Hình phạt tù có thời hạn và công tác tái hòa nhập đối với người mãn hạn tù ở nước ta (trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn địa bàn tỉnh phú thọ) - Pdf 42

I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT

TIN DNG

Hình phạt tù có thời hạn và công tác tái hòa nhập đối với
ng-ời mãn hạn tù ở n-ớc ta
(trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn địa bàn tỉnh phú thọ)

LUN VN THC S LUT HC

H NI - 2015


I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT

TIN DNG

Hình phạt tù có thời hạn và công tác tái hòa nhập đối với
ng-ời mãn hạn tù ở n-ớc ta
(trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn địa bàn tỉnh phú thọ)
Chuyờn ngnh : Lut hỡnh s v t tng hỡnh s
Mó s

: 60 38 01 04

LUN VN THC S LUT HC

Ngi hng dn khoa hc: PGS.TS Trnh Quc Ton


1.2.2. Ý nghĩa của công tác tái hòa nhập đối với người mãn hạn tù .......... 32
1.2.3. Những nội dung cơ bản của tái hòa nhập cho người mãn hạn tù ...... 35
1.3. Hình phạt tù có thời hạn và tái hòa nhập đối với người mãn hạn tù ở
một số nước trên thế giới .............................................................................. 41
1.3.1. Hình phạt tù có thời hạn trong luật hình sự một số nước trên thế giới ... 41
1.3.2. Công tác tái hòa nhập đối với người mãn hạn tù ở một số nước trên
thế giới ............................................................................................................ 44
Chương 2: THỰC TRẠNG ÁP DỤNG HÌNH PHẠT TÙ CÓ THỜI HẠN
VÀ CÔNG TÁC TÁI HÕA NHẬP ĐỐI VỚI NGƯỜI MÃN HẠN TÙ
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH PHÖ THỌ ............................................................. 51
2.1. Thực trạng áp dụng hình phạt tù có thời hạn trên địa bàn tỉnh Phú Thọ ..... 51
2.1.1. Những kết quả đạt được ...................................................................... 51


2.1. Số vụ án hình sự đưa ra xét xử của các Tòa án nhân dân trên địa bàn
tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2009-2013 ............................................................... 52
2.2. Thực trạng áp dụng hình phạt tù có thời hạn tại tỉnh Phú Thọ trong
giai đoạn 2009 - 2013 (không tính số bị tuyên án treo) .............................. 53
2.3. Số bị cáo và mức hình phạt tù có thời hạn Tòa án đã áp dụng trong
giai đoạn 2009 - 2013 ..................................................................................... 54
2.1.2. Một số tồn tại, hạn chế và các nguyên nhân cơ bản .......................... 55
2.2. Thực trạng tái hòa nhập đối với người mãn hạn tù trên địa bàn tỉnh
Phú Thọ .......................................................................................................... 57
2.2.1. Những kết quả đạt được ...................................................................... 57
2.2.2. Một số tồn tại, hạn chế và các nguyên nhân cơ bản ........................ 62
Chương 3: QUAN ĐIỂM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NHỮNG
GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG HÌNH PHẠT TÙ CÓ
THỜI HẠN VÀ CÔNG TÁC TÁI HÕA NHẬP XÃ HỘI ĐỐI VỚI
NGƯỜI MÃN HẠN TÙ ................................................................................ 68
3.1. Sự cần thiết của việc hoàn thiện quy định của Bộ luật hình sự Việt

XHCN

: Xã hội chủ nghĩa

TNHS

: Trách nhiệm hình sự


DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu bảng

Tên bảng

Trang

2.1

Số vụ án hình sự đưa ra xét xử của các Tòa án

52

nhân dân trên địa bàn tỉnh Phú Thọ giai đoạn
2009-2013
2.2

Thực trạng áp dụng hình phạt tù có thời hạn tại

53


mang tính xã hội và tính thời sự. Hình phạt tù là hình phạt cách ly người
phạm tội ra khỏi xã hội đưa họ vào môi trường trại giam để quản lý và giáo
dục tập trung theo quy định của pháp luật. Sau khi ra tù trở về với cuộc sống
đời thường liệu người tù tha có thực sự hòa nhập được với gia đình, với cộng
đồng, ổn định được cuộc sống và trở thành người công dân có ích cho xã hội
hay không? Đây là vấn đề không chỉ của bản thân đối tượng được tù tha trở
1


về, của gia đình họ mà nó còn là vấn đề nhà nước và xã hội cùng quan tâm.
Đây là giai đoạn sau của thi hành án phạt tù, kết quả của nó sẽ đánh gia hiệu
quả thực sự của quá trình người phạm tội đã được giáo dục, cải tạo trong trại
giam. Bản thân người đã chấp hành xong hình phạt tù trở về với tư cách là
một thành viên của cộng đồng, họ được khôi phục các quyền và nghĩa vụ
công dân, họ rất cần sự giúp đỡ của người thân, gia đình và xã hội để họ có cơ
hội làm lại cuộc đời.
Trong thời gian qua, Đảng và Nhà nước, các cấp chính quyền, các cơ
quan chức năng, cộng đồng xã hội và gia đình rất quan tâm tới công tác giáo
dục cải tạo, tạo mọi điều kiện giúp cho quá trình hoàn lương của người mãn
hạn tù nhằm mục đích đưa họ về cuộc sống cộng đồng và trở thành một con
người tiến bộ. Nhưng trên thực tế vấn đề này chưa được quan tâm thực sự. Vì
người chấp hành xong hình phạt tù có thời hạn không còn bị sự ràng buộc
pháp lý nữa trừ việc xóa án tích hay chấp hành hình phạt bổ sung. Nhiều
người quan niệm ra tù là hết trách nhiệm với Nhà nước và Nhà nước cũng hết
trách nhiệm. Nên nhiều khi vấn đề tái hòa nhập cộng đồng cũng chỉ là vấn đề
của bản thân người ra tù.
Tỉnh Phú Thọ là tỉnh có dân số đông, có địa bàn rộng và tương đối
phức tạp. Hàng năm số lượng án hình sự thuộc loại cao của cả nước. Trong đó
số lượng người phạm tội bị tuyên án tù có thời hạn chiếm một tỉ lệ chủ yếu.
Số lượng người mãn hạn tù trở về địa phương hàng năm cũng rất đông. Trên

trong khoa học luật hình sự (Phần chung) của tác giả Lê Văn Cảm (2005),
Sách chuyên khảo Sau đại học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội; Hình phạt
bổ sung trong luật hình sự Việt Nam của tác giả Trịnh Quốc Toản, sách chuyên
khảo, nhà xuất bản Chính trị quốc gia – sự thật, 2011; Giáo dục, giúp đỡ người tù
tha tái hoà nhập cộng đồng ở Việt Nam, của tác giả Nguyễn Quốc Nhật, Phạm
Trung Hoà đồng chủ biên (2001), Nxb Công an nhân dân, Hà Nội;
3


Về luận văn, luận án: Việc nghiên cứu về vấn đề hình phạt tù có thời
hạn cũng như tái hòa nhập cộng đồng đối với người mãn hạn tù trong thời
gian qua đã có nhiều công trình nghiên cứu có thể kể đến như: Luận án tiến sỹ
luật học: Các hình phạt chính trong luật hình sự Việt Nam của tác giả Nguyễn
Sơn, Viện Nhà nước và pháp luật, Hà Nội, 2002; Luận văn thạc sỹ luật học,
Hà Nội : Hình phạt tù trong luật hình sự Việt Nam, Những vấn đề lý luận và
thực tiễn của tác giả Đào Tú Hoa; luận văn thạc sỹ luật học, Khoa Luật –
ĐHQGHN, Hà Nội 2001: Hình phạt tù và thi hành hình phạt tù những vấn đề
lý luận và thực tiễn của tác giả Trần Thị Thu Hằng, khóa luận tốt nghiệp Đại
học Quốc gia Hà Nội; Luận văn thạc sỹ luật học, Hà Nội 2002: Hình phạt tù
có thời hạn áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội theo luật hình sự
Việt Nam của tác giả Nguyễn Thị Thu Huyền, Luận văn Khoa Luật, Hà Nội
2002;... Tác giả Vũ Văn Hòa với Luận án tiến sỹ: Tổ chức tái hòa nhập cộng
đồng cho người chấp hành xong án phạt tù theo chức năng của lực lượng cảnh
sát nhân dân trong phòng ngừa tội phạm ở Việt Nam, Đại học Luật, năm 2013...
Về các đề tài nghiên cứu khoa học: Nghiên cứu về tái hòa nhập đối với
người mãn hạn tù có thể đến một số công trình nghiên cứu như sau: Viện
Khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp với Dự án điều tra cơ bản “Thực trạng tổ
chức và hoạt động thi hành án dân sự, thi hành án hình sự” năm 2010; Viện
Nhà nước và pháp luật với Hội thảo khoa học “Pháp luật và thực tiễn về tái
hòa nhập xã hội đối với người mãn hạn tù ở Việt Nam và Na Uy” năm 2009;

