Quyết định hình phạt tù có thời hạn đối với người dưới 18 tuổi theo luật hình sự việt nam (trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh phú thọ) - Pdf 47

I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT

NGUYấN THI VIấT HA

QUYếT ĐịNH HìNH PHạT Tù Có THờI HạN
ĐốI VớI NGƯờI DƯớI 18 TUổI THEO LUậT HìNH Sự VIệT NAM
(Trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh Phú Thọ)

LUN VN THC S LUT HC

H NI - 2017


I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT

NGUYấN THI VIấT HA

QUYếT ĐịNH HìNH PHạT Tù Có THờI HạN
ĐốI VớI NGƯờI DƯớI 18 TUổI THEO LUậT HìNH Sự VIệT NAM
(Trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh Phú Thọ)
Chuyờn ngnh: Lut hỡnh s v t tng hỡnh s
Mó s: 60 38 01 04

LUN VN THC S LUT HC

Cỏn b hng dn khoa hc: GS.TS NGC QUANG

H NI - 2017



Những khái niệm có liên quan ........................................................... 8

1.1.1. Khái niệm người dưới 18 tuổi ............................................................... 8
1.1.2. Khái niệm người dưới 18 tuổi pha ̣m tô ̣i.............................................. 10
1.1.3. Khái niệm quyết định hình phạt tù ...................................................... 10
1.1.4. Khái niệm quyết định hình phạt tù đối với người dưới 18 tuổi .......... 14
1.2.

Quy định chung về quyết định hình phạt tù đối với người dưới
18 tuổi ................................................................................................. 15

1.2.1. Căn cứ quyết định hình phạt tù đối với người dưới 18 tuổi ................ 15
1.2.2. Quyết định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội và tổng
hợp hình phạt của nhiều bản án đối với người dưới 18 tuổi ............... 21
1.3.

Quá trình phát triển của luật hình sự Việt Nam về Quyết
định hình phạt tù đối với người dưới 18 tuổi ................................. 24

1.3.1. Giai đoạn từ 1945 đến trước khi ban hành Bộ luật hình sự 1985 ............ 24
1.3.2. Giai đoạn từ 1985 đến trước khi ban hành Bộ luật hình sự 2015 .......... 26
1.4.

Pháp luật hình sự một số nước về Quyết định hình phạt tù
với người dưới 18 tuổi ....................................................................... 29

1.4.1. Quyết định hình phạt tù với người dưới

18 tuổi trong luâ ̣t pháp

2.2.2. Những kết quả đạt được trong quyết định hình phạt tù đối với
người dưới 18 tuổi ............................................................................... 55
2.2.3. Những thiếu sót, tồn tại và nguyên nhân gây nên những thiếu sót,
tồn tại trong Quyết định hình phạt tù đối với người dưới 18 tuổi ...... 56
Chương 3: CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUYẾT ĐỊNH
HÌNH PHẠT TÙ ĐỐI VỚI NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI ........................... 63
3.1.

Các giải pháp hoàn thiện luật hình sự ............................................ 63

3.1.1. Những nội dung mới về Quyết định hình phạt tù đối với người dưới
18 tuổi trong Bộ luật hình sự 2015 so với Bộ luật hình sự 1999 ........... 63
3.1.2. Giải pháp tiếp tục hoàn thiện Bộ luật hình sự về quyết định hình
phạt tù đối với người dưới 18 tuổ i ...................................................... 70


3.1.3. Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về quyết định hình
phạt tù đối với người dưới 18 tuổi theo Bộ luật hình sự 2015 ............ 78
3.2.

Các giải pháp khác ............................................................................ 83

3.2.1. Bồi dưỡng kiến thức pháp luật hình sự về quyết định hình phạt tù
đối với người dưới 18 tuổi đối với cán bộ Tòa án .............................. 83
3.2.2. Tuyên truyền phổ biến pháp luật trong nhân dân về quyết định
hình phạt tù đối với người dưới 18 tuổi .............................................. 87
KẾT LUẬN .................................................................................................... 89
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................... 91




Liên hiê ̣p quố c

NCTN:

Người chưa thành niên

QĐHP:

Quyế t đinh
̣ hình pha ̣t

TAND:

Tòa án nhân dân

TANDTC:

