Hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội (trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh nam định) - Pdf 44

I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT

TRN TH HNH

HìNH PHạT ĐốI VớI NGƯờI ch-a THàNH NIÊN PHạM TộI
(trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh Nam Định)

LUN VN THC S LUT HC

H NI - 2016


I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT

TRN TH HNH

HìNH PHạT ĐốI VớI NGƯờI ch-a THàNH NIÊN PHạM TộI
(trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh Nam Định)
Chuyờn ngnh: Lut hỡnh s v T tng hỡnh s
Mó s: 60 38 01 04

LUN VN THC S LUT HC

Cỏn b hng dn khoa hc: PGS.TS NGUYN NGC CH

H NI - 2016


LỜI CAM ĐOAN

1.2.1. Đặc điểm của hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội
trong luật hình sự.................................................................................17
1.2.2. Vai trò, ý nghĩa của việc quy định hình phạt đối với người chưa
thành niên phạm tội trong luật hình sự................................................23
1.3.
Hình phạt áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội
trong luật hình sự một số nước trên thế giới ..................................27
1.3.1. Hình phạt áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội trong
luật hình sự Trung Quốc ......................................................................28
1.3.2. Hình phạt áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội trong
luật hình sự Thái Lan...........................................................................29
1.3.3. Trong pháp luật hình sự Nhật Bản ......................................................31
1.3.4. Pháp luật Cộng hòa Pháp về hình phạt đối với người chưa thành
niên phạm tội .......................................................................................32
1.3.5. Trong pháp luật hình sự Hoa Kỳ .........................................................34
Chương 2: PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG HÌNH PHẠT
ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI .................36
2.1.
Quy định của pháp luật Việt Nam về hình phạt đối với người
chưa thành niên phạm tội .................................................................36


2.1.1. Quy định của pháp luật về hình phạt đối với người chưa thành
niên phạm tội trước năm 1999 ............................................................36
2.1.2. Qui định về hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội
theo pháp luật hình sự hiện hành.........................................................48
2.1.3. Quy định của Bộ luật hình sự năm 2015 về hình phạt đối với
người chưa thành niên phạm tội ..........................................................63
2.2.
Thực tiễn áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên

phạm tội cần đảm bảo sự kế thừa các giá trị pháp luật truyền
thống của dân tộc.................................................................................86
3.1.5. Và cuối cùng, việc hoàn thiện quy định pháp luật và các giải
pháp nâng cao hiệu quả việc áp dụng hình phạt đối với người
chưa thành niên phạm tội cần được tiến hành một cách đồng bộ
với việc cải cách hệ thống tư pháp hình sự, đổi mới pháp luật tố
tụng hình sự và pháp luật thi hành án hình sự nước ta........................87
3.2.

Hoàn thiện pháp luật hình sự về hình phạt đối với người
chưa thành niên phạm tội .................................................................88

3.2.1. Vấn đề trách nhiệm hình sự của người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi ....89
3.2.2. Về nguyên tắc xử lý đối với người chưa thành niên phạm tội ............90
3.2.3. Hoàn thiện quy định về các chế tài áp dụng đối với người chưa
thành niên phạm tội .............................................................................90
3.2.4. Sửa đổi quy định về tổng hợp hình phạt trong trường hợp phạm
nhiều tội ...............................................................................................91
3.2.5.

Bổ sung quy định về quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị
phạm tội, phạm tội chưa đạt; Tổng hợp hình phạt của nhiều bản án........93

3.2.6. Một số nội dung cần bổ sung để hoàn thiện pháp luật hình sự về
hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội .............................95
3.3.

Các giải pháp nâng cao hiệu quả việc áp dụng hình phạt đối
với người chưa thành niên phạm tội ...............................................99


