ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT NGUYỄN MINH KHUÊ QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT
ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI
TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
Chuyên ngành: Luật hình sự
Mã số: 60 38 40
LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC HÀ NỘI, 2007
Trang
MỞ ĐẦU
1
Chương I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT ĐỐI
VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI
6
1.1.
Một số vấn đề chung về NCTN phạm tội.
6
1.1.1. Khái niệm NCTN phạm tội.
6
1.1.2. Những đặc điểm đặc thù trong TNHS của NCTN phạm tội.
8
1.2.
Một số vấn đề chung về hình phạt và quyết định hình phạt.
10
1.2.1. Khái niệm hình phạt và mục đích của hình phạt
10
1.2.2. Khái niệm quyết định hình phạt và các nguyên tắc quyết định
hình phạt
14
Chương II: Quyết định hình phạt đối với NGười chưa thành niên phạm tội theo Bộ
luật Hình sự năm 1999 và thực tiễn áp dụng
23
2.1.
Chương III: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUYẾT ĐỊNH
HèNH PHẠT ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIấN PHẠM TỘI
80
3.1
Các kiến nghị hoàn thiện các quy định pháp luật hình sự liên
quan đến quyết định hình phạt đối với NCTN phạm tội
80
3.2
Các kiến nghị nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ làm công tác
xét xử NCTN phạm tội.
87
3.2.1. Kiện toàn đội ngũ cán bộ làm công tác xét xử nói chung và
đối với NCTN phạm tội nói riêng.
87
3.2.2. Nâng cao ý thức pháp luật và niền tin nội tâm của đội ngũ
Thẩm phán và Hội thẩm Tòa án trong quá trình xét xử và quyết
đinh hình phạt.
89
3.3.
Các kiện nghị hoàn thiện tổ chức.
90
3.3.1. Xem xét việc thành lập Tòa án NCTN để xét xử NCTN phạm tội.
90
3.3.2. Xây dựng hệ thống thu thập số liệu thống kê để theo dõi việc
xử lý các vụ việc có liên quan đến NCTN phạm tội.
“một trong những công cụ sắc bén, hữu hiệu để đấu tranh phòng ngừa và
chống tội phạm” [27]-lại được ban hành cách đây gần chục năm đã bộc lộ
những nhược điểm, chưa đáp ứng được yêu cầu của xu thế hội nhập cũng như
yêu cầu đấu tranh có hiệu quả với tình trạng tội phạm nói chung và tội phạm
NCTN nói riêng. Đặc biệt là các quy định pháp luật về quyết định hình phạt
chưa thể hiện rõ quan điểm của Đảng và Nhà nước ta trong việc phòng, chống
tội phạm. Bên cạnh đó, việc quyết định hình phạt đối với NCTN phạm tội trên
thực tế còn gặp nhiều bất cập do nhận thức và vận dụng không thống nhất các 2
quy định như: căn cứ quyết định hình phạt, quyết định hình phạt đối với
NCTN phạm nhiều tội, quyết định hình phạt đối với NCTN trong trường hợp
chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt… dẫn tới làm giảm hiệu quả của công
tác đấu tranh phòng, chống tội phạm NCTN. Vì vậy, việc nghiên cứu một
cách có hệ thống các quy định pháp luật hình sự về quyết định hình phạt đối
với NCTN phạm tội và thực tiễn áp dụng để nhằm hoàn thiện, các quy định về
quyết định hình phạt đối với NCTN phạm tội, nâng cao hiệu quả của việc áp
dụng hình phạt đối với họ là vấn đề có ý nghĩa cả về mặt lý luận và thực tiễn.