Tòa án nhân dân tối cao

TNHS:

Trách nhiệm hình sự

TTHS:

Tố tu ̣ng hình sự

UBND:


Bảng 2.3: Thống kê người dưới 18 tuổ i phạm tội th eo nhóm tuổi
trên địa bàn tỉnh Phú Tho ̣ từ năm 2010 đến năm 2016

53

Bảng 2.4: Cơ cấu hình phạt áp dụng đối với người dưới
18 tuổ i
phạm tội trên địa bàn tỉnh Phú Thọ từ năm
2010 đến
năm 2016

54


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ở nước ta, độ tuổi người chưa thành niên là dưới 18 tuổ i, được xác định
thống nhất trong Hiế n pháp và các văn bản quy pha ̣m pháp luâ ̣t khác. Là nhóm
tuổ i thường chưa phát triển đầy đủ về thể chất, tâm - sinh lý và trình độ nhận
thức. Người dưới 18 tuổ i là đố i tươ ̣ng thường sốc nổi, khả năng tự kiềm chế có
hạn, thiếu bản lĩnh tự lập, thiếu kinh nghiệm sống [47, tr. 317-318]. Đồng thời
họ cũng là người hiếu thắng, thiếu kiên nhẫn , dễ bị dụ dỗ , kích động, muốn
được khẳng định mình… Những đặc điểm trên khiến cho những người dưới18
tuổ i dễ có nguy cơ thực hiện tội phạm nếu sống trong môi trường xã hội không
lành mạnh, tỷ lệ tội phạm cao . Thực tiễn ở nước ta nhữ ng năm gầ n đây cho
thấ y, số lượng người dưới 18 tuổ i phạm tội đang có chiều hướng gia tăng cả về
số lượng lẫn mức độ nghiêm trọng, tính chất liều lĩnh của hành vi phạm tội. Do
vâ ̣y, viê ̣c quyết định hình pha ̣t đố i với người dưới18 tuổ i pha ̣m tôị sao cho vừa
đảm bảo quyề n trẻ em , vừa phù hơ ̣p với hiê ̣u quả giáo du ̣c , cải tạo, vừa nâng
cao tin


quyết định hình phạt đối với người dưới 18 tuổ i phạm tội đặc biệt ... dẫn tới
làm giảm hiệu quả của công tác đấu tranh phòng chống tội phạm dưới 18 tuổ i.
Nhu cầu cấp thiết hiện nay là nghiên cứu một cách có hệ thống về mặt
lý luận các quy định của pháp luật tư pháp hình sự Việt Nam về quyết định
hình phạt tù đối với người dưới 18 tuổ i; tìm ra những hạn chế, vướng mắc
trong thực tiễn áp dụng, trên cơ sở đó đưa ra được những căn cứ khoa học
nhằm tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật hình sự ở nước ta. Do đó, việc
nghiên cứu đề tài “Quyết định hình phạt tù có thời hạn đối với người dưới
18 tuổ i theo luật hình sự Việt Nam (trên cơ sở thực tiễn điạ bàn tỉnh Phú
Thọ)” là rất cấp thiết, có ý nghĩa lớn về lý luận và thực tiễn.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Quyế t đi ̣nh hin
̀ h pha ̣t tù áp dụng vớ i người dưới 18 tuổ i là một vấn đề
phức tạp. Trong khoa học pháp lý hình sự đã có nhiều công trình nghiên cứu
về quyế t đinh
̣ hình phạt tù nói chung và quyế t đinh
̣ hình phạt tù áp dụng vớ i
người dưới 18 tuổ i nói riêng. Các nghiên cứu này chủ yếu tập trung ở hai
dạng chính:
- Nhóm nghiên cứu thứ nhất là các luận văn thạc sỹ, luận án tiến sỹ, các
đề tài nghiên cứu khoa học và sách chuyên khảo liên quan đế n vấ n đề quyế t
đinh
̣ hin
̀ h pha ̣t tù đố i với người dưới 18 tuổ i. Nhóm này bao gồm các nghiên
cứu về xử lý hin
̀ h sự đố i với người chưa thành niên pha ̣m tô,̣i điể n hiǹ h như các
nghiên cứu của Trần Văn Dũng (2003), Trách nhiệm hình sự của người chưa
thành niên phạm tội trong luật hình sự Việt Nam, Luận văn thạc sĩ luật học,
Trường Đại học Luật Hà Nội; Lê Văn Cảm, Trịnh Quốc Toản (2007), Những

người dưới 18 tuổ i đươ ̣c đăng trên các ta ̣p chí chuyên ngành

, bao gồ m :