69

Biểu đồ 2.2. Nguyên nhân phạm tội vị thành niên

75


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Quyết định hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội là giai
đoạn cuối cùng, quan trọng trong các thủ tục tố tụng áp dụng đối với người
chưa thành niên phạm tội. Vì đây là giai đoạn quyết định người chưa thành
niên sẽ bị áp dụng hình phạt nào đối với tội phạm do mình thực hiện. Luật
hình sự Việt Nam đã quy định hình phạt áp dụng đối với người chưa thành
niên phạm tội, phân hóa trách nhiệm hình sự, cá thể hóa hình phạt, đặc biệt là
thể hiện được chính sách nhân đạo đối với người chưa thành niên tạo hành
lang pháp lý đảm bảo cho quá trình phát hiện nhanh chóng, chính xác, xử lý
nghiêm minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, không cho người phạm tội tiếp
tục thực hiện tội phạm, trốn tránh pháp luật, cản trở đến quá trình điều tra,
truy tố, xét xử và thi hành án hình sự.
Thực tiễn áp dụng bên cạnh ưu điểm trong việc cụ thể hóa chính sách
hình sự nhân đạo của Đảng và Nhà nước trong đường lối xử lý người chưa
thành niên phạm tội để có thể răn đe, cảm hóa, giáo dục họ trở thành những
công dân tốt cho xã hội thì còn có hạn chế: việc luật không quy định cụ thể
các tội mà người chưa thành niên phạm phải sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự,
quyết định hình phạt trong trường hợp người chưa thành niên phạm nhiều tội
dẫn đến việc áp dụng không thống nhất ở mỗi địa phương, thậm chí áp dụng
tùy tiện các quy định này. Tồn tại thực trạng đó do nhiều nguyên nhân: trong
đó nguyên nhân khách quan là pháp luật hình sự chưa có quy định cụ thể,
ngoài ra nguyên nhân chủ quan là do ý chí của các cơ quan tiến hành tố tụng

- Người chưa thành niên phạm tội - Các biện pháp hạn chế - Tác giả:
Bùi Thị Chinh Phương đăng trên tạp chí Dân chủ và pháp luật, năm 2015;
- Có nên tăng mức phạt tù đối với tội phạm chưa thành niên? Tác giả:
Thạc sĩ Trần Đức Thìn - Nguyên hiệu trưởng trường Đại học Luật Hà Nội
đăng trên báo điện tử vov.vn của Đài Tiếng nói Việt Nam;...

2


Các bài viết này mới chỉ khai thác được một số khía cạnh về tình hình
người chưa thành niên phạm tội, một số giải pháp trước thực trạng tội phạm
do người chưa thành niên thực hiện ngày càng nhiều trên phạm vi cả nước.
Còn những nghiên cứu có tính chất hệ thống, đầy đủ về lý luận và thực tiễn,
những nguyên nhân, phương hướng, giải pháp hoàn thiện về hình phạt đối với
người chưa thành niên phạm tội, biện pháp nhằm giảm thiểu tình trạng người
chưa thành niên phạm tội trên cả nước nói chung cũng như trên địa bàn tỉnh
Nam Định nói riêng chưa được tác giả nào quan tâm nghiên cứu. Điều đó cho
thấy yêu cầu nghiên cứu cả về lý luận và thực tiễn nhằm hoàn thiện các quy
định của pháp luật hình sự có liên quan đến hình phạt đối với người chưa thành
niên tại chương X “Những quy định đối với người chưa thành niên phạm tội”
Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) và chương XXXII
"Thủ tục tố tụng đối với người chưa thành niên" BLTTHS năm 2003 cũng
như các văn bản dưới luật hướng dẫn thi hành là hoàn toàn có giá trị khoa học
và rất thiết thực. Làm được điều này sẽ góp phần nâng cao chất lượng hoạt động
quyết định hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội. Qua đó đáp ứng
mục tiêu nâng cao hiệu lực, hiệu quả của công tác xét xử vụ án hình sự mà Nghị
quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược Cải cách
tư pháp đến năm 2020 đề ra. Đặc biệt phù hợp với tinh thần Luật bảo vệ và
chăm sóc, giáo dục trẻ em cũng như tinh thần Công ước quốc tế về quyền trẻ em
mà Việt Nam là một trong những quốc gia phê chuẩn sớm nhất (Công ước được

niên phạm tội, đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng hình
phạt đối với người chưa thành niên phạm tội.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu những vấn đề lý
luận và thực tiễn dưới góc độ khoa học pháp lý nhằm hoàn thiện việc áp dụng
hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội trên địa bàn tỉnh Nam Định
nói riêng so với cả nước.

4


* Phạm vi nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu tình hình người chưa
thành niên phạm tội và việc áp dụng hình phạt pháp đối với người chưa thành
niên phạm tội trên địa bàn tỉnh Nam Định trong thời gian 5 năm gần đây nhất.
Trên cơ sở đó đề xuất những giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao
hiệu quả việc áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
* Phương pháp luận: Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp
luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh cũng như quan
điểm của Đảng và Nhà nước ta về công tác đấu tranh phòng chống tội phạm
và các tội phạm do người chưa thành niên thực hiện cùng với chính sách hình
sự của Nhà nước đối với người chưa thành niên phạm tội. Đồng thời, trên cơ
sở những thành tựu đạt được của các khoa học như Luật quốc tế, Luật hình sự,
Luật tố tụng hình sự, Xã hội học,...
* Phương pháp nghiên cứu: Quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả đã kết
hợp nhiều phương pháp: phân tích, so sánh, tổng hợp, khảo sát thực tế, tham
khảo ý kiến của các cán bộ làm công tác nghiên cứu, đồng nghiệp hoạt động
thực tiễn, tham khảo các tài liệu về tố tụng hình sự của một số nước trên thế
giới để đánh giá, so sánh việc áp dụng hình phạt đối với người chưa thành
niên phạm tội.

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về hình phạt đối với người chưa thành
niên phạm tội.
Chương 2: Qui định của pháp luật và thực tiễn áp dụng hình phạt đối
với người chưa thành niên phạm tội.
Chương 3: Hoàn thiện pháp luật và các giải pháp nâng cao hiệu quả
việc áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội.

6


Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HÌNH PHẠT ĐỐI VỚI
NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI
1.1. Khái niệm hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội
Để có thể đưa ra được khái niệm hình phạt đối với người chưa thành
niên phạm tội chúng ta cần xuất phát từ khái niệm hình phạt cũng như khái
niệm người chưa thành niên phạm tội:
1.1.1. Khái niệm, mục đích, đặc điểm của hình phạt
1.1.1.1. Khái niệm hình phạt
Hình phạt theo Các Mác không phải là một cái gì khác ngoài phương
tiện tự vệ của xã hội chống lại sự vi phạm các điều kiện tồn tại của nó. Với
tính cách là hình thức phổ biến và chủ yếu nhất của trách nhiệm hình sự hình
phạt luôn hàm chứa yếu tố trừng trị và luôn động chạm trực tiếp đến quyền và
lợi ích của người phạm tội. Mặt khác nhìn từ yêu cầu phòng ngừa tội phạm,
hình phạt phải hàm chứa cả yếu tố giáo dục người phạm tội. Theo đó, trong
phạm vi luận văn này người viết chỉ đề cập đến hình phạt với tính cách là
hình thức phổ biến và chủ yếu nhất của trách nhiệm hình sự, được quy định
trong pháp luật hình sự cũng như pháp luật tố tụng hình sự chứ không với tư
cách là các biện pháp cưỡng chế đối với người vi phạm các quy phạm xã hội
hay các quy phạm pháp luật khác (luật hành chính, luật dân sự,...).

và được thể hiện ở việc tước đoạt hoặc hạn chế các quyền và lợi ích do pháp
luật quy định đối với người bị kết án (PGS.TS Võ Khánh Vinh) [3, tr. 673].
Trong pháp luật hình sự của Việt Nam từ sau cuộc Cách mạng tháng
Tám đến trước năm 1999 thì khái niệm hình phạt chưa được quy định trong
luật. Hình phạt được quy định lần đầu tiên tại Điều 26 Bộ luật hình sự năm
1999: “Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước
nhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người phạm tội. Hình phạt

8


được quy định trong Bộ luật Hình sự và do Tòa án quyết định”. Trước đó,
khái niệm về hình phạt chỉ được xem xét dưới góc độ khoa học. Nên việc ghi
nhận một khái niệm hình phạt, đối trọng lại với khái niệm về tội phạm (hai
đối tượng quan trọng nhất của Luật hình sự) là một tư duy tiến bộ trong công
tác lập pháp. Khái niệm về hình phạt được quy định tại Điều 26 Bộ luật hình
sự hiện hành đã nêu đầy đủ nội dung, bản chất của hình phạt. Bộ luật hình sự
năm 2015 được Quốc hội thông qua ngày 27/11/2015 tiếp tục ghi nhận khái
niệm về hình phạt tại Điều 30:
Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của nhà
nước được quy định trong Bộ luật này, do Tòa án quyết định áp
dụng đối với người hoặc pháp nhân thương mại phạm tội nhằm
tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích hợp pháp của người, pháp nhân
thương mại đó [28, Điều 30].
Trên cơ sở có tiếp thu những yếu tố cốt lõi trong khái niệm về hình phạt
được quy định tại Điều 26 Bộ luật hình sự năm 1999 với việc sắp xếp lại câu
từ cho hợp lý. Việc quy định thêm áp dụng hình phạt đối với cả pháp nhân
thương mại là một thay đổi lớn trong quan niệm về đối tượng áp dụng hình
phạt từ xưa đến nay vốn chỉ áp dụng đối với cá nhân.
1.1.1.2. Mục đích của hình phạt

