giá thực trạng áp dụng các hình phạt chính không tƣớc tự
do đối với ngƣời phạm tội ở tỉnh Phú Thọ trong giai đoạn 2011-2015 .......... 50


3.2.2.

Đề xuất kiến nghị tiếp tục hoàn thiện các quy định về hình phạt chính
không tƣớc tự do trong Bộ luật hình sự năm 2015 ..................................... 87

3.3.

Các giải pháp nâng cao hiêụ quả áp du ̣ng các hin
̀ h pha ̣t không

3.3.1.

tƣớc tƣ ̣ do ................................................................................................... 94
Nâng cao chất lƣợng hoạt động của Thẩ m phán , hội thẩm nhân dân và
Kiểm sát viên ta ̣i các phiên tòa hin
̀ h sƣ̣....................................................... 94

3.3.2.

Nâng cao trách nhiê ̣m của chin
án
97
́ h quyề n cơ sở và cơ quan thi hành .............

3.3.3.

Tăng cƣờng hơ ̣p tác quố c tế ........................................................................ 99

KẾT LUẬN ............................................................................................................ 101

Trách nhiệm hình sự

VKS:

Viện kiểm sát

VKSNDTC: Viện kiểm sát nhân dân tối cao
XHCN:

Xã hội chủ nghĩa

XXST:

Xét xử sơ thẩm


DANH MỤC CÁC BẢNG

Số hiệu

Tên bảng

Trang

Bảng 2.1. Thống kê các tội phạm trong Bộ luật hình sự có quy định
hình phạt cảnh cáo

35

Bảng 2.2. Số liê ̣u hiǹ h pha ̣t không chính tƣớc tƣ̣ do áp du ̣ng trong các



MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Hình phạ t là mô ̣t chế đinh
̣ quan tro ̣ng của luâ ̣t hin
̀ h sƣ̣ . Hình phạt là hình
thức thực hiện trách nhiệm hình sự mà ngƣời phạm tội phải gánh chịu đối với
nhƣ̃ng hành vi pha ̣m tô ̣i gây ra và thể hiê ̣n sƣ̣ lên án và trƣ̀ng tri ̣của Nhà nƣớ

c đố i

với họ. Viê ̣c quy đinh
̣ hành vi nguy hiểm nào cho xã hội là tội phạm chỉ có ý nghĩa
khi đi kèm nó là các hiǹ h pha ̣t nhằ m mu ̣c đić h giáo du ̣c , cải tạo, ngƣời pha ̣m tô ̣i trở
thành ngƣời có ích cho xã hội , có ý thức tuân th ủ pháp luật, ngăn ngƣ̀a ho ̣ pha ̣m tô ̣i
mới. Bên ca ̣nh đó , hình phạt không chỉ có mục đích giáo dục , cải tạo ngƣời phạm
tô ̣i còn nhằ m giáo du ̣c ngƣời khác tôn tro ̣ng pháp luâ ̣t

, đấ u tranh chố ng và phòng

ngƣ̀a tô ̣i pha ̣m.
Hê ̣ thố n g hiǹ h pha ̣t trong Bô ̣ luâ ̣t hin
̀ h sƣ̣

(BLHS) năm 1999 đƣơ ̣c chia

thành các hình phạt chính và hình phạt bổ sung , bao gồ m 7 hình phạt chính khác
nhau (cảnh cáo , phạt tiền , cải tạo không giam giữ , trục xuất , tù có thời hạn , tù
chung thân , tƣ̉ hiǹ h ) và 7 hình phạt bổ sung (cấ m đảm nhiê ̣m chƣ́c vu ̣ , cấ m hành