Nghiên cứu của Trịnh Đình Thể (1997), Một số ý kiến về áp dụng hình phạt tù
đối với người chưa thành niên phạm tội, Tạp chí Dân chủ và pháp luật, số
10/1997; Hoàng Thị Liên (2000), Trách nhiệm hình sự của người chưa thành
niên phạm tội, Tạp chí Kiểm sát, số 4/2000; Trần Văn Luyện (2000), Những
điểm mới về chính sách hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội, Tạp

3


chí Tòa án nhân dân, số 12/2000; Trần Văn Dũng (2000), Quyết định hình
phạt trong trường hợp người chưa thành niên phạm tội, Tạp chí Luật học, số
5/2000; Nguyễn Mai Bộ (2001), Một số ý kiến về chính sách hình sự đối với
người chưa thành niên phạm tội trong Bộ luật hình sự 1999, Tạp chí Nhà
nước và pháp luật, số 4/2001; Đinh Văn Quế (2001), Quyết định hình phạt đối
với người chưa thành niên phạm tội, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 5/2001;
Dương Tuyết Miên (2002), Quyết định hình phạt đối với người chưa thành
niên phạm tội, Tạp chí Luật học, số 4/2002; Trương Minh Mạnh (2002), Phân
loại tội phạm với việc quy định trách nhiệm hình sự của người chưa thành
niên, Tạp chí Kiểm sát, số 8/2002; Lê Văn Cảm, Đỗ Thị Phượng (2004), Tư
pháp hình sự đối với người chưa thành niên: Những khía cạnh pháp lý hình
sự, tố tụng hình sự, tội phạm học và so sánh luật học, Tạp chí Tòa án nhân
dân, số 20-10/2004; Đặng Thanh Sơn (2008), Pháp luật Việt Nam về tư pháp
người chưa thành niên, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 20 (136), tháng
12/2008; Đoàn Tấn Minh (2008), Bàn về phạm vi sử dụng thuật ngữ "người
chưa thành niên phạm tội", Tạp chí Tòa án nhân dân, số 9(5)/2008; Nguyễn
Minh Hải (2009), Về nguyên tắc quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn

phạt tù áp dụng đối với người dưới 18 tuổ i phạm tội, đồng thời đưa ra những
kiến nghị khả thi, tiến tới xây dựng một hệ thống các chính sách hình sự và
giải pháp nhất quán trong pháp luật và trong nhận thức về tội phạm là người
dưới 18 tuổ i.
4. Đối tượng nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là quyế t đinh
̣ hình phạt tù áp dụng đ ối
với người dưới 18 tuổ i trên cả hai phương diện là luật thực định và thực trạng
áp dụng hình phạt này.
5. Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Để đạt được mục đích nói trên luận văn tập trung nghiên cứu khái
niệm, mục đích, điều kiện áp dụng quyế t đinh
̣ hình phạt tù đối với người dưới
18 tuổ i theo quy định của pháp luật hình sự Việt Nam từ năm 1945 đến nay;
thực tiễn quyế t đinh
̣ hình phạt tù đối với người dưới 18 tuổ i thông qua số liệu
của các Tòa án và các Bản án của Tòa án trên điạ bàn tỉnh Phú Tho ̣ từ năm
2010 đến 2016. Từ đó nêu lên thực trạng áp dụng hình phạt này trong thực
tiễn và đưa ra giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật cũng như nhằm nâng cao
hiệu quả áp dụng hình phạt này trong thực tiễn.

5


6. Cơ sở phương pháp luận và các phương pháp nghiên cứu
Đề tài được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận chủ nghĩa duy vật
lịch sử và chủ nghĩa duy vật biện chứng mác-xít, tư tưởng Hồ Chí Minh về
Nhà nước và pháp luật, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về xây dựng Nhà
nước pháp quyền, về chính sách hình sự, về vấn đề cải cách tư pháp được thể
hiện trong các Nghị quyết Đại hội Đảng VIII, IX, X và các Nghị quyết số 08NQ/TW ngày 02/01/2002, Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 26/5/2005 về

của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấ n đề chung về quyế t đinh
̣ hình pha ̣t tù đố i với
người dưới 18 tuổ i.
Chương 2: Quy đinh
̣ của luâ ̣t hình sự Viê ̣t Nam về quyế t đinh
̣ hình pha ̣t
tù đối với người dưới 18 tuổ i và thực tiễn áp du ̣ng trên điạ bàn tỉnh Phú Tho.̣
Chương 3: Các giải pháp nâng cao hiệu quả quyết định hình phạt tù đố i
với người dưới 18 tuổ i.

7


Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUYẾT ĐINH
̣
HÌNH PHẠT TÙ ĐỐI VỚI NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI
1.1. Những khái niệm có liên quan
1.1.1. Khái niệm người dưới 18 tuổi
Tuổ i là mô ̣t hin
gian
̣ khoảng cách thơ
̀ i của mô ̣t sự vâ ̣t tiń h từ
̀ h thức xác đinh
lúc hình thành đến một thời điểm nhất định
. Trong khoa ho ̣c xã hô ̣i- nhân văn và
khoa ho ̣c pháp ly,́ tuổ i của con người đươ ̣c xác đinh
̣ từ ngày sinh đế n thời điể m
cầ n tính toán. Theo Đa ̣i từ điể n tiế ng Viê ̣t của Nguyễn Như Y,́ tuổ i là "thời gian

pháp luật

hình sự. Như đã phân tích ở trên, tùy theo mỗi quốc gia với những điều kiện
kinh tế, xã hội khác nhau mà pháp luật của quố c gia đó quy định độ tuổi cũng
như tên go ̣i của nhóm đố i tươ ̣ng chưa thành niên khác nhau.
Ở Việt Nam , người dưới 18 tuổi được gọi là người chưa thành niên
(NCTN) được các nhà làm luật sử dụng với tư cách vừa là đối tượng tác động
của tội phạm vừa là chủ thể thực hiện tội phạm. Với tư cách là chủ thể thực
hiện tội phạm, NCTNPT là khái niệm không những mang tính pháp lý mà còn
có ý nghĩa chính trị xã hội sâu sắc. Bộ luật hình sự năm 1999 quy định NCTN
là những người chưa đủ 18 tuổi, nhưng chỉ những NCTN từ đủ 14 tuổi đến
dưới 18 tuổi mới có thể phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi nguy hiểm
cho xã hội do mình thực hiện. Còn NCTN dưới 14 tuổi thì không phải chịu
trách nhiệm hình sự. Người từ đủ 14 tuổi trở lên nhưng chưa đủ 16 tuổi chỉ
phải chịu trách nhiệm hình sự về những tội rất nghiêm trọng do cố ý hoặc
phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, còn NCTN từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu
trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm (Điều 12 BLHS 1999).
Như vâ ̣y, có thể đưa ra khái niệm về người dưới 18 tuổi pha ̣m tô ̣i như
sau: “Người dưới 18 tuổi phạm tội là người từ đủ 14 tuổi nhưng chưa đủ 18
tuổi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mà BLHS quy định là tội phạm”.
1.1.3. Khái niệm quyết định hình phạt tù
Hình phạt là một phạm trù pháp lý và xã hội phức tạp, mang tính
khách quan, gắn liền với sự xuất hiện của nhà nước và pháp luật. Vì thế nó
được nghiên cứu trong nhiều lĩnh vực khoa học khác nhau như triết học,
thần học, giáo dục học, đạo đức học, tâm lý học, tội phạm học, khoa học
Luật hình sự [46, tr. 143-156].

10




là con người có thể giáo dục, cải tạo trở thành người có ích cho xã hội. Hình
phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc của Nhà nước, được luật quy định,
do Tòa án áp dụng đối với người bị kết án và được thể hiện ở việc tước bỏ
hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người đó nhằm giáo dục, cải tạo và phòng
ngừa tội phạm.
Hình phạt tù là loại hình phạt có lịch sử lâu đời và được quy định hầu
hết trong pháp luật hình sự của các nước trên thế giới, hình phạt tù được áp
dụng phổ biến và mang lại hiệu quả cao trong việc giáo dục, cải tạo người
phạm tội. Sự hạn chế tự do của người bị kết án tù có thời hạn là nội dung
pháp lý chủ yếu của loại hình phạt này, là hình phạt phổ biến nhất trong các
loại hình phạt của bất cứ quốc gia nào. Tù có thời hạn vẫn có ý nghĩa xã hội
trong điều kiện hiện nay ở nước ta, ý nghĩa đó thể hiện ở chỗ nó cho phép xã
hội cách ly những người có mức độ nguy hiểm lớn đối với xã hội, nó vừa đảm
bảo được giáo dục và phòng ngừa riêng lại vừa đảm bảo được giáo dục và
phòng ngừa chung [47, tr. 231-234].
Xét về mặt bản chất, tù có thời hạn là một hiện tượng có mâu thuẫn nội
tại của nó. Một mặt nó giữ người phạm tội không thể gây nguy hại cho đối
tượng mà luật hình sự bảo vệ nhưng lại gây ra yếu tố tiêu cực đối với người bị
kết án, mà xét trong hoàn cảnh bình thường, xã hội không hề muốn có đối với
công dân của mình. Nhà nước cần phải thấy trong người vi phạm pháp luật
một phần con người, một phần tế bào sống của Nhà nước, một thành viên của
công xã đang thực hiện bổn phận xã hội, một người chủ gia đình mà sự tồn tại
là thiêng liêng và cuối cùng, là điều cơ bản nhất, đó là một công dân của đất
nước [4, tr. 211]. Hình phạt tù là hình phạt tước quyền tự do của người bị kết
án, buộc họ phải cách ly cuộc sống bình thường của xã hội, sống trong một
môi trường riêng biệt có sự kiểm soát chặt chẽ của cơ quan nhà nước có thẩm
quyền. Hình phạt tù bao gồm hình phạt tù có thời hạn và tù chung thân.
Trong hai hin
̀ h thức hiǹ h pha ̣t tù (tù có thời hạn và tù chung thân ) thì

định của Bộ luật hình sự [12, tr. 317]. Theo Đinh Văn Quế (2001), “Quyết định
hình phạt là việc Tòa án lựa chọn hình phạt buộc người bị kết án phải chấp
hành. Tòa án lựa chọn loại hình phạt nào, mức hình phạt bao nhiêu phải tuân
thủ theo những quy định của Bộ luật hình sự” [35, tr. 5-9]. Dưới góc độ của
luật tố tụng hình sự, tác giả Chu Thị Trang Vân (2012) cho rằng:
Quyết định hình phạt là một giai đoạn rất quan trọng trong hoạt động xét
xử của Tòa án nhân dân, là việc Tòa án lựa chọn loại hình phạt và mức hình phạt
cụ thể được quy định trong luật hình sự tương ứng với cấu thành tội phạm cụ thể
để áp dụng với người phạm tội, thể hiện trong bản án buộc tội [52, tr. 60-67].
13


Tóm lại, phần lớn các tác giả hiê ̣n nay đều có chung quan điểm cho
rằ ng: QĐHP là việc Tòa án lựa chọn loại hình phạt cụ thể (bao gồm hình phạt
chính và có thể cả hình phạt bổ sung) với mức độ cụ thể trong phạm vi luật
định để áp dụng cho người phạm tội. Quyết định hình phạt là một trong
những giai đoạn và nội dung cơ bản, đóng vai trò quan trọng trong quá trình
áp dụng pháp luật hình sự và Tòa án là cơ quan có quyền QĐHP. Điều này
được quy định tại Điều 26 của Bộ luật hình sự: “Hình phạt được quy định
trong Bộ luật hình sự và do Tòa án quyết định”. Như vậy, hình phạt là biện
pháp cưỡng chế của Nhà nước do TAND nhân danh Nhà nước quyết định áp
dụng đối với người phạm tội, không một cơ quan khác nào ngoài Tòa án nhân
dân có quyền áp dụng hình phạt. Từ các định nghĩa khoa học pháp lý nêu trên,
tác giả luận văn cho rằng: Quyết định hình phạt là hoạt động của Tòa án lựa
chọn loại hình phạt và mức hình phạt cụ thể bao gồm hình phạt chính và hình
phạt bổ sung, trong phạm vi luật định để áp dụng đối với người phạm tội.
Từ những phân tích trên có thể đưa ra khái niệm: quyế t đinh
̣ hiǹ h p hạt
tù là một giai đoạn, một nội dung của viê ̣c áp dụng pháp luật hình sự thể hiện
ở việc Tòa án buộc người bị kết án phải chấp hành hình phạt tại trại giam, trại

và điều kiện phạm tội và những tình tiết khác của vụ án. Chỉ áp dụng hình
phạt tù đối với người dưới 18 tuổi khi nhận thấy nếu để họ ngoài xã hội thì
không có khả năng giáo dục họ trở thành người tốt cho xã hội.
Từ các khái niê ̣m ở trên , có thể thấy : "quyế t đi ̣nh hình phạt tù đối với
người dưới 18 tuổi là một giai đoạn, một nội dung của viê ̣c áp dụng pháp luật
hình sự thể hiện ở việc Tòa án buộc người người dưới 18 tuổi phải chấp hành
hình phạt tù tại trại giam, trại tạm giam trong Bản án buộc tội".
1.2. Quy định chung về quyết định hình phạt tù đối với người dưới
18 tuổi
1.2.1. Căn cứ quyết định hình phạt tù đối với người dưới 18 tuổi
Căn cứ quyết định hình phạt tù đối với người dưới 18 tuổi phải tuân thủ
những quy định về căn cứ quyết định hình phạt đối với người phạm tội nói chung,
nhưng có thể những tình tiết có liên quan đến người dưới 18 tuổi.

15


Để quyết định hình phạt đúng pháp luật, công bằng và hợp lý đối với
người phạm tội nói chung dù họ thực hiện một tội phạm hay thực hiện nhiều
tội phạm, khi áp dụng các chế tài luật hình sự , tòa án phải tuân theo những
căn cứ nhất định . Đây là những tư tưởng chỉ đạo, kim chỉ nam cho hoạt động
của tòa án khi chọn và quyết định loại và mức hình phạt đối với từng bị cáo
trong từng vụ án cụ thể, là tiền đề, là điều kiện cho việc giáo dục và cải tạo
người bị kết án được tốt, góp phần vào việc phòng ngừa riêng và phòng ngừa
chung. Các căn cứ quyết định hình phạt là một trong những nội dung quan
trọng của chế định quyết định hình phạt, việc nghiên cứu làm sáng tỏ các căn
cứ quyết định hình phạt tạo tiền đề thuận lợi để quyết định hình phạt đúng
pháp luật. Nếu nhận thức không đúng các căn cứ quyết định hình phạt sẽ dẫn
đến việc áp dụng không đúng các quy phạm pháp luật hình sự dẫn đến việc
quyết định hình phạt sai.

mặt chủ quan, các dấu hiệu đặc trưng cho chủ thể.
Mức độ nguy hiểm cho xã hội có thể khác nhau mă ̣c dù đươ ̣c thực hiê ̣n
bới những tội phạm giống nhau về tính chất nguy hiểm cho xã hội. Mức độ
nguy hiểm cho xã hội của tội phạm cũng được xác định bởi tổng thể các dấu
hiệu của cấu thành tội phạm và đó cũng là thuộc tính khách quan của tội phạm.
Nếu tính chất của tội phạm là đặc tính về chất, thì mức độ nguy hiểm của nó là
đặc tính về lượng của mỗi tội phạm cụ thể. Như vâ ̣y, hai khái niệm tính chất và
mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm không tách rời nhau, chúng tồn tại
cùng nhau, bổ sung cho nhau và xâm nhập vào nhau [42, tr. 30-31]. Do vâ ̣y,
khi quyết định hình phạt, tòa án phải chỉ ra trong bản án những tình tiết cụ thể
chứng minh tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm cụ thể
mà tòa án dựa vào đó và cùng với các tình tiết khác để chọn loại và mức hình
phạt cụ thể đối với bị cáo khi xác định tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã
hội của tội phạm cụ thể đã được thực hiện.
Các tình tiết khách quan ảnh hưởng rất lớn đến tính chất và mức độ
nguy hiểm cho xã hội của tội phạm đã thực hiện và do đó ảnh hưởng đến việc

17



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status