nước mong muốn đạt được bằng việc áp dụng hình phạt do nhà làm luật quy
định trong pháp luật hình sự.
Còn về mặt nội dung, hình phạt có bốn mục đích sau: 1) Góp phần phục
hồi lại công lý - sự công bằng xã hội; 2) Cải tạo và giáo dục những người bị kết
án, đồng thời ngăn ngừa họ phạm tội mới; 3) Góp phần giáo dục các thành viên
khác trong xã hội ý thức tôn trọng, tuân thủ và chấp hành nghiêm chỉnh pháp
luật; 4) Hỗ trợ cho cuộc đấu tranh phòng và chống tội phạm.
1.1.1.3. Đặc điểm của hình phạt
Khoa học luật hình sự Việt Nam [3, tr.675] thừa nhận hình phạt có sáu
đặc điểm cơ bản sau:

10


Thứ nhất, hình phạt là biện pháp cưỡng chế về hình sự nghiêm khắc
nhất so với tất cả các biện pháp cưỡng chế về hình sự khác của Nhà nước mà
việc áp dụng nó đối với người bị kết án sẽ đưa đến hậu quả pháp lý là người
đó bị coi là có án tích;
Thứ hai, với tính chất là một dạng của trách nhiệm hình sự và một hình
thức để thực hiện trách nhiệm hình sự, hình phạt chỉ xuất hiện khi có sự việc
phạm tội;
Thứ ba, hình phạt chỉ có thể Tòa án- cơ quan tư pháp hình sự duy nhất có
thẩm quyền áp dụng đối với người bị kết án trong bản án có hiệu lực pháp luật;
Thứ tư, hình phạt nhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyền, tự do của người bị
kết án (được ghi nhận cụ thể trong pháp luật hình sự và được thể hiện rõ ràng
trong bản án kết tội có hiệu lực pháp luật của Tòa án);
Thứ năm, hình phạt phải và chỉ được quy định trong pháp luật hình sự,
đồng thời được Tòa án áp dụng theo một trình tự đặc biệt do luật tố tụng hình
sự quy định;
Thứ sáu, hình phạt chỉ mang tính chất cá nhân. (Đặc điểm này không

vụ công dân” [17, tr. 1114]. Tuy nhiên, quy định người chưa thành niên như
vậy thì quả thật không thể xác định được đâu là người chưa thành niên trong
cơ cấu dân số của một quốc gia và việc xây dựng, áp dụng các quy định của
pháp luật đối với người chưa thành niên lại càng khó khăn hơn. Còn trong
pháp luật Việt Nam thì khái niệm người chưa thành niên chưa được ghi nhận
mà chỉ có khái niệm trẻ em. Theo đó, “Trẻ em quy định trong Luật này là
công dân Việt Nam dưới 16 tuổi” [30, Điều 1].
Căn cứ các quy định nêu trên của pháp luật quốc tế và pháp luật Việt
Nam chúng ta thấy có sự khác nhau trong quy định về giới hạn độ tuổi là
người chưa thành niên (trẻ em): Pháp luật Việt Nam hiện hành quy định trẻ
em là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi. Còn pháp luật quốc tế (Công ước quốc
tế về quyền trẻ em) thì quy định rõ trẻ em là những người dưới 18 tuổi. Trong

12


khi đó Việt Nam là một trong số những nước sớm phê chuẩn công ước này.
Chính bởi sự “vênh” này mà Dự thảo Luật sửa đổi bổ sung của luật Bảo vệ,
chăm sóc và giáo dục trẻ em lấy tên là Luật Trẻ em đăng trên trang Dự thảo
online, mục Dự thảo luật tại Điều 1 có quy định ngắn gọn như sau: “Trẻ em là
người dưới 18 tuổi” (Dự thảo trình cho ý kiến tại phiên họp thứ 45 của Ủy
ban Thường vụ Quốc hội khóa 13). Sự thay đổi này là cần thiết một khi chúng
ta đã phê chuẩn Công ước quốc tế về quyền trẻ em. Tuy nhiên, ngày
05/4/2016, với 89,88% số phiếu tán thành, Quốc hội đã thông qua Luật trẻ em
với bố cục: 7 chương, 106 điều. Trong đó giữ nguyên độ tuổi quy định: “Trẻ
em là người dưới 16 tuổi” như luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em. Như
vậy độ tuổi từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi sẽ không được coi là trẻ em như
quy định của pháp luật quốc tế. Điều này không mâu thuẫn với các quy định
của Luật Giáo dục, Bộ luật Hình sự năm 2015 hay Bộ luật Tố tụng hình sự
năm 2015 với những chương quy định giành cho những người phạm tội dưới