Với nhận thức như trên, Học viên đã lựa chọn vấn đề “Quyết định hình
phạt đối với người chưa thành niên phạm tội trong Luật Hình sự Việt
Nam” làm đề tài luận văn thạc sĩ luật học của mình
2. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
Việc nghiên cứu hình phạt và quyết định hình phạt đối với NCTN
phạm tội ở Việt Nam đã được đề cập trong một số Luận án tiến sĩ và thạc sĩ
luật học như: Luận án tiến sĩ luật học của TS. Dương Tuyết Miên về:“Quyết
định hình phạt trong luật hình sự Việt Nam”, 2003; Luận án Thạc sĩ luật học
của Ths Đào Thị Nga về “Quyết định hình phạt đối với NCTN phạm tội”,
1997…Ngoài ra, còn có một số công trình đăng trên các tạp chí chuyên ngành
khác như: Đặng Thị Thanh, TNHS của NCTN phạm tội và nguyên tắc xử lý
hình phạt đối với NCTN phạm tội.
- Đánh giá thực tiễn quyết định hình phạt đối với NCTN phạm tội.
- Đưa ra những kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả quyết định hình phạt
đối với NCTN phạm tội.
4. PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Luận văn tập trung nghiên cứu các quy định hiện hành của pháp luật
hình sự Việt Nam về quyết định hình phạt đối với NCTN phạm tội. Nghiên
cứu thực tiễn quyết định hình phạt đối với NCTN phạm tội thông qua các số
liệu, bản án và các báo cáo công tác của Tòa án nhân dân tối cao trong những
năm gần đây.
4
5. CƠ SỞ PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
Cơ sở phương pháp luận của việc nghiên cứu là hệ thống các quan
điểm của chủ nghĩa Mác-Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh về hình phạt và cải
tạo con người; các quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về pháp luật nói
chung, chính sách hình sự nói riêng, đặc biệt là các quan điểm về giáo dục,
phòng ngừa tội phạm NCTN.
Các phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong Luận án là: phương
pháp phân tích, phương pháp thống kê; phương pháp so sánh;…Trong quá
trình nghiên cứu, chúng tôi cũng nghiên cứu một số bản án đã tuyên đối với
NCTN phạm tội, nghiên cứu số liệu thống kê về quyết định hình phạt đối với
NCTN phạm tội và tham khảo ý kiến của các chuyên gia làm công tác thực
tiễn để đưa ra những kiến nghị khoa học nhằm nâng cao hiệu quả quyết định
hình phạt đối với NCTN phạm tội.
6. ĐIỂM MỚI CỦA LUẬN VĂN
Trên cơ sở nghiên cứu một cách hệ thống cả về mặt lý luận và thực tiễn
6
CHƯƠNG I
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT
ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI
1.1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NCTN PHẠM TỘI
1.1.1. Khái niệm NCTN phạm tội.
Các nhà khoa học đã chứng minh rằng, không phải từ khi sinh ra con
người đã có nhận thức đầy đủ về tự nhiên, xã hội và về chính mình. Khả năng
nhận thức được những đòi hỏi của xã hội không tồn tại một cách bẩm sinh mà
là kết quả của quá trình sống, quá trình hoạt động giao tiếp trong môi trường
xã hội trong một thời gian nhất định. Khi khả năng nhận thức những đòi hỏi
của con người đạt đến một giới hạn nhất định thì họ mới hiểu được quyền và
nghĩa vụ của mình trong đời sống xã hội, mới thấy được những đòi hỏi của
xã hội đối với họ và từ đó mới có thể đánh giá được ý nghĩa xã hội của hành
vi mà mình đã thực hiện. Tuy nhiên, ở mỗi một quốc gia, do những điều kiện
kinh tế, xã hội khác nhau, nên pháp luật cũng quy định độ tuổi đạt được mức
độ nhân thức đầy đủ khác nhau.
Ở Việt Nam, người được coi là có nhận thức đầy đủ là người từ 18 tuổi
trở lên và người dưới 18 tuổi- hay còn gọi là người chưa thành niên (NCTN)
là “người chưa đến tuổi được pháp luật công nhận với đầy đủ các quyền và
nghĩa vụ” [42]. Điều này được ghi nhận thống nhất trong các ngành luật. Điều
18 Bộ luật dân sự Việt nam năm 2005 quy định: “Người từ đủ mười tám tuổi
trở lên là người thành niên. Người chưa đủ mười tám tuổi là người chưa thành
niên”. Bộ luật lao động Việt nam cũng quy định: “Người lao động chưa thành
niên là người dưới 18 tuổi”…
Trong pháp luật hình sự, thuật ngữ NCTN được sử dụng dưới hai góc
độ vừa là chủ thể của tội phạm vừa là đối tượng tác động của tội phạm. Dưới
góc độ là chủ thể của tội phạm, độ tuổi của NCTN phạm tội được giới hạn
đã thực hiện một trong những hành vi tội phạm được mô tả trong BLHS. Điều
8 BLHS định nghĩa tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội, do người có 8
năng lực trách nhiệm hình sự (TNHS) thực hiện một cách cố ý và vô ý. Như
vậy để xác định một người nào đó phải chịu trách nhiệm hình sự thì phải xác
định đủ các yếu tố sau: (1) Sự việc xảy ra có đầy đủ các dấu hiệu của một tội
phạm được quy định trong BLHS; (2) Người thực hiện hành vi phạm tội đó
phải có năng lực trách nhiệm hình sự; (3) Sự việc xảy ra do lỗi của người đó.
Tóm lại, trên cơ sở các lập luận trên, có thể đưa ra định nghĩa khoa học
về NCTN phạm tội như sau: “NCTN phạm tội là người từ đủ 14 tuổi đến
dưới 18 tuổi có năng lực trách nhiệm hình sự chưa đầy đủ do sự hạn chế bởi
các đặc điểm về tâm sinh lý và đã có lỗi (cố ý hoặc vô ý) trong việc thực hiện
hành vi nguy hiểm cho xã hội mà BLHS quy định là tội phạm” [6, tr. 8]
1.1.2. Những đặc điểm đặc thù trong TNHS của NCTN phạm tội.
Trong khoa học pháp lý hình sự của Việt nam hiện nay có nhiều quan
điểm khác nhau về khái niệm TNHS. Có quan điểm cho rằng, TNHS là “hậu
quả pháp lý của việc phạm tội, thể hiện ở chỗ người đã gây ra tội phải chịu
trách nhiệm về hành vi của mình trước nhà nước” [37, tr. 41]. Hoặc có tác giả
cho rằng, TNHS là “một dạng trách nhiệm pháp lý, là trách nhiệm của người
khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong pháp luật
hình sự bằng một hậu quả bất lợi do Tòa án áp dụng tùy thuộc vào tính chất
và mức độ nguy hiểm của hành vi mà người đó đã thực hiện” [24, tr. 14].
TSKH, PGS Lê Cảm viết: “TNHS là hậu quả pháp lý của việc thực hiện tội
phạm và được thể hiện bằng việc áp dụng đối với người phạm tội một hoặc
nhiều biện pháp cưỡng chế của Nhà nước do luật hình sự quy định”[7, tr.
609].
Từ các khái niệm này, có thể đưa ra các đặc điểm của TNHS như sau:
(1) TNHS là hậu quả pháp lý của việc thực hiện tội phạm, TNHS chỉ phát
+ Về hình phạt: BLHS năm 1999 quy định không xử phạt tù chung
thân, tử hình đối với NCTN phạm tội. Khi phạt tù có thời hạn thì NCTN được
hưởng mức phạt tù nhẹ hơn mức án áp dụng đối với người đã thành niên
phạm tội tương ứng; không áp dụng hình phạt tiền đối với NCTN dưới 16
tuổi; Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với NCTN phạm tội; án đã tuyên
đối với NCTN phạm tội khi chưa đủ 16 tuổi thì không tính để xác định tái 10
phạm hoặc tái phạm nguy hiểm. Ngoài ra, BLHS cũng quy định các biện pháp
tư pháp khác có tính chất giáo dục phòng ngừa được áp dụng riêng đối với
NCTN như: Giáo dục tại xã, phường, thị trấn; đưa vào trường giáo dưỡng.
- Việc áp dụng TNHS đối với NCTN phạm tội được tiến hành theo thủ
tục đặc biệt. Pháp luật nói chung và pháp luật hình sự nói riêng luôn coi
NCTN là đối tượng đặc biệt cần bảo vệ ngay cả khi họ là chủ thể của hành vi
nguy hiểm cho xã hội đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự. Do đó, các
quy định về thủ tục tố tụng đối với đối tượng này cũng có những điểm khác
biệt so với thủ tục tố tụng hình sự áp dụng đối với người đã thành niên phạm
tội. Những đặc điểm đặc trưng này được thể hiện ở các quy định về tiêu chuẩn
của những người tham gia tố tụng, về đối tượng phải xác minh, làm rõ; về
điều kiện áp dụng các biện pháp ngăn chặn; về việc tham gia bắt buộc của
người bào chữa; về sự tham gia của gia đình, nhà trường trong quá trình tố
tụng…Ví dụ: Những người tiến hành tố tụng những vụ án mà bị can, bị cáo
là NCTN phải có các kiến thức cần thiết về tâm lý học, về khoa học giáo dục;
việc tham gia của người bào chữa trong vụ án mà bị can, bị cáo là NCTN là
bắt buộc …[28]
Tóm lại, việc nắm vững những đặc điểm đặc thù của TNHS đối với
NCTN phạm tội như đã phân tích ở trên có ý nghĩa quan trọng trong việc truy
cứu TNHS đối với NCTN nói chung và đối với quyết định hình phạt đối với
họ nói riêng.
với người phạm tội. Xét về mặt nội dung thì hình phạt do BLHS quy định
chứa đựng trong nó nhiều sự tước đoạt hoặc hạn chế nhất định về thể chất,
tinh thần, vật chất… đối với người phạm tội. Nội dung trừng trị là thuộc tính
nội tại, tất yếu của hình phạt, bất cứ người phạm tội nào cũng bị đe doạ bởi
khả năng áp dụng hình phạt. Khi áp dụng hình phạt đối với người phạm tội,
Nhà nước một mặt đã trừng trị họ, mặt khác thông qua hình phạt đã tuyên
làm cho họ nhận thức được tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi mà
họ đã thực hiện, làm cho họ thấy được sự lên án, phản ứng của Nhà nước đối
với tội phạm mà họ đã thực hiện, đồng thời buộc họ thấy được hậu quả pháp
lý bất lợi mà họ phải gánh chịu, từ đó giúp người phạm tội nhận thức để cải 12
tạo và có ý thức tự giác tuân theo các quy định của pháp luật. Nội dung giáo
dục cải tạo của hình phạt còn thể hiện ở chính việc Tòa án tuyên hình phạt
và cả quá trình người bị kết án chấp hành hình phạt.
Từ sự phân tích trên, khái niệm hình phạt có thể được định nghĩa như
sau: “Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước
được quyết định trong bản án kết tội có hiệu lực của Tòa án để tước bỏ hay
hạn chế quyền tự do của người bị kết án theo các quy định của pháp luật
hình sự” [5, tr. 47] .
1.2.1.2. Mục đích của hình phạt
Theo Điều 27 BLHS, hình phạt không chỉ nhằm trừng trị người phạm
tội mà còn giáo dục họ trở thành người có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo
pháp luật và các quy tắc của cuộc sống xã hội chủ nghĩa, ngăn ngừa họ phạm
tội mới. Ngoài ra, hình phạt còn nhằm giáo dục người khác tôn trọng pháp
luật, đấu tranh, chống và phòng ngừa tội phạm.
Hình phạt, trước hết là nhằm trừng trị người phạm tội. Nếu hình phạt
không có mục đích trừng trị thì cũng không còn là hình phạt. Trong hệ thống
hình phạt, thì hình phạt tử hình là hình phạt nghiêm khắc nhất, tước bỏ tính
trình xử lý NCTN phạm tội. Điểm đặc trưng của lứa tuổi này là phát triển
chưa đầy đủ về mặt tâm, sinh lý, đang ở giai đoạn phát triển và hình thành
nhân cách và chưa thể có suy nghĩ chín chắn trong khi quyết định hành vi
của mình dẫn đến có những hành vi sai phạm, lệch chuẩn, thậm chí nguy
hiểm cho xã hội đến mức phải xử lý về hình sự. Tuy nhiên, việc xử lý và áp
dụng biện pháp hình sự (biện pháp tư pháp hoặc hình phạt) đối với họ phải
được cân nhắc để bảo đảm được mục đích giáo dục, uốn nắn, răn đe những
hành vi lệch lạc, làm cho họ thấy rõ được sai phạm của mình và tự giác sửa
chữa với sự giúp đỡ của gia đình, nhà trường, bạn bè và xã hội. Mục đích
giáo dục của hình phạt đối với NCTN phạm tội còn được thể hiện qua việc
quy định về điều kiện áp dụng hình phạt, mức tối đa của hình phạt luôn thấp
hơn so với người đã thành niên khác để đảm bảo cho họ có thể nhanh chóng
hoà nhập với xã hội…. 14
Tóm lại, nhận thức đúng đắn về khái niệm hình phạt và mục đích của
hình phạt có ý nghĩa quan trọng trong việc định hướng cho các thành viên
Hội đồng xét xử áp dụng các quy định về quyết định hình phạt nhằm đưa ra
một hình phạt đúng pháp luật, công bằng và hợp lý đối với người phạm tội.
1.2.2. Khái niệm quyết định hình phạt và các nguyên tắc quyết định
hình phạt
1.2.2.1. Khái niệm quyết định hình phạt.
Quyết định hình phạt là giai đoạn quan trọng của tố tụng hình sự. Bởi
việc quyết định hình phạt chính xác, khách quan là một trong những điều kiện
cần thiết để đảm bảo cho người bị kết án tự mình ý thức được sự công bằng
của pháp luật và bản thân họ cũng thấy rõ lỗi lầm, sai phạm mà quyết tâm cải
tạo trở thành người công dân có ích cho xã hội, trực tiếp góp phần tích cực
vào quá trình đấu tranh, phòng, chống tội phạm. Vậy quyết định hình phạt là
gì?
tranh luận đồng thời là quá trình đối chiếu các tình tiết của một vụ án hình sự
cụ thể với các dấu hiệu của một cấu thành tội phạm cụ thể. Đồng thời, trên cơ
sở đánh giá về mặt pháp lý hình sự tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội
của hành vi phạm tội gắn liền với sự xem xét nhân thân người phạm tội, các
tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS, Tòa án mới có thể xác định một loại và
một mức hình phạt áp dụng đối với người bị kết án đảm bảo đạt được mục
đích của hình phạt. Như vậy, việc quyết định hình phạt là cả một quá trình
nhận thức lý luận tư duy logíc, đồng thời là một trong những dạng của hoạt
động thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự của Thẩm phán và Hội thẩm nhân
dân.
- Thứ hai, quyết định hình phạt là giai đoạn tiếp theo của hoạt động
định tội danh của Tòa án. Điều 2 BLHS năm 1999 quy định: " Chỉ người nào
phạm một tội đã được BLHS quy định mới phải chịu TNHS" Như vậy, nếu
không có tội phạm xảy ra hoặc hành vi của một người không thoả mãn các
dấu hiệu của cấu thành tội phạm thì người đó không phải là tội phạm và
đương nhiên không phải chịu những chế tài của luật hình sự. Chính vì vậy,
chỉ khi nào Tòa án trên cơ sở đối chiếu giữa các tình tiết của vụ án với các cấu 16
thành cơ bản thì mới có thể kết luận người đó có phạm một tội (hoặc một số
tội) được quy định trong phần các tội phạm của BLHS hay không và chỉ nếu
các hành vi đó thoả mãn các dấu hiệu của cấu thành tội phạm thì Tòa án mới
cân nhắc, lựa chọn các chế tài hình sự để áp dụng đối với họ hay nói cách
khác quyết định hình phạt mới được đặt ra.
-Thứ ba, quyết đinh hình phạt bao gồm các nội dung chủ yếu là: (1)
Xác định có thể áp dụng các biện pháp tha miễn như miễn TNHS hoặc miễn
hình phạt đối với bị cáo được hay không? (2) và nếu không thể áp dụng các
biện pháp tha miễn thì xác định loại và mức hình phạt cụ thể đối với bị cáo.
+ Bất kỳ ai thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, thoả mãn các yếu
định khung hình phạt là hoạt động rất quan trọng bởi qua đó xác định giới hạn
tối thiểu và tối đa của hình phạt theo khung hình phạt được áp dụng và nếu
định khung hình phạt sai thì sẽ dẫn đến hậu quả quyết định hình phạt sai. Trên
cơ sở đã xác định được khung hình phạt, giai đoạn tiếp theo của Hội đồng xét
xử là lựa chọn các chế tài cụ thể được quy định trong khung hình phạt. Đối
với hình phạt chính, đa số hình phạt quy định cho các tội phạm là chế tài lựa
chọn. Do đó, nếu trong khung hình phạt có nhiều loại hình phạt khác nhau thì
quyết định hình phạt là việc Tòa án lựa chọn một loại hình phạt cụ thể trong
các hình phạt đó và các định mức hình phạt cụ thể trong phạm vi cho phép để
áp dụng đối với người phạm tội. Trong trường hợp hình phạt mà Tòa án tuyên
cho bị cáo là cảnh cáo, trục xuất, tù chung thân và tử hình thì quyết định hình
phạt chỉ là lựa chọn hình phạt mà không có bước xác định mức hình phạt cụ
thể áp dụng cho người phạm tội. Nếu trong khung hình phạt chỉ có một loại
hình phạt tù thì quyết định hình phạt thực chất là việc xác định mức hình phạt
cụ thể trong phạm vi của khung hình phạt để áp dụng cho người phạm tội.
Mức hình phạt được áp dụng có thể thấp hơn mức mà chế tài quy định trong
trường hợp Tòa án áp dụng điều 47 BLHS nhưng không được vượt quá mức
cao nhất được quy định trong chế tài.
Đối với hình phạt bổ sung, quyết định hình phạt là việc lựa chọn loại và
mức hình phạt mà điều luật về tội phạm có quy định nhằm hỗ trợ cho hình 18
phạt chính để áp dụng đối với người bị kết án. Tòa án có thể lựa chọn một
hoặc một số loại hình phạt bổ sung mà điều luật quy định áp dụng đối với tội
mà người phạm tội thực hiện. Tuy nhiên, không phải tất cả người phạm tội
cũng đều phải bị áp dụng hình phạt bổ sung. Chẳng hạn, Điều 69 BLHS năm
1999 quy định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với NCTN phạm tội.
Trên cơ sở các đặc điểm của quyết định hình phạt nêu ở trên, khái niệm
quyết định hình phạt có thể được định nghĩa như sau:
hành vi phạm tội đã được quy định cụ thể trong luật. Điều 2 BLHS hiện hành
ghi rõ: “ chỉ người nào phạm tội đã được luật hình sự quy định mới phải chịu
TNHS ”. Điều đó khẳng định cơ sở của việc áp dụng hình phạt là việc thực
hiện tội phạm của người có lỗi. Việc luật hình sự nước ta bỏ nguyên tắc
“tương tự” trong lĩnh vực hình sự là một việc có ý nghĩa chính trị – pháp lý vô
cùng to lớn. Nó càng củng cố và tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa và là
cơ sở vững chắc cho việc quyết định hình phạt.
Ngoài ra, nguyên tăc pháp chế còn đòi hỏi chủ thể áp dụng hình phạt
chỉ có thể là Tòa án. Chỉ có Tòa án là cơ quan duy nhất nhân danh nhà nước
có quyền tuyên một hình phạt đối với bị cáo. Tại phiên Tòa xét xử, sau khi
thẩm vấn, so sánh, đánh giá tài liệu, chứng cứ đi đến kết luận hành vi của bị
cáo có đầy đủ dấu hiệu cấu thành tội phạm cụ thể sẽ quyết định một hình phạt
cụ thể với một mức nhất định trong bản án xét xử. Khi quyết định hình phạt,
Tòa án phải tuân theo trình tự và các điều kiện áp dụng các loại hình phạt cụ
thể và chỉ có thể tuyên những hình phạt được quy định trong luật. Ví dụ, khi
quyết định hình phạt đối với vị cáo là NCTN, Tòa án không được xử phạt
chung thân hoặc tử hình NCTN phạm tội mà chỉ có thể cân nhắc, xem xét, lựa
chọn các hình phạt gồm có cảnh cáo, cải tạo không giam giữ và tù có thời hạn
hoặc các biện pháp tư pháp khác như: đưa vào trường giáo dưỡng, cải tạo tại xã,
phường, thị trấn.
Một đòi hỏi nữa của nguyên tắc pháp chế là khi tuyên phạt một hình
phạt phải có căn cứ và có tính xác định. Muốn vậy đòi hỏi Tòa án phải
nghiên cứu kỹ và làm sáng tỏ các tính tiết có trong vụ án để làm căn cứ cho
việc quyết định hình phạt, những tình tiết đó chỉ là những tình tiết đã được 20
thẩm vấn, kiểm tra trong quá trình xét xử và được Hội đồng xét xử đánh giá,
nhân xét và còn chỉ rõ lý do của việc quyết định hình phạt. Tính xác định của
hình phạt trong bản án buộc tội thể hiện ở chỗ hình phạt được quyết định đối
Đặc biệt đối với NCTN phạm tội, nguyên tắc nhân đạo trong quyết định
hình phạt được xuyên xuốt trong chính sách hình sự và đường lối xử lý. Xuất
phát từ quan điểm NCTN là người chưa phát triển đầy đủ về thể chất và tinh
thần, chưa có đủ khả năng để cân nhắc hành vi của mình, thiếu kinh nghiệm
xã hội và dễ bị tác động của môi trường xung quanh, vì vậy, BLHS năm 1999
đã xây dựng một Chương riêng áp dụng đối với họ theo hướng giảm nhẹ
TNHS so với người đã thành niên phạm tội.
Tóm lại, xuất phát từ nguyên tắc nhân đạo, luật hình sự quy định
đường lối giải quyết đối với NCTN phạm tội, trong đó có việc quyết định
hình phạt nhằm mục đích giáo dục, cải tạo họ sớm tái hoà nhập với xã hội và
cộng đồng. Biện pháp giáo dục phòng ngừa phải được coi là biện pháp được
ưu tiên áp dụng khi xử lý NCTN phạm tội. Điều đó thể hiện lòng tin vào khả
năng cải tạo, giáo dục NCTN phạm tội dưới chế độ ta, đồng thời thấm nhuần
đạo lý của ông cha ta coi cái thiện, cái ác không phải là bản tính vốn sẵn có
của mỗi người từ lúc sinh ra mà về cơ bản tính thiện ác trong mỗi con người
được hình thành từ trong môi trường xã hội và sâu xa hơn nữa là mỗi con
người dù có lỗi lầm đến đâu đều có khả năng phục thiện thông qua con đường
giáo dục thích hợp.
*Nguyên tắc cá thể hoá hình phạt
Tư tưởng cơ bản của nguyên tắc cá thể hoá hình phạt khi quyết định
hình phạt đòi hỏi hình phạt do Tòa án tuyên phải tương xứng với tính chất và
mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội
và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
Nguyên tắc cá thể hoá hình phạt trong quyết định hình phạt được thể
hiện rõ trong các quy định về đồng phạm, Điều 3 BLHS 1999 quy định:
“…Nghiêm trị người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy, ngoan cố chống đối,
lưu manh, côn đồ, tái phạm nguy hiểm, lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm