Căn cứ miễn trách nhiệm hình sự theo luật hình sự việt nam (trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh phú thọ) - Pdf 47

I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT

NGUYN HUY HONG

CĂN Cứ MIễN TRáCH NHIệM HìNH Sự
THEO LUậT HìNH Sự VIệT NAM
(Trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh phú Thọ)

LUN VN THC S LUT HC

H NI - 2017


I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT

NGUYN HUY HONG

CĂN Cứ MIễN TRáCH NHIệM HìNH Sự
THEO LUậT HìNH Sự VIệT NAM
(Trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh phú Thọ)
Chuyờn ngnh: Lut hỡnh s v t tng hỡnh s
Mó s: 60 38 01 04

LUN VN THC S LUT HC

Cỏn b hng dn khoa hc: TS. TRNH TIN VIT

H NI - 2017


hình sự ................................................................................................. 8

1.1.1. Khái niệm căn cứ miễn trách nhiệm hình sự........................................ 8
1.1.2. Những đă ̣c điể m của căn cứ miễn trách nhiê ̣m hiǹ h sự ..................... 12
1.1.3. Ý nghĩa của việc quy định căn cứ miễn trách nhiệm hình sự
trong luật hình sự Việt Nam ............................................................... 15
1.2.

Khái quát lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam của quy định về
căn cứ miễn trách nhiệm hình sự từ sau Cách mạng tháng
Tám năm 1945 đến trước năm 1999 ............................................... 18

1.2.1. Giai đoạn từ sau năm 1945 đến trước năm 1985 ............................... 18
1.2.2. Giai đoạn từ sau năm 1985 đến trước năm 1999 ............................... 23
1.3.

Quy định về căn cứ miễn trách nhiệm hình sự trong Bộ luật
hình sự một số nước trên thế giới ................................................... 25

1.3.1. Quy định về căn cứ miễn trách nhiệm hình sự trong Bộ luâ ̣t hình
sự Liên bang Nga ............................................................................... 25
1.3.2. Quy định về căn cứ miễn trách nhiệm hình sự trong Bộ luâ ̣t hiǹ h
sự Nhâ ̣t Bản ........................................................................................ 27
1.3.3. Quy định về căn cứ miễn trách nhiệm hình sự trong Bộ luâ ̣t hiǹ h
sự Vương quốc Thu ̣y Điể n ................................................................. 29


Chương 2: QUY ĐỊNH VỀ CĂN CỨ MIỄN TRÁCH NHIỆM HÌNH
SỰ TRONG BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 1999 VÀ THỰC
TIỄN ÁP DỤNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH PHÚ THỌ .................. 32

tội không tố giác tội phạm .................................................................. 45
2.3.

Thực tiễn áp dụng quy định về căn cứ miễn trách nhiệm
hình sự trong Bộ luật hình sự năm 1999 trên địa bàn tỉnh
Phú Thọ ............................................................................................. 46

2.3.1. Khái quát chung về tình chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội… trên
địa bàn tỉnh Phú Thọ .......................................................................... 46


2.3.2. Tình hình áp dụng quy định về căn cứ miễn trách nhiệm hình sự
trong Bộ luật hình sự trên địa bàn tỉnh Phú Thọ của Cơ quan
Điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án ...................................................... 49
2.3.3. Một số tồn tại, hạn chế trong thực tiễn áp dụng và các nguyên
nhân cơ bản......................................................................................... 60
Chương 3: TIẾP TỤC HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH VỀ CĂN CỨ
MIỄN TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ TRONG BỘ LUẬT HÌNH
SỰ NĂM 2015 VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NÂNG CAO HIỆU
QUẢ ÁP DỤNG................................................................................. 66
3.1.

Những điểm mới của quy định về căn cứ miễn trách nhiệm
hình sự trong Bộ luật hình sự năm 2015 và một số vấn đề đặt
ra cần tiếp tục hoàn thiện ................................................................ 66

3.1.1. Những điểm mới của quy định về căn cứ miễn trách nhiệm hình
sự trong Bộ luật hình sự năm 2015 .................................................... 66
3.1.2. Một số vấn đề đặt ra cần tiếp tục hoàn thiện quy định về căn cứ
miễn trách nhiệm hình sự trong Bộ luật hình sự năm 2015 ............... 74