pháp luật. Theo UNICEF, người chưa thành niên làm trái pháp luật là những
người dưới 18 tuổi phải làm việc với hệ thống tư pháp do bị nghi ngờ hay bị
cáo buộc là phạm tội. Như vậy, khái niệm người chưa thành niên vi phạm
pháp luật có nội hàm rộng hơn khái niệm người chưa thành niên phạm tội
(bao hàm) bởi vi phạm pháp luật bao gồm: vi phạm pháp luật hình sự, vi
phạm pháp luật hành chính, vi phạm pháp luật dân sự,... Trong đó vi phạm
pháp luật hình sự có thể phải chịu hậu quả pháp lý nặng hơn cả: bị truy cứu
trách nhiệm hình sự, phải chịu hình phạt.
Ở Việt Nam, thuật ngữ người chưa thành niên phạm tội được sử dụng
rộng rãi trong cả khoa học luật hình sự cũng như trong pháp luật hình sự thực
định. Bộ luật hình sự năm 1985 lần đầu tiên sử dụng thuật ngữ này, và quy
định tại chương VII: Những quy định đối với người chưa thành niên phạm tội.
Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) tiếp tục quy định vấn
đề người chưa thành niên tại riêng một chương (chương X: Những quy định
đối với người chưa thành niên phạm tội). Bộ luật Tố tụng hình sự cũng quy

14


định một chương riêng giành cho các thủ tục tố tụng đối với người chưa thành
niên (chương XXXII). Bộ luật hình sự và Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015
cùng được Quốc hội thông qua ngày 27/11/2015 cũng giành một chương riêng
để quy định về vấn đề người chưa thành niên phạm tội: chương XII Bộ luật
hình sự: Những quy định đối với người dưới 18 tuổi phạm tội và chương
XXVIII Bộ luật Tố tụng hình sự - Thủ tục tố tụng đối với người dưới 18 tuổi.
Tuy rằng tên chương đã thay đổi (những quy đinh đối với người dưới 18 tuổi
thay vì những quy định đối với người chưa thành niên và nội dung có một số
điểm mới nhưng về bản chất thì đây đều là những quy định thể hiện sự nhân
đạo của pháp luật đối với người chưa thành niên phạm tội và việc thay đổi
này là để đảm bảo sự tương thích về mặt nội dung cũng như về mặt thuật ngữ

hoặc vô ý thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự cấm.
Trên cơ sở những phân tích đã nêu, có thể hiểu người chưa thành niên
phạm tội là người từ đủ 14 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi thực hiện hành vi nguy
hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, có lỗi và phải chịu
trách nhiệm hình sự.
Từ khái niệm hình phạt và khái niệm người chưa thành niên phạm tội
đã trình bày bên trên, chúng ta có thể đúc rút được khái niệm hình phạt đối
với người chưa thành niên phạm tội như sau:
Hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội là biện pháp cưỡng
chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước được quy định trong Bộ luật hình sự, do
Tòa án quyết định áp dụng đối với người từ đủ 14 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi
nhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyền và lợi ích của người đó khi họ cố ý hoặc vô
ý thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị coi là tội phạm.
Khái niệm này đã thỏa mãn được nội hàm của ba khái niệm: hình
phạt, người chưa thành niên và tội phạm. Theo đó, Nhà nước - chủ thể đặt
ra hình phạt được quy định trong luật hình sự, Tòa án - cơ quan xét xử
nhân danh Nhà nước áp dụng các biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất
đó đối với những người chưa thành niên (người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18

16


tuổi) khi họ cố ý hoặc vô ý thực hiện những hành vi nguy hiểm cho xã hội
mà luật hình sự coi là tội phạm.
1.2. Đặc điểm, vai trò, ý nghĩa của việc quy định hình phạt đối với
người chưa thành niên phạm tội trong luật hình sự
Để tìm hiểu đặc điểm, cũng như vai trò, ý nghĩa của việc quy định hình
phạt đối với người chưa thành niên phạm tội trong luật hình sự, chúng ta cần
thống nhất với nhau trong cách hiểu về luật hình sự:
Theo GS. TSKH Lê Văn Cảm thì:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status