Quyết định hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội - Pdf 33

Quyết định hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội
Quyết định hình phạt là việc Toà án lựa chọn hình phạt buộc người bị kết án phải chấp
hành. Toà án lựa chọn loại hình phạt nào, mức phạt bao nhiêu, phải tuân theo những quy
định của Bộ luật hình sự.
Quyết định hình phạt là hoạt động tư duy của Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân ngay sau
khi đã xác định tội danh đối với hành vi phạm tội, nếu định tội là tiền đề, là cơ sở cho
việc quyết định hình phạt, thì quyết định hình phạt là kết quả cuối cùng của hoạt động xét
xử. Quyết định hình phạt chính xác có ý nghĩa rất quan trọng đối với hoạt động xét xử
của Toà án. Để quyết định hình phạt chính xác, đúng pháp luật, ngoài việc định tội chính
xác, Toà án còn phải tuân theo những nguyên tắc, những căn cứ về quyết định hình phạt
đã được quy định trong Bộ luật hình sự. Ngoài ra, Toà án còn phải xem xét cân nhắc đến
tình hình chính trị, kinh tế, xã hội của từng địa phương, yêu cầu của việc đấu tranh phòng
ngừa và chống tội phạm và các yếu tố khác có liên quan đến việc quyết định hình phạt.
Cũng như đối với người phạm tội đã thành niên, khi quyết định hình phạt đối với người
chưa thành niên phạm tội, Toà án cũng phải căn cứ vào vào quy định của Bộ luật hình sự,
cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân
người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự. (Điều 45 Bộ
luật hình sự)
1. Căn cứ vào quy định của Bộ luật hình sự
Căn cứ vào các quy định của Bộ luật hình sự, tức là phải căn cứ vào các quy định của cả
phần chung và phần các tội phạm của Bộ luật hình sự có liên quan đến tội phạm mà
người bị kết án đã phạm. Vì vậy, chỉ quyết định hình phạt khi đã có đủ căn cứ xác định
một người đã phạm vào một tội mà Bộ luật hình sự quy định, tức là phải định tội trước
rồi mới quyết định hình phạt sau. Khi đã xác định được tội danh cho mọt hành vi phạm
tội, thì phải xác định tội phạm đó được quy định ở điều khoản nào của Bộ luật hình sự, từ
đó đối chiếu với các quy định của phần chung và phần tội phạm xem có những quy định
nào có liên quan đến tội phạm do người bị kết án thực hiện hay không ? Ví dụ: Khi đã
1


xác định Nguyễn Công H 17 tuổi, phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản có tổ chức, thuộc

Nếu người được giáo dục tại xã, phường, thị trấn hoặc người được đưa vào trường giáo
dưỡng đã chấp hành một phần hai thời hạn do Toà án quyết định và có nhiều tiến bộ, thì
theo đề nghị của tổ chức, cơ quan, nhà trường được giao trách nhiệm giám sát, giáo dục,
Toà án có thể quyết định chấm dứt thời hạn giáo dục tại xã, phường, thị trấn hoặc thời
hạn ở trường giáo dưỡng.
Không xử phạt tù chung thân hoặc tử hình đối với người chưa thành niên phạm tội. Khi
áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội cần hạn chế áp dụng hình phạt
tù. Khi xử phạt tù có thời hạn, Toà án cho người chưa thành niên phạm tội được hưởng
mức nhẹ hơn mức án áp dụng đối với người đã thành niên phạm tội tương ứng.
Không áp dụng hình phạt tiền đối với người chưa thành niên phạm tội ở độ tuổi từ đủ 14
tuổi đén dưới 16 tuổi.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với người chưa thành niên phạm tội.
a. Đối với hình phạt cảnh cáo,
Khi áp dụng hình phạt cảnh cáo đối với người chưa thành niên phạm tội, Toà án phải căn
cứ vào quy định tại Điều 29 Bộ luật hình sự, chỉ áp dụng hình phạt cảnh cáo đối với
người chưa thành niên phạm tội ít nghiêm trọng và có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nhưng
chưa đến mức miễn hình phạt. Bởi lẽ, không có quy định riêng về việc áp dụng hình phạt
cảnh cáo đối với người chưa thành niên phạm tội, nên theo quy định tại Điều 68 Bộ luật
hình sự Toà án vẫn phải căn cứ vào Điều 29 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, đối với người
chưa thành niên phạm tội nên mở rộng việc áp dụng hình phạt cảnh cáo nếu đủ điều kiện
quy định tại Điều 29 Bộ luật hình sự.
b. Đối với hình phạt tiền

3


Toà án chỉ được áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính và cũng chỉ đối với người chưa
thành niên phạm tội từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi nếu người đó có thu nhập hoặc có tài
sản riêng.
Bộ luật hình sự năm 1999 đã có hiệu lực pháp luật gần 7 năm, nhưng vẫn còn một số

chọn hình phạt tiền là hình phạt chính thì chỉ được phạt Đặng Thanh H từ năm triệu động
đến năm mươi triệu đồng.
Khi xác định mức tiền phạt cụ thể, Toà án căn cứ vào tính chất và mức độ nghiêm trọng
của tội phạm được thực hiện, để quyết định một mức tiền phạt như đối với người đã
thành niên phạm tội, sau đó chia đôi số tiền phạt đó để quyết định mức tiền phạt đối với
người chưa thành niên phạm tội. Ví dụ: Bùi Quốc D (khi phạm tội 17 tuổi 5 tháng) bị kết
án về tội buôn bán hàng cấm theo quy định tại khoản 1 Điều 155 Bộ luật hình sự có
khung hình phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu động. Giả thiết Bùi Quốc D
là người đã thành niên thì sẽ bị phạt tiền 8 triệu đồng nhưng vì D là người chưa thành
niên nên mức tiền phạt mà Toà án áp dụng đối với D là 4 triệu động.
c. Đối với hình phạt cải tạo không giam giữ
Khi áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đối với người chưa thành niên phạm tội,
Toà án cũng phải căn cứ vào quy định tại Điều 31 Bộ luật hình sự về cải tạo không giam
giữ, đó là: Hình phạt cải tạo không giam giữ được áp dụng từ sáu tháng đến ba năm đối
với người phạm tội ít nghiêm trọng hoặc phạm tội nghiêm trọng do Bộ luật hình sự quy
định mà đang có nơi làm việc ổn định hoặc có nơi thường trú rõ ràng, nếu xét thấy không
cần thiết phải cách ly người phạm tội khỏi xã hội. Tuy nhiên, đối với người chưa thành
niên phạm tội khi áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ chỉ cần điều kiện có nơi
thường trú rõ ràng, vì theo quy định tại Điều 73 Bộ luật hình sự thì, khi áp dụng hình phạt
cải tạo không giam giữ đối với người chưa thành niên phạm tội, thì không khấu trừ thu
nhập của người đó nên việc xác định người phạm tội có nơi làm việc ổn định là không
cần thiết, mà chỉ cần xác định người phạm tội có nơi thường trú rõ ràng là được.

5


Cũng theo quy định tại Điều 73 Bộ luật hình sự thì, thời hạn cải tạo không giam giữ đối
với người chưa thành niên phạm tội không quá một phần hai (1/2) thời hạn mà điều luật
quy định. Ví dụ: Trần Công V (16 tuổi 8 tháng) phạm tội "trộm cắp tài sản" quy định tại
khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự có hình phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm, nếu

d. Đối với hình phạt tù có thời hạn
Khi áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với người chưa thành niên phạm tội, Toà án cần
phải cân nhắc kỹ xem có nên áp dụng hình phạt tù đối với họ hay không ? Chỉ áp dụng
hình phạt tù đối với người chưa thành niên khi thấy không thể áp dụng được các loại hình
phạt khác đối với họ. Đây cũng là một nguyên tắc quyết định hình phạt đối với người
chưa thành niên phạm tội. Tuy nhiên, thực tiễn xét xử các Thẩm phán ít chú ý đến
nguyên tắc này, nên thường áp dụng hình phạt tù hoặc cho hưởng án treo, mặc dù người
phạm tội có đủ điều kiện được áp dụng các loại hình phạt khác không phải là hình phạt
tù.
Khi buộc phải áp dụng hình phạt tù đối với người chưa thành niên phạm tội, Toà án phải
tuân theo các quy định sau:
- Đối với người chưa thành niên khi phạm tội từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi, nếu điều
luật được áp dụng có quy định hình phạt tù chung thân hoặc tử hình, thì mức hình phạt
cao nhất được áp dụng không quá mười tám (18) năm tù. Ví dụ: Võ Hữu B (17 tuổi 5
tháng) phạm tội "giết người" thuộc trường hợp tại khoản 1 Điều 93 Bộ luật hình sự có
quy định hình phạt tù chung thân hoặc tử hình, Toà án chỉ được phạt Võ Hữu B mức hình
phạt tối đa là 18 năm tù. Nếu điều luật được áp dụng quy định là hình phạt tù có thời hạn,
thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá ba phần tư (3/4) mức phạt tù mà điều
luật quy định. Ví dụ: Võ Minh Q (16 tuổi 10 tháng) phạm tội "bắt cóc nhằm chiếm đoạt
tài sản" thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự có khung hình
phạt từ năm năm đến mười hai năm tù, Toà án chỉ được phạt Võ Minh Q mức hình phạt
tối đa là chín năm tù.

7


- Đối với người chưa thành niên khi phạm tội từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi, nếu điều
luật được áp dụng có quy định hình phạt tù chung thân hoặc tử hình, thì mức hình phạt
cao nhất được áp dụng không quá mười hai (12) năm tù. Ví dụ: Nguyễn Anh T (15 tuổi 9
tháng) phạm tội "cướp tài sản" thuộc trường hợp tại khoản 4 Điều 133 Bộ luật hình sự có

vào các quy định tại Điều 74 Bộ luật hình sự. Để bảo đảm việc quyết định dưới mức thấp
nhất của khung hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội vừa đúng với Điều 47
Bộ luật hình sự vừa bảo đảm quy định tại Điều 74 Bộ luật hình sự, Toà án cần tiến hành
các bước sau:
Trước hết, Toà án coi như họ là người đã thành niên để quyết định một mức hình phạt cụ
thể sau đó căn cứ vào quy định