Ngoài ra, thông qua đó luận văn còn đề xuất một số biện pháp, kiến
nghị góp phần nâng cao hiệu quả giáo dục đối tượng tù tha, giúp họ có được
nhận thức đúng đắn nhất và trở thành những người có ích khi trở về tái hòa
nhập cộng đồng.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được các mục đích nói trên, tác giả luận văn đã đặt ra và giải
quyết các nhiệm vụ sau:
5


Bằng cách tiếp cận tổng thể từ cái chung đến cái cụ thể, đi từ lý luận đến
đánh giá thực tiễn xét xử, tác giả làm rõ khái niệm, mục đích của hình phạt tù
có thời hạn, vai trò, ý nghĩa, bản chất pháp lý của hình phạt tù có thời hạn.
Làm rõ vấn đề lý luận về hình phạt tù có thời hạn như: khái niệm, các
điều kiện, trình tự thủ tục của hình phạt tù có thời hạn.
- Đánh giá thực trạng áp dụng hình phạt tù có thời hạn nhằm làm rõ
những ưu điểm, hạn chế và những nguyên nhân của nó.
- Trên cơ sở các quan điểm của Đảng và Nhà nước về hình phạt tù có
thời hạn, luận văn đề xuất các giải pháp, kiến nghị nhằm góp phần nâng cao
hiệu quả áp dụng hình phạt tù có thời hạn.
- Làm rõ những vấn đề lý luận chung nhất về tái hòa nhập đối với
người mãn hạn tù. Tìm hiểu nhận thức của những người sau khi chấp hành
xong hình phạt tù về quá trình tái hòa nhập cộng đồng.
- Nhận thức về nhu cầu tái hòa nhập cộng đồng của các đối tượng mãn
hạn tù trên cơ sở các chính sách đãi ngộ của Nhà nước ta hiện nay.
- Nhận thức của các đối tượng mãn hạn tù về định kiến xã hội, gia đình,
bạn bè khi trở về cải tạo tại địa phương.
- Qua nghiên cứu đề xuất những giải pháp góp phần đảm bảo công tác
tái hòa nhập cộng đồng cho các đối tượng mãn hạn tù ở nước ta được thực
hiện tốt nhất theo đúng chính sách hình sự của Nhà nước ta trong giai đoạn

hai vấn đề là hình phạt tù có thời hạn và công tác tái hòa nhập xã hội đối với
người mãn hạn tù ở nước ta, mà trong đó giải quyết nhiều vấn đề quan trọng
về lý luận và thực tiễn liên quan tới hình phạt tù có thời hạn và tái hòa nhập
xã hội đối với người mãn hạn tù. Những điểm mới cơ bản của luận văn là:
- Tổng hợp các quan điểm khoa học về hình phạt tù có thời hạn, mục
đích hình phạt, ý nghĩa của công tác tái hòa nhập xã hội đối với người mãn
hạn tù cũng như thực tiễn áp dụng hình phạt tù có thời hạn ở một số nước trên
thế giới.
7


- Nghiên cứu đánh giá làm sáng tỏ bức tranh về tình hình áp dụng hình
phạt tù có thời hạn và công tác tái hòa nhập xã hội của người mãn hạn tù trên
địa bàn tỉnh Phú Thọ, từ đó khái quát trên phạm vi cả nước; những tồn tại,
hạn chế của công tác này cũng như những nguyên nhân cơ bản của các tồn tại,
hạn chế đó.
- Trên cơ sở kết quả nghiên cứu lý luận và thực tiễn, luận văn đã đề
xuất các định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật thực định và nâng cao
hiệu quả áp dụng hình phạt tù có thời hạn và công tác tái hòa nhập xã hội đối
với người mãn hạn tù trong giai đoạn xây dựng nhà nước pháp quyền và cải
cách tư pháp hiện nay.
Về mặt lý luận: Luận văn là công trình nghiên cứu đề cập đến một cách
tương đối hệ thống và toàn diện về những vấn đề lý luận và thực tiễn về hình
phạt tù có thời hạn và tái hòa nhập đối với người mãn hạn tù ở cấp độ luận
văn thạc sỹ luật học với những đóng góp về khoa học đã nêu trên.
Về mặt thực tiễn: Luận văn rút ra một số kết luận mang tính khoa học
góp phần xác định đúng đắn thực tiễn áp dụng hình phạt tù. Cụ thể, luận văn
hoàn thiện là tài liệu tham khảo có giá trị trong việc xây dựng và hoàn thiện
pháp luật, luận văn cũng là tài liệu tham khảo cần thiết và bổ ích cho các nhà
lập pháp, nhà nghiên cứu, cán bộ giảng dạy và người học chuyên ngành luật.

khác nhau về hình phạt song cơ bản được phân thành hai quan niệm chính:
Loại quan niệm thứ nhất: Coi hình phạt là công cụ trả thù người phạm tội,
theo đó hình phạt là những biện pháp hà khắc, phổ biến mang tính nhục hình, đầy
đọa gây đau đớn về thể xác, chà đạp lên phẩm giá con người [18, tr.25].
Tương ứng với quan điểm này là các hình phạt hà khắc như: Tùng xẻo,
lăng trì, phanh thây, chém bêu đầu... các hình phạt này phổ biến trong hình luật
của các Nhà nước chiếm hữu nô lệ, phong kiến và các nhà nước theo đạo Hồi...
Loại quan niệm thứ hai: Coi hình phạt là công cụ đấu tranh phòng và
chống tội phạm. Theo quan niệm này hình phạt chủ yếu nhằm mục đích cải
9


tạo, giáo dục người phạm tội trở thành người lương thiện, có ích cho xã hội,
phòng ngừa sự phạm tội lại và phòng ngừa người khác phạm tội. Các hình
phạt áp dụng đối với người phạm tội không gây đau đớn về thể xác, không
chà đạp lên nhân phẩm con người [6, tr,12].
Đây là quan điểm dân chủ, tiến bộ mang tính nhân đạo sâu sắc và có
tính xu thế tất yếu của thời đại, phổ biến trong luật hình sự của nước dân chủ.
Quan niệm này về hình phạt thể hiện rõ nét phương châm kết hợp cưỡng chế
với giáo dục và cải tạo trong chính sách hình sự. Cưỡng chế là không thể
thiếu nhưng giáo dục thuyết phục có vai trò rất quan trọng, nó có ưu thế hơn
cưỡng chế ở khả năng làm cho con người có thể tự nguyện tuân theo và như
vậy trên cơ sở của sự tự giác, sự đồng tình đó mới thực sự bền vững. Theo
quan điểm này, mục đích cuối cùng được đặt ra là hạn chế và đi đến triệt tiêu
các nguyên nhân, điều kiện của tình hình tội phạm, tiến tới loại bỏ tội phạm ra
khỏi đời sống xã hội.
Các quan niệm về hình phạt cơ bản được hình thành trên cơ sở quan
niệm về tội phạm. Quan niệm về tội phạm như thế nào thì sẽ có quan niệm
tương ứng như thế về hình phạt. Nếu coi tội phạm là hiện tượng xã hội tiêu
cực có tính lịch sử và mang bản chất giai cấp sâu sắc thì hình phạt nó mang

phạm một tội có mức tối thiểu là ba tháng, mức tối đa là hai mươi năm.
Thời gian tạm giữ, tạm giam được trừ vào thời hạn chấp hành hình
phạt tù, cứ mỗi ngày tạm giữ, tạm giam bằng một ngày tù [22]
Như vậy, hình phạt tù có thời hạn buộc người bị kết án phải cách ly
khỏi xã hội, khỏi môi trường sống hoạt động bình thường trong một khoảng
thời gian nhất định, họ phải chấp hành hình phạt tại các trại giam của Nhà
nước, với những quy chế nghiêm ngặt, đồng thời trong thời gian này họ bị
tước một số quyền tự do cơ bản như: tự do đi lại, tự do kinh doanh, quyền
bầu cử, quyền ứng cử... Họ phải chịu sự giám sát chặt chẽ của cán bộ trại
giam, phải học tập, lao động theo quy định của pháp luật.
11


Theo Điều 3 của Luật Thi hành án hình sự năm 2010 đã quy định: "Thi
hành án phạt tù là việc cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định của Luật
này buộc phạm nhân phải chịu sự quản lý giam giữ, giáo dục, cải tạo để họ trở
thành người có ích cho xã hội". Như vậy, nội dung hình phạt tù có thời hạn
(Điều 33 BLHS năm 1999) chưa quy định rõ chế độ giam giữ, giáo dục, cải
tạo đối với người bị kết án song Luật Thi hành án hình sự đã cụ thể hóa các
nội dung này.
So với các hình phạt như: cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ
thì hình phạt tù có thời hạn có nội dung pháp lý nghiêm khắc hơn nhiều bởi
các hình phạt cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ không tước quyền tự
do của người bị kết án, trong khi đó tù có thời hạn là hình phạt tước quyền tự
do của người bị kết án trong một thời gian nhất định.
"Thời hạn" của hình phạt tù có thời hạn là cơ sở để phân biệt hình phạt
này với hình phạt tù chung thân. Tù chung thân là hình phạt tước quyền tự do
của người bị kết án không có thời hạn. Trong các hình phạt chính xét về mức
độ nghiêm khắc thì hình phạt tù có thời hạn đứng trước các hình phạt không
tước tự do và đứng sau hình phạt tù chung thân và tử hình.

mức tối thiểu của khung hình phạt nhưng không được dưới ba tháng tù.
Người bị kết án Tòa án áp dụng hình phạt tù có thời hạn nếu trước đó họ
đã bị tạm giữ, tạm giam thì thời gian tạm giam, tạm giữ sẽ được trừ vào thời
hạn chấp hành hình phạt tù, cứ một ngày tạm giữ, tạm giam bằng một ngày tù.
Thực tiễn thi hành án phạt tù cho thấy việc cách li và hạn chế sự tự do
đối với người bị kết án đã làm cho các chức năng xã hội bình thường của một
con người bị tê liệt, các thói quen xã hội có ích như học tập, quan hệ gia đình,
xã hội và bạn bè... bị ảnh hưởng. Và chính điều đó gây trở ngại cho người bị
kết án khi thi hành án xong khôi phục lại các quan hệ xã hội bình thường đó.
Chính vì vậy mà lý luận luật hình sự các nước XHCN cũng như thực tiễn đấu
tranh phòng chống tội phạm ở nước ta đã đi đến một khẳng định rằng: trong
những trường hợp, khi mà mục đích của hình phạt vẫn có thể đạt được mà
13


không cần đến việc phải cách ly người phạm tội ra khỏi môi trường sống bình
thường của xã hội thì cần áp dụng các hình phạt không phải hình phạt tù.
Trong BLHS nước ta quy tắc đó được thể hiện bằng việc đưa ra các quy tắc ở
phần chung, cho phép Tòa án có thể chuyển sang một hình phạt khác thuộc
loại nhẹ hơn (Điều 47) hoặc quy định chế tài lựa chọn ở phần các tội phạm
của BLHS, trong đó bên cạnh hình phạt tù có thời hạn còn quy định các hình
phạt khác không phải là hình phạt tù.
Các đặc điểm cơ bản của hình phạt tù có thời hạn là một hình phạt chính
nằm trong hệ thống hình phạt được quy định trong BLHS nước ta, do đó hình
phạt tù có thời hạn mang đầy đủ các nội dung cơ bản của hình phạt đó là:
Hình phạt tù có thời hạn là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của
Nhà nước. Cũng như các loại hình phạt khác trong hệ thống hình phạt của luật
hình sự Việt Nam, hình phạt tù có thời hạn là biện pháp cưỡng chế nghiêm
khắc nhất trong hệ thống các biện pháp cưỡng chế của Nhà nước và được Nhà
nước sử dụng như là một công cụ sắc bén trong cuộc đấu tranh phòng ngừa và

danh Nhà nước quyết định áp dụng hình phạt này đối với người phạm tội.
Điều 127 Hiến pháp năm 1992 quy định: "Tòa án nhân dân tối cáo, các Tòa
án nhân dân địa phương, các Tòa án quân sự và các Tòa án khác do luật định
là những cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam"[18].
Ngoài Tòa án không cơ quan nào có quyền quyết định hình phạt.
Hình phạt tù có thời hạn chỉ có thể áp dụng đối với người phạm tội.
Một trong những nguyên tắc cơ bản của luật hình sự nước ta là trách nhiệm
hình sự chỉ đặt ra đối với cá nhân người phạm tội. Do vậy, hình phạt chỉ có
thể áp dụng đối với người đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị coi là
tội phạm. Dựa trên nguyên tắc này, có thể khẳng định hình phạt tù có thời hạn
không thể áp dụng đối với những người khác trong gia đình hay người thân
thích của họ ngay cả khi họ tự nguyện chịu hình phạt thay. Xuất phát từ
nguyên tắc một người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị coi là tội
15


phạm phải chịu hình phạt và hình phạt chỉ áp dụng đối với người bị coi là tội
phạm. C. Mác đã viết: "Dưới con mắt của kẻ phạm tội, sự trừng phạt phải là
kết quả tất yếu của hành vi của chính người đó, do đó phải là hành vi của
chính người đó" [4, tr.181].
Pháp luật hình sự nước ta không thừa nhận cơ quan, tổ chức có thể trở
thành chủ thể của tội phạm và phải chịu hình phạt. Điều này khác với luật
hình sự của một số nước trên thế giới coi pháp nhân, tổ chức có thể trở thành
chủ thể của tội phạm và phải chịu hình phạt như Trung Quốc, Cộng hòa
Pháp... Hình phạt tù chỉ có thể được áp dụng đối với người có hành vi phạm
tội và chỉ có như vậy mới đạt được mục đích của hình phạt là nhằm cải tạo
người phạm tội trở thành người công dân có ích cho xã hội, có ý thức tuân thủ
pháp luật và các quy tắc khác của cuộc sống, ngăn ngừa họ phạm tội mới.
Hình phạt tù có thời hạn có mức tối thiểu là ba tháng và mức tối đa là
ba mươi năm. Đặc điểm này để phân biệt hình phạt tù có thời hạn với hình phạt

Trong trường hợp phạm nhiều tội, phải tổng hợp hình phạt của nhiều
bản án thì mức hình phạt chung không được vượt quá ba mươi năm tù. Đây là
điểm mới của BLHS năm 1999 so với BLHS năm 1985. Như vậy, theo các
quy định của BLHS năm 1999 chúng ta có thể thấy rằng mức tối đa của hình
phạt tù có thời hạn đối với người phạm một tội là hai mươi năm, trong trường
hợp phạm nhiều tội hay tổng hợp hình phạt của nhiều bản án thì mức tối đa
của hình phạt tù có thời hạn có thể là ba mươi năm.
Khoảng cách giữa mức tối thiểu và tối đa của hình phạt tù có thời hạn trong
một khung hình phạt. Khi nghiên cứu BLHS năm 1999 có thể thấy rằng: Một điều
luật quy định tội danh có thể có một khung hình phạt hoặc có thể có nhiều khung
hình phạt tùy thuộc vào tính chất mức độ nguy hiểm của mỗi tội phạm.
Trong một khung hình phạt, có thể chỉ có một loại hình phạt tù có thời
hạn quy định độc lập. Nhưng cũng có thể có nhiều loại hình phạt khác nhau
với mức độ nghiêm trọng khác nhau cho phép khi áp dụng Tòa án có thể lựa
17



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status