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

STT

Ký hiệu

Nguyên nghĩa

1

BLHS

Bộ luật hình sự

2

TAND

Tòa án nhân dân

3

THTT

Tiến hành tố tụng

4

TNHS


bản tỉnh Phú Thọ giai đoạn 10 năm (2007 - 2016)

50

Bảng 2.2. Số bị can, bị cáo được miễn TNHS là người chưa
thành niên phạm tội theo Điều 69 - BLHS trên địa bàn
tỉnh Phú Thọ giai đoạn 10 năm (2007 - 2016)

52

Bảng 2.3. Số bị can, bị cáo được miễn TNHS do chuyển biến về
tình hình (khoản 1 Điều 25 BLHS năm 1999) trên địa
bàn tỉnh Phú Thọ giai đoạn 10 năm (2007- 2016)

53

Bảng 2.4. Số bị can, bị cáo được miễn TNHS do hành vi có ích
của bị can, bị cáo sau khi thực hiện tội phạm (khoản 2
Điều 25 BLHS 1999) trên địa bàn tỉnh Phú Thọ trong
giai đoạn 10 năm (2007 - 2016)

56

Bảng 2.5. Số bị can, bị cáo được miễn TNHS do tự ý nửa chừng
chấm dứt việc phạm tội theo Điều 19 BLHS 1999 trên
địa bàn tỉnh Phú Thọ giai đoạn 10 năm (2007 - 2016)

57

Bảng 2.6. Số bị can, bị cáo được miễn TNHS theo các căn cứ

pháp và pháp luật quy định đều phải bị lên án và bị xử lý nghiêm khắc. Nghị
quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI (2011) và sau đó là lần thứ XII
(2016) của Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra:
Đẩy mạnh việc thực hiện Chiến lược cải cách tư pháp đến
năm 2020, xây dựng hệ thống tư pháp trong sạch, vững mạnh,
bảo vệ công lý, tôn trọng và bảo vệ quyền con người. Hoàn thiện
chính sách, pháp luật về hình sự... và về tổ chức bộ máy các cơ
quan tư pháp, bảo đảm tính khoa học, đồng bộ, đề cao tính độc
lập, khách quan, tuân thủ pháp luật của từng cơ quan và chức
danh tư pháp... [19, tr.250], hạn chế tiến tới đẩy lùi tội phạm và
giảm tác hại của tệ nạn xã hội... [19, tr.80].
Pháp luật hình sự là công cụ hữu hiệu để đấu tranh

, phòng chống tội

phạm, góp phần bảo vệ trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa . Mục đích truy cứu

1


trách nhiệm hình sự (TNHS) với phương châm , mọi hành vi phạm tội đều bị
phát hiện và xử lý nghiêm minh , kịp thời và đúng pháp luật . Tuy nhiên, mục
tiêu truy cứu TNHS đố i với người thực hiê ̣n hành vi pha ̣m tô ̣i cầ n đươ ̣c đă ̣t
trong mố i quan hê ̣ với viê ̣c khoan hồ ng , giáo dục thuyế t phu ̣c như nguyên tắ c
xử lý của luâ ̣t hin
̀ h sự “ nghiêm trị kết hợp với khoan hồng, trừng trị kết hợp
với giáo dục thuyết phục”, cũng như phản ánh yêu cầu - “không cần thiết phải
truy cứu TNHS, mà vẫn bảo đảm yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm và
giáo dục cải tạo người phạm tội” [63, tr.274]. Trong pháp luật hình sự , miễn
TNHS là một trong những chế định nhân đạo, phản ánh nguyên tắc phân hóa

chung) và Phần các tội phạm BLHS thì việc miễn TNHS luôn là vấn đề được
quan tâm trong hoa ̣t đô ̣ng áp du ̣ng pháp luâ ̣t hì nh sự. Bởi lẽ , hoạt động này
nế u không đươ ̣c tiế n hành dựa trên cơ sở các căn cứ luâ ̣t đinh
̣ , trình tự thủ tục
chă ̣t chẽ sẽ dẫn đế n viê ̣c vi pha ̣m chiń h sách hiǹ h sự, ảnh hưởng tới quyền của
người bi ̣ha ̣i, quyề n và lơ ̣i ích của nhà nước.
Do đó, viê ̣c nghiên cứu làm rõ các căn cứ miễn TNHS và hoa ̣t đô ̣ng áp
dụng trên thực tiễn, cũng như đánh giá những điểm mới của BLHS năm 2015,
sửa đổi năm 2017 để tổ chức thi hành tốt có vai trò quan tro ̣ng nhằ m khắ c
phục ha ̣n chế , bấ t câ ̣p , tạo lập chính sách hình sự với phương châm xét xử
đúng người , đúng tô ̣i , đúng pháp luâ ̣t có ý nghiã rấ t quan tro ̣ng trong giai
đoa ̣n hiê ̣n nay . Từ những lý do đã nêu trên, học viên quyết định lựa chọn đề
tài: “Căn cứ miễn trách nhiệm hình sự theo Luật hình sự Việt Nam (trên cơ
sở thực tiễn địa bàn tỉnh Phú Thọ)” làm luận văn thạc sĩ luật học của mình.
2. Tình hình nghiên cứu
Nghiên cứu chủ đề về “miễn TNHS” và căn cứ miễn TNHS cho thấy đã
có nhiều công trình nghiên cứu trực tiếp và gián tiếp về vấn đề này đươ ̣c thể
hiê ̣n trên các công trình nghiên cứu như sau:
Một là, các công trình nghiên cứu trong các sách chuyên khảo

, tham

khảo, giáo trình, có thể kể đến một số tác phẩm như : (i) GS. TSKH. Lê Văn
Cảm, Mục III - Chế định miễn TNHS, Chương 8, trong Sách chuyên khảo

3


Sau đại học: Những vấn đề cơ bản trong khoa học luật hình sự (Phần chung),
Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, 2005; (ii) GS. TSKH. Lê Cảm (chủ biên),



Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2008; ngoài ra còn có một số luận
văn tha ̣c si ̃ luâ ̣t ho ̣c như: tác giả Lê Thu Hiền, Mố i liên hê ̣ giữa TNHS và miễn
TNHS, Khoa Luâ ̣t , Đa ̣i ho ̣c Quố c gia Hà Nô ̣i , năm 2009; tác giả Lê Ngọc
Duy, Miễn TNHS với người chưa thành thành niên phạm tội theo luật hình sự
Viê ̣t Nam , Khoa Luâ ̣t , Đa ̣i ho ̣c Quố c gia Hà Nô ̣i , năm 2012; tác giả Đặng
Ngọc Huy, Miễn TNHS theo luật hình sự Viê ̣t Nam và thực tiễ n áp dụng trên
đi ̣a bàn tỉnh Đắ k Lắ k, Khoa Luâ ̣t, Đa ̣i ho ̣c Quố c gia Hà Nô ̣i, năm 2015; v.v...
Như vậy, các công trình nghiên cứu trên đây về cơ bản đã nghiên cứu
mô ̣t cách tổ ng thể cũng như chi tiế t về chế đinh
̣ miễn TNHS , cũng như từng
trường hơ ̣p miễn TNHS theo luâ ̣t hiǹ h sự Viê ̣t Nam và tiếp cận theo quy định
của BLHS năm 1985 và BLHS năm 1999, sửa đổi năm 2009. Tuy nhiên, chưa
có công trình nào nghiên cứu cụ thể về các căn cứ miễn TNHS theo quy định
của BLHS năm 2015, sửa đổi năm 2017, đánh giá và so sánh với BLHS năm
1999, sửa đổi năm 2009, đă ̣c biê ̣t dựa trên cơ sở số liê ̣u thực tiễn của mô ̣t điạ
bàn cụ thể là tỉnh Phú Thọ . Do đó, viê ̣c học viên lựa chọn để nghiên cứu chủ
đề trên rõ ràng có tính thời sự cấp thiết.
3. Mục đích và phạm vi nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Luận văn có mục đích làm sáng tỏ về phương diện lý luận các căn cứ
miễn TNHS theo luật hình sự Việt Nam (gồ m cả các căn cứ ở Phầ n chung và
Phầ n các tô ̣i pha ̣m ) và việc áp dụng vào thực tiễn trên địa bàn tỉnh Phú Thọ ,
chỉ ra một số tồn tại , hạn chế và các nguyên nhân cơ bản , từ đó đề xuất tiếp
tục hoàn thiện quy định BLHS năm 2015, sửa đổi năm 2017 về chế đinh
̣ đã
nêu và một số kiến nghị khác nâng cao hiệu quả áp dụng, qua đó góp phần
đấu tranh phòng, chống tội phạm và giáo dục, cải tạo người phạm tội.
3.2. Phạm vi nghiên cứu

một số nước trên thế giới về căn cứ miễn TNHS để rút ra nhận xét, đánh giá
đồ ng thời rút ra kinh nghiê ̣m lâ ̣p pháp cho nước ta;

6


4) Phân tích quy định BLHS năm 1999 về căn cứ miễn TNHS và đánh
giá thực tiễn áp dụng trên địa bàn tỉnh Phú Thọ trong giai đoạn 10 năm (2007
- 2016) của những cơ quan tiến hành tố tụng, từ đó chỉ ra một số tồn tại, hạn
chế và các nguyên nhân cơ bản;
5) Luận chứng và kiến nghị hoàn thiện quy định về căn cứ miễn TNHS
từ việc đánh giá quy định của BLHS năm 2015 và thực tiễn áp dụng, đồng
thời cũng đưa ra kiến nghị nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định đó trên điạ
bàn cả nước nói chung và tỉnh Phú Thọ nói riêng.
5. Cơ sở lý luận và các phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận
Luận văn dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh về nhà nước và pháp luật, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta
trong đấu tranh phòng, chống tội phạm. Đồng thời dựa trên những thành tựu của
khoa học như: triết học, luật hình sự, luật tố tụng hình sự, Tội phạm học...
5.2. Các phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu như: phương pháp phân
tích, tổng hợp, so sánh, thống kê, hệ thống… để tổng hợp các tri thức khoa
học luật hình sự và luận chứng các vấn đề tương ứng được nghiên cứu.
Ngoài ra, việc nghiên cứu đề tài còn dựa vào thực tiễn xét xử cũng
như số liệu của Cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án trong giai đoạn
10 năm (2007 - 2016) trên địa bàn tỉnh Phú Thọ.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn gồm ba chương với tên gọi như sau:

và những nội dung xung quanh vấn đề này. Bởi lẽ, việc nhận thức khoa học
đúng đắn về TNHS sẽ tạo cơ sở vững chắc cho nhận thức về miễn TNHS. Do
vậy, trước khi đi vào nghiên cứu khái niệm và bản chất pháp lý của chế định
miễn TNHS cần phải hiểu khái niệm và một số nội dung cơ bản xung quanh
chế định TNHS trong luật hình sự Việt Nam.
8


Về khái niê ̣m TNHS , về cơ bản các quan điểm đều thống nhất về nội
dung của nó (áp dụng đối với cá nhân người phạm tội) như:
TNHS là một dạng trách nhiệm pháp lý, là tổng hợp các
quyền và nghĩa vụ của Nhà nước và người phạm tội, được thể hiện
ở các biện pháp tác động có tính chất pháp lý hình sự mà luật hình
sự quy định, áp dụng đối với người thực hiện tội phạm, bao gồm
hình phạt và các biện pháp tác động có tính chất pháp lý hình sự
khác không phải hình phạt và được bắt đầu từ khi truy cứu TNHS
đối với một người [23, tr.8] hay TNHS là hậu quả pháp lý của việc
thực hiện tội phạm và được thể hiện bằng việc áp dụng đối với
người phạm tội một hoặc nhiều biện pháp cưỡng chế của Nhà nước
do luật hình sự quy định [5, tr.122]; v.v…
Như vậy, có thể thấy , viê ̣c xác đinh
̣ khái niê ̣m TNHS trong khoa ho ̣c
luâ ̣t hin
̀ h sự Viê ̣t Nam mă ̣c dù có những nhâ ̣n thức khác nhau nhưng tựu
chung la ̣i đề u có những điể m chung cố t lõi khi áp dụng đối với cá nhân

.

Những điể m chung này có thể nhâ ̣n thấ y ở các nô ̣i dung cơ bản thể hiê ̣n ở đă ̣c
điể m của TNHS . Theo đó , TNHS có các đă ̣c điể m cơ bản được thừa nhận