4/2009; Luận án Tiến sỹ "Các hình phạt bổ sung trong Luật hình sự Việt Nam" của

3


Tiến sỹ Trịnh Quốc Toản, Khoa Luật - ĐHQG Hà Nội, Sách chuyên khảo "Nghiên
cứu về hình phạt trong Luật hình sự Việt Nam dưới góc độ bảo về quyền con người"
của PGS.TS Trịnh Quốc Toản, Khoa Luật - ĐHQG Hà Nội (nhà Xuất bản chính trị
quốc gia năm 2015).
Ngoài ra còn có một số công trình nghiên cứu về các hình phạt cụ thể trong
nhóm các hình phạt không tƣớc tự do nhƣ : Tác giả Trần Lệ Trinh , Hình phạt tiền
trong luật hình sự Viê ̣t Nam và viê ̣c áp dụng hình phạt này ở nước ta hiê ̣n nay , Luâ ̣n
văn tha ̣c si ̃ luâ ̣t ho ̣c , Khoa Luâ ̣t – Đa ̣i ho ̣c Quố c gia Hà Nô ̣i , 2009; Lê Thanh Hùng ,
Hình phạt cải tạo không giam giữ trong luật hình sự Việt Nam và việc áp dụng tại
tỉnh Thanh Hóa , Luâ ̣n văn tha ̣c si ̃ luâ ̣t ho ̣c , Khoa Luâ ̣t – Đa ̣i ho ̣c Quố c gia Hà Nô ̣i ,
2014; Lê Thi Tru
̣ ́ c Quỳnh , Một số vấ n đề lý luận và thực tiễn về hình phạt trục xuấ t
trong luật hình sự Viê ̣t Nam , Luâ ̣n văn tha ̣c si ̃ luâ ̣t ho ̣c , Khoa Luâ ̣t – Đa ̣i ho ̣c Quố c
gia Hà Nô ̣i , 2010; Đinh Thi ̣Hoài Phƣơng , Một số vấ n đề lý luận và thực tiễn về
hình phạt cảnh c áo theo luật hình sự Việt Nam , Luâ ̣n văn tha ̣c si ̃ luâ ̣t , Khoa Luâ ̣t –
Đa ̣i ho ̣c Quố c gia Hà Nô ̣i, 2010.
Tấ t cả các công trình nghiên cƣ́u trên đây đã nghiên cƣ́u ở khía ca ̣nh nhấ t
đinh
̣ về các hiǹ h pha ̣t mang tiń h chấ t không tƣớc tƣ̣ do, cũng nhƣ một loại hình phạt
cụ thể trong nhóm các hình phạt không tƣớc tự do

. Chính vì vậy , các công trình

khoa học nói trên, đã gợi mở cho tác giả luận văn nhiều ý tƣởng khoa học, là những
tài liệu rất bổ ích và giá trị đƣợc sử dụng trong quá trình nghiên cứu đề tài . Do đó ,

Đề tài đƣợc nghiên cứu trên cơ sở phƣơng pháp luận của chủ nghĩa duy vật
biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về
cải cách tƣ pháp; những luận điểm khoa học trong các công trình nghiên cứu, sách
chuyên khảo và các bài viết đăng trên tạp chí của một số nhà khoa học luật hình sự.
Các phƣơng pháp nghiên cứu cụ thể đƣợc sử dụng trong Luận văn là các
phƣơng pháp: phân tích, tổng hợp,lịch sử, so sánh, thống kê.
5. Kế t cấ u của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kế t luâ ̣n và danh mu ̣c tài liê ̣u tham khảo , đề tài đƣợc kết
cấ u thành 03 chƣơng sau:
Chương 1: Một số vấn đề chung về các hình phạt chính không tƣớc tự do
trong luật hình sự
Chương 2: Các quy định về hình phạt chính không tƣớc tự do trong Bộ luật
hình sự năm 1999 và thực tiễn áp dụng
Chương 3: Hoàn thiện pháp luật và một số giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng
các quy định về hình phạt chính không tƣớc tự do trong Bộ luật hình sự hiện hành.

5


Chƣơng 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CÁC HÌNH PHA ̣T CHÍNH
KHÔNG TƢỚC TƢ̣ DO TRONG LUẬT HÌNH SƢ̣
1.1. Khái niệm , đă ̣c điể m và ý nghĩa của các hình phạt chính không
tước tư ̣ do
1.1.1. Khái niệm và đặc điểm của các hình phạt chính không tước tự do
Đấu tranh phòng ngừa, chống tội phạm để tiến tới ổn định trật tự xã hội, bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị
luôn là nhiệm vụ tất yếu khách quan của bất kì một nhà nƣớc nào trong bất kì một
xã hội nào. Một trong những công cụ hữu hiệu để Nhà nƣớc thực hiện nhiệm vụ tất
yếu khách quan đó chính là hình phạt. Hiệu quả của việc xử lý hành vi phạm tội

tội, lấy sự khắc nghiệt của tội phạm làm điều răn cho ngƣời phạm tội. Quan điểm
thứ hai coi hình phạt là công cụ pháp lý cần thiết để đấu tranh phòng, chống tội
phạm, cải tạo giáo dục ngƣời phạm tội [18, tr.107-108].
Trong khoa học LHS Việt Nam, các nhà khoa học cũng có nhiều quan điểm
về hình phạt, về cơ bản các quan điểm đó là thống nhất, mặc dù trong mỗi quan
niệm đó có những sự khác nhau nhất định:
GS.TSKH. Lê Văn Cảm đƣa ra khái niệm:
Hình phạt là biện pháp cƣỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nƣớc đƣợc
quyết định trong bản án kết tội có hiệu lực pháp luật của Tòa án để tƣớc bỏ hay
hạn chế quyền, tự do của ngƣời bị kết án theo các quy định của pháp luật hình
sự [6, tr.11-12].
Theo quan điểm của GS.TS. Nguyễn Ngọc Hòa thì:
Hình phạt là biện pháp cƣỡng chế nhà nƣớc nghiêm khắc nhất đƣợc quy định
trong luật hình sự, do Tòa án áp dụng cho chính ngƣời đã thực hiện tội phạm, nhằm
trừng trị và giáo dục họ, góp phần vào việc đấu tranh phòng và chống tội phạm, bảo
vệ chế độ và trật tự xã hội cũng nhƣ các quyền và lợi ích hợp pháp của của công
dân [20, tr.29].
PGS.TS. Trịnh Quốc Toản đã định nghĩa:
Hình phạt là biện pháp cƣỡng chế nghiêm khắc của Nhà nƣớc, đƣợc quy định
trong luật hình sự, do Tòa án quyết định áp dụng đối với ngƣời phạm tội và đƣợc

7


thể hiện ở việc tƣớc bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của họ nhằm giáo dục, cải tạo
họ trở thành ngƣời có ích cho xã hội, không phạm tội mới, giáo dục mọi công dân
có ý thức tôn trọng pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm [55, tr.48].
Lần đầu tiên, BLHS nƣớc ta có một số điều luật nêu khái niệm của hình phạt.
Trƣớc khi khái niệm về hình phạt đƣợc quy định chính thức trong BLHS, thì hình
phạt chỉ đƣợc nghiên cứu nhƣ là một khái niệm có tính chất khoa học, trên các tạp

nghiêm khắc nhất của Nhà nƣớc. Trong hệ thống pháp luật của Nhà nƣớc, có
nhiều biện pháp cƣỡng chế nhƣ xử phạt hành chính, buộc bồi thƣờng thiệt hại về
tài sản, xử lý kỷ luật... So với các biện pháp cƣỡng chế khác thì chỉ có hình phạt là
biện pháp cƣỡng chế nghiêm khắc nhất vì: hình phạt đánh vào lợi ích kinh tế, hình
phạt hạn chế quyền tự do thân thể, hình phạt đƣợc ghi vào lai lịch tƣ pháp của
ngƣời phạm tội hay có án tích. Án tích là đặc điểm nhân thân bất lợi cho ngƣời
phạm tội trong đời sống xã hội, trong khi ngƣời phạm tội có hành vi vi phạm pháp
luật. Án tích có thể bị coi là tình tiết định tội, tình tiết định khung tăng nặng, tình
tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Do vậy, hình phạt hoàn toàn khác với những
chế tài của ngành luật khác nhƣ bồi thƣờng thiệt hại trong Luật dân sự, phạt tiền
trong Luật hành chính…
- Thứ hai, hình phạt chính không tƣớc tự do chỉ áp dụng đối với ngƣời phạm
tội. Quy định này vừa thể hiện trong Điều 26 về khái niệm hình phạt, vừa thể hiện
tính nguyên tắc cơ sở trách nhiệm hình sự (Điều 2 BLHS năm 1999): "Chỉ người
nào phạm một tội đã được Bộ luật Hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình
sự" [40, tr.5]. BLHS chỉ cho phép truy cứu trách nhiệm hình sự đối với ngƣời thực
hiện hành vi phạm tội chỉ ngƣời nào phạm tội ngƣời ấy mới phải chịu trách nhiệm
hình sự. Mọi công dân đều phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình theo quy định
của pháp luật. Điều 2 BLHS 1999: “Chỉ người nào phạm một tội đã được Bộ luật
hình sự quy định thì mới phải chịu trách nhiệm hình sự”. Nhƣ vậy, LHS Việt Nam
không cho phép ngƣời khác chịu hình phạt thay cho ngƣời phạm tội. Quy định này
thể hiện nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa của pháp LHS Việt Nam, thể hiện
mục đích áp dụng hình phạt là giáo dục, cải tạo ngƣời phạm tội để họ trở thành
ngƣời lƣơng thiện có ích cho xã hội. Hình phạt chính đƣợc quy định cụ thể trong
luật, các chủ thể không có quyền thoả thuận các chế tài khác với quy định của luật
nhƣ một số ngành luật khác (chẳng hạn trong Luật dân sự có quy định trừ trƣờng
hợp các bên có thoả thuận khác).

9



10


tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại đặc biệt lớn cho
xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là trên mƣời
lăm năm tù, tù chung thân hoặc tử hình [40, tr.6].
Theo quy định của BLHS, các hình phạt chính không tƣớc tự do nhƣ Cảnh
cáo, phạt tiền chỉ áp dụng đối với ngƣời phạm tội ít nghiêm trọng (điều 29, 30);
hình phạt cải tạo không giam giữ chỉ áp dụng đối với ngƣời phạm tội ít nghiêm
trong hoặc phạm tội nghiêm trọng (điều 31); Đối với hình phạt trục xuất, mặc dù
BLHS 1999 không quy định cụ thể loại tội nào đƣợc áp dụng hay loại tội nào không
đƣợc áp dụng. Nhƣng trong thực tiễn xét xử, Toà án các cấp chƣa bao giờ áp dụng
hình phạt trục xuất là hình phạt chính đối với ngƣời phạm tội rất nghiêm trọng và
đặc biệt nghiêm trọng, mà chỉ áp dụng hình phạt này là hình phạt bổ sung.
- Thứ năm, ngƣời bị áp dụng hình phạt chính không tƣớc tự do không bị cách
ly khỏi xã hội. Đây là đặc điểm quan trọng nhất của hình phạt chính không tƣớc tự
do. Vì ngƣời bị kết án đƣợc giáo dục, cải tạo không cần phải cách ly khỏi xã hội,
đƣợc chấp hành án trong môi trƣờng bình thƣờng nơi ngƣời đó sống hoặc làm việc,
công tác. Ngƣời bị kết án tự cải tạo với sự giám sát, giúp đỡ và giáo dục của cơ
quan nhà nƣớc, tổ chức xã hội, chính quyền địa phƣơng và gia đình. Ở hình phạt
chính không tƣớc tự do, ngƣời chấp hành án phải tự giác cải tạo là chủ yếu.Trong
quá trình cải tạo ngƣời phạm tội không phải chịu sự quản lý, giám sát chặt chẽ nhƣ
ở hình phạt tƣớc tự do mà chỉ phải chịu sự quản lý, giám sát ở một mức độ nhẹ hơn.
Các hình phạt chính không tƣớc tự do thể hiện rõ nét hơn nội dung giáo dục, tính
chất cƣỡng chế về hình sự ít hơn khi so với các hình phạt tƣớc tự do.
- Thứ sáu, việc thi hành hình phạt chính không tƣớc tự do đƣợc thực hiện bởi
nhiều cơ quan, tổ chức khác nhau nhằm phát huy cao độ vai trò của cộng đồng trong
việc giáo dục, cải tạo ngƣời phạm tội. Việc thi hành hình phạt chính không tƣớc tự
do đƣợc thực hiện bởi nhiều cơ quan, tổ chức khác nhau. Ngƣời chấp hành hình

quy định của luật trừ trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật
tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng” [44, Điều 14, khoản 2].
Việc hạn chế quyền con ngƣời theo quy định của luật chính là điều kiện để bảo đảm
tính hiện thực của các quyền con ngƣời, quyền công dân trong xã hội.
Việc quy định các hình phạt chính không tƣớc tự do trong LHS là thể hiện rõ
quan điểm của Nhà nƣớc trong việc hạn chế tối đa tác động đến quyền con ngƣời,

12


trong đó có quyền tự do của ngƣời phạm tội. Việc áp dụng hình phạt đối với ngƣời
phạm tội phải phù hợp với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi
phạm tội và nhân thân của ngƣời phạm tội. Đồng thời, việc quy định các hình phạt
chính không tƣớc tự do chính là thúc đẩy khả năng của ngƣời phạm tội trong việc tự
hoạch định và cải tạo bản thân.
Thứ hai, về pháp lý: Hình phạt không tƣớc tự do thể hiện sự đa dạng hoá
các loại hình phạt trong LHS và là điều kiện đảm bảo tính thống nhất trong thực tiễn
xét xử của các Toà án, đảm bảo cho việc xét xử bình đẳng, công bằng.
Bởi để đảm bảo xét xử công bằng, bình đẳng, đòi hỏi Toà án trong quá trình
quyết định hình phạt phải xem xét và đánh giá mức độ nguy hiểm của hành vi phạm
tội và nhân thân của ngƣời phạm tội. Điều 45 BLHS quy định hành vi phạm tội và
nhân thân ngƣời phạm tội trong thực tiễn thì đòi hỏi Toà phải lựa chọn một loại
hình phạt hợp lý trong phạm vi luật quy định áp dụng đối với hành vi phạm tội đó,
đồng thời xem xét các điêu kiện luật định, áp dụng một hình phạt nhẹ hơn hình phạt
đƣợc quy định hoặc dƣới mức thấp nhất của hình phạt đƣợc quy định rõ ràng....Do
đó, nếu một hệ thống hình phạt đa dạng sẽ đảm bảo cho toà án có thể quyết định
đƣợc một hình phạt thích hợp, vừa bảo đảm mục đích răn đe, cải tạo giáo dục và
phòng ngừa tội phạm, đồng thời đảm bảo tính công bằng, bình đẳng trong xét xử.
Chính sách hình sự của Nhà nƣớc ta đòi hỏi nghiêm trị phải kết hợp với
khoan hồng. Điều 3 BLHS năm 1999 quy định:

tội vẫn đƣợc bảo đảm, đặc biệt họ không phải cách ly khỏi xã hội, đƣợc sống và lao
động trong môi trƣờng bình thƣờng, hạn chế đến mức cao nhất các tác động bất lợi
đối với ngƣời phạm tội từ việc bị áp dụng các chế tài hình sự mà đặc biệt là các hình
phạt có tính chất giam giữ, cụ thể ở những điểm sau:
Ngƣời phạm tội chấp hành án tại cộng đồng sẽ không bị gián đoạn và ngắt
quãng trong các mối quan hệ xã hội, hoà nhập bình thƣờng vào cuộc sống xã hội.
Ngƣời chấp hành án tại cộng đồng sẽ không bị mất đi khả năng tự chủ, tự quyết
định - một trong những biểu hiện của ngƣời tự do - những vấn đề liên quan đến
cuộc sống của họ.
Ngƣời chấp hành án sống trong trại cải tạo phải từ bỏ các tự do và tự chủ
trong việc đƣa ra sự lựa chọn và quyết định liên quan đến cuộc sống của họ, họ phải
tuân theo các quy tắc và các lệnh đƣợc thiết kế để kiểm soát hành vi của mình.

14


Ngƣời phạm tội đƣợc cho biết nơi để sống và khi nào và những gì để ăn, họ đƣợc
yêu cầu mặc quần áo quy định, thực hiện công việc nhất định và theo nhiều quy tắc
khác. Dần dần, thói quen tự đƣa ra các quyết định dần dần bị ảnh hƣởng và họ trở
nên phụ thuộc vào mệnh lệnh của bên ngoài ngày càng trở nên phụ thuộc vào các
quyết định và các kế hoạch mà nhà tù đã hoạch định cho họ hàng ngày. Điều này
dẫn đến nếu đƣợc tự do và tự chủ trƣớc đây thì việc hoà nhập vào cộng đồng rất khó
khăn; một số phạm nhân còn gặp khó khăn trong việc quyết định những việc riêng
của họ, hoặc để kiềm chế hành vi của họ (vì không có ngƣời hƣớng dẫn, giám sát),
đặc biệt là các phạm nhân phải chịu các án dài hạn có thể đã bị mất khả năng đƣa ra
quyết định cho bản thân và rất khó có thể sống một cuộc sống trong cộng đồng.
Trong khi đó, ngƣời chấp hành án tại cộng đồng vẫn đƣợc sinh sống bình
thƣờng tại nơi họ vẫn đang sinh sống. Họ hoàn toàn đƣợc chủ động đƣa ra các kế
hoạch và thực hiện theo mong muốn của họ. Trong cuộc sống hàng ngày, họ tự chủ
động và tự giác kiềm chế thực hiện những hành vi nguy hiểm cho xã hội một cách

khắc hơn thì ngƣời đó phải tự giác cải tạo cho thật tốt, xoá đi mặc cảm của chính
mình và thành kiến của cộng đồng, tái hoà nhập đầy đủ với xã hội. Bản thân ngƣời
bị kết án có nhiều cơ hội để sữa chữa lỗi lầm, tích cực rèn luyện, tu dƣỡng. Các hình
phạt không tƣớc tự do có vai trò quan trọng trong việc nâng cao trách nhiệm của
ngƣời phạm tội đối với những hậu quả do hành vi phạm tội của họ gây ra cho nạn
nhân nói riêng và cộng đồng xã hội nói chung. Qua đó, hình thành tính trách nhiệm
bản thân, khả năng tự kiểm soát, tự tha thứ, thông cảm qua đó có tác dụng hạn chế
khả năng tái phạm.
Hai là, với sự tham gia đa dạng các tổ chức, đoàn thể xã hội trong việc cảm
hoá, giáo dục ngƣời phạm tội chấp hành các hình phạt chính không tƣớc tự do tại
địa phƣơng, các hình phạt không tƣớc tự do thể hiện vai trò trách nhiệm của cộng
đồng và xã hội trong việc chia sẻ trách nhiệm của nhà nƣớc trong việc cải tạo giáo
dục ngƣời phạm tội.
Thứ năm, về mặt kinh tế: Tội phạm là một trong những hiện tƣợng xã hội có
tính tiêu cực, là biểu hiện của mặt trái xã hội, nên gây ra các chi phí tổn thất cho xã
hội. Chính sách hình sự nói chung, chính sách hình phạt nói riêng chỉ đạt hiệu quả
tối ƣu khi tiết kiệm đƣợc các nguồn lực xã hội.
Trong việc thi hành hình phạt, chi phí xã hội của hình phạt có thể hiểu là chi
phí mà ngƣời chấp hành án phải gánh chịu trong quá trình thi hành án và chi phí của
xã hội liên quan đến việc thi hành án đó. Nhƣ vậy, chi phí xã hội của việc thi hành

16


hình phạt bao gồm: Chi phí của ngƣời chấp hành án phải bỏ ra để chấp hành án,
trong đó có cả chi phí cơ hội của việc thi hành án, chi phí của nhà nƣớc trong việc
tổ chức thi hành án và chi phí đối với gia đình ngƣời chấp hành án. Dƣới góc độ
kinh tế, chi phí xã hội của việc thi hành án càng thấp, hình phạt đó càng hiệu quả.
Khi so sánh chi phí xã hội đối với thi hành các hình phạt không tƣớc tự do
với hình phạt tù, hình phạt tử hình, cho thấy chi phí thi hành các hình phạt chính

cảnh cáo; phạt tiền; cải tạo không giam giữ; cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành
nghề hoặc làm công việc nhất định; tƣớc một số quyền công dân; tịch thu tài sản.
- Hình phạt cảnh cáo:
Đây là biện pháp chế tài vừa là biện pháp xử lý hành chính vừa là hình phạt.
Nhƣng thời kỳ này chƣa có sự phân định rõ giữa hình phạt và biện pháp xử
lý hành chính bằng hình thức cảnh cáo.
Theo Điều 13 Luật số 100-SL/L2 ngày 20-5-1957 về chế độ báo chí thì tuỳ
theo lỗi vi phạm nặng hay nhẹ mà báo chí bị cảnh cáo, đình bản tạm thời hoặc bị
truy tố trƣớc pháp luật, có thể bị phạt tiền. Nhƣ vậy, điều luật này quy định cả
trƣờng hợp xử lý hành chính và truy tố trƣớc pháp luật về hành vi phạm tội trong
lĩnh vực báo chí. Nhƣng cũng theo điều luật này thì biện pháp cảnh cáo đƣợc coi là
hình thức xử lý hành chính đối với mức độ vi phạm nhẹ hơn. Mặt khác, theo hƣớng
dẫn của các cơ quan có thẩm quyền trong thời kỳ này, thì khi bị truy tố trƣớc pháp
luật về hành vi phạm tội trong lĩnh vực báo chí, Toà án vẫn có thể áp dụng hình
phạt nhẹ nhất là cảnh cáo, và khi áp dụng cảnh cáo thì Toà án cũng có quyền quyết
định cho công bố tại một hội nghị báo chí hoặc trên một hoặc nhiều báo.
Ngày 18/1/1961, Pháp lệnh quy định thể lệ bầu cử Hội đồng nhân dân các
cấp ra đời đã có sự phân định và quy định rõ ràng hơn về hình phạt cảnh cáo. Pháp
lệnh đã có những quy định về việc áp dụng hình phạt cảnh cáo đối với một số
trƣờng hợp phạm tội, coi cảnh cáo là một hình phạt cụ thể và áp dụng đối với hành
vi phạm tội. Theo Pháp lệnh thì Cảnh cáo là hình phạt nhẹ nhất trong thang hình
phạt và khi đƣợc áp dụng thì luôn đƣợc áp dụng là hình phạt chính.
Ví dụ:
Ngƣời nào dùng thủ đoạn lừa gạt, mua chuộc hoặc cƣỡng ép
làm trở ngại đến quyền tự do bầu cử và ứng cử của công dân, thì tuỳ
mức độ nặng nhẹ mà có thể bị cảnh cáo hoặc bị phạt tù, nặng nhất là hai
năm (Điều 61).

18


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status