hợp mặc dù có đầy đủ cơ sở và những điều kiện của TNHS nhưng khi có căn cứ
và những điều kiện nhất định, thì một người đã phạm tội có thể bị truy cứu
TNHS, có thể không phải chịu TNHS hoặc cũng có thể được miễn TNHS.
Do đó, từ logíc này, có thể khẳng định rằng, khái niệm và cơ sở của
miễn TNHS cũng xuất phát từ khái niệm và cơ sở của TNHS.
* Khái niệm miễn TNHS
Là một trong những chế định quan trọng trong luật hình sự Việt Nam,
miễn TNHS thể hiện chính sách khoan hồng, nhân đạo của Đảng và Nhà nước
ta đối với người phạm tội và hành vi do họ thực hiện, đồng thời qua đó nhằm
động viên, khuyến khích người phạm tội lập công chuộc tội, chứng tỏ khả
năng giáo dục, cải tạo nhanh chóng hòa nhập với cộng đồng và giúp họ trở
thành người có ích cho xã hội. Hiện nay, cũng giống như khái niệm TNHS,
trong khoa học luật hình sự xung quanh khái niệm miễn TNHS vẫn tồn tại
nhiều quan điểm khác nhau song cơ bản nội hàm là thống nhất, cụ thể là:
GS.TSKH. Lê Văn Cảm định nghĩa: “Miễn TNHS là một chế định nhân
đạo của luật hình sự Việt Nam và được thể hiện bằng việc xóa bỏ hậu quả
pháp lý của việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự cấm
đối với người bị coi là có lỗi trong việc thực hiện hành vi đó” [6, tr.7];

10


GS.TS. Lê Thi ̣Sơn cho rằ ng:
Miễn TNHS đối với người phạm tội có nghĩa là miễn truy
cứu TNHS và đương nhiên kéo theo cả miễn phải chịu các hậu quả
tiếp theo do việc thực hiện TNHS từ phía Nhà nước đem lại như:
miễn bị kết tội, miễn phải chịu biện pháp cưỡng chế của TNHS và
miễn bị mang án tích. Trên thực tế có thể có trường hợp người
phạm tội được Tòa án miễn TNHS trong giai đoạn xét xử. Trong
trường hợp này, miễn TNHS chỉ bao gồm miễn chịu biện pháp

TNHS do luật định.
“Căn cứ”, theo Từ điể n tiế ng Viê ̣t “ là cái làm chỗ dựa, làm cơ sở (để
lập luận hoặc hành động)” [29, tr.241]. Còn theo Đại từ điển tiếng Việt, “căn
cứ” là: “1. Dựa vào đó để lập luận, hoạt động cho chắn chắn, chính xác; 2. Cái
làm cơ sở để lập luận, hành động” [65, tr.200]
Do đó, từ khái niệm miễn TNHS và khái niệm căn cứ , dưới góc độ
khoa học luật hình sự, theo học viên, khái niệm đang nghiên cứu được định
nghĩa như sau: Căn cứ miễn TNHS được hiểu là các tình tiế t (hay các trường
hợp) mà chỉ có thể và cần dựa vào đó , các cơ quan tư pháp hình sự có thẩm
quyề n tùy thuộc vào giai đoạn tố tụng hình sự tương ứng sẽ ra quyế t đi ̣nh
miễn TNHS đối với người phạm tội.
1.1.2. Những đăc̣ điểm của căn cứ miễn trách nhiê ̣m hình sự
Trên cơ sở quy định của pháp luật hình sự Việt Nam và thực tiễn, căn
cứ miễn TNHS phản ánh những đặc điểm cơ bản sau đây:
* Căn cứ miễn TNHS là cơ sở pháp lý của miễn TNHS
Căn cứ m iễn TNHS là tình tiế t (hay trường hơ ̣p ) mà chỉ có và cần dựa
vào đó các cơ quan tư pháp hình sự có thẩm quyền tùy thuộc vào giai đoạn tố
tụng hình sự tương ứng sẽ ra quyết định miễn TNHS đối với người phạm tội .
Nói một cách khác, các trường hợp miễn TNHS đều phải căn cứ vào các tình
tiết, trường hợp và điều kiện cụ thể theo quy định của pháp luật. Nếu các tình
tiết, điều kiện khác không được quy định là căn cứ miễn TNHS thì không là
cơ sở pháp lý để được miễn TNHS.

12


* Căn cứ miễn TNHS là quy định phản ánh nguyên tắc nhân đạo của
chính sách hình sự nói chung và trong pháp luật hình sự Việt Nam nói riêng
Theo đó, chỉ có thể được đặt ra đối với người nào là chủ thể của chính
tội phạm ấy, đồng thời phải đáp ứng đầy đủ căn cứ pháp lý và những điều

quyết định cho họ được miễn TNHS [62, tr.96].
* Căn cứ để miễn TNHS chỉ áp dụng đối với người mà trong hành vi
của họ thỏa mãn những dấu hiệu của cấu thành tội phạm cụ thể
Như vậy, căn cứ để miễn TNHS chỉ áp dụng đối với người mà trong
hành vi, nhưng đối với họ lại có căn cứ và những điều kiện nhất định để được
miễn TNHS trong từng trường hợp mà pháp luật hình sự hiện hành quy định,
cũng như tùy thuộc vào từng trường hợp miễn TNHS đó là tùy nghi (lựa
chọn) hay bắt buộc. Nói một cách khác, không thể áp dụng miễn TNHS đối
với người không có hành vi thỏa mãn dấu hiệu pháp lý của một cấu thành tội
phạm cụ thể được quy định trong luật hình sự và đối với họ không có căn cứ
và những điều kiện nhất định.
* Căn cứ miễn TNHS luôn gắn liền và quan hệ chặt chẽ với chế định
TNHS trong luật hình sự Việt Nam
Khái niệm và cơ sở của miễn TNHS cũng xuất phát từ khái niệm và cơ
sở của TNHS. Theo đó, hiểu một cách chung nhất thì TNHS là hậu quả pháp
lý bất lợi mà người phạm tội phải chịu do đã thực hiện hành vi phạm tội và
được thể hiện bằng việc áp dụng đối với họ một hoặc nhiều biện pháp cưỡng
chế nghiêm khắc của Nhà nước do luật hình sự quy định. Còn miễn TNHS có
nghĩa không buộc người phạm tội phải chịu hậu quả pháp lý bất lợi của việc
phạm tội đó mà lẽ ra nếu không có đầy đủ căn cứ pháp lý và những điều kiện
do luật định để được miễn TNHS, thì người đó phải chịu TNHS theo quy định
của pháp luật hình sự.
Ngoài ra, miễn TNHS và TNHS lại có cùng một cơ sở - đó là, việc thực
hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mà luật hình sự quy định là tội phạm”.

14


Trong cả hai trường hợp này, chủ thể thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội
mà luật hình sự quy định là tội phạm đều là người phạm tội. Nói cách khác,

không chiụ TNHS nữa nhưng vẫn thể hiê ̣n sự lên án hành vi , người pham
̣
tội từ phía Nhà nước
Một người phạm tội, phải chịu TNHS, có nghĩa là phải chịu sự lên án,
trừng phạt của Nhà nước. Người được miễn TNHS, có nghĩa vẫn phải chịu
TNHS, nhưng có điều kiện để miễn TNHS, do đó, vẫn phải chịu sự lên án của
Nhà nước đối với mình , vì với người được miễn TNHS, họ cũng đã thực hiện
hành vi nguy hiểm cho xã hội mà BLHS quy định là tội phạm, song với người
này, tùy thuộc vào giai đoạn tố tụng hình sự tương ứng, các cơ quan tiến hành
tố tụng thấy rằng, việc truy cứu TNHS người đó lại không cần thiết mà vẫn
đáp ứng các yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm, cũng như công tác giáo
dục, cải tạo người phạm tội nếu đáp ứng những điều kiện nhất định, họ sẽ
không phải chịu TNHS mà được miễn TNHS.
Do đó, mặc dù được miễn TNHS, nhưng người phạm tội vẫn có thể
chịu một hoặc nhiều biện pháp cưỡng chế không phải hình sự thuộc các ngành
luật tương ứng khác trong hệ thống pháp luật của Nhà nước như pháp luật tố
tụng hình sự, pháp luật hành chính, pháp luật lao động...).
* Trong chính sách hình sự của Nhà nước ở từng thời ky
, ̀ căn cứ miễn
TNHS thể hiê ̣n nguyên tắ c phân hóa TNHS trong luật hình sự Viê ̣t Nam
Phân hóa trong luật hình sự nước ta được thể hiện trên nhiều phương
diện như: phân loại tội phạm, thời hiệu truy cứu TNHS, hệ thống hình phạt và
các biện pháp tư pháp, phân hóa TNHS qua việc áp dụng TNHS, chịu TNHS
hạn chế, không phải chịu TNHS hay miễn TNHS, đương nhiên được miễn
TNHS hay có thể được miễn TNHS, mở rộng hay thu hẹp phạm vi tội danh
trong Phần các tội phạm của BLHS; v.v... Do đó, đây chính là sự phân hóa
giữa trường hợp phải chịu TNHS với trường hợp được miễn TNHS, giữa
trường hợp có thể được miễn TNHS với trường hợp được miễn TNHS.

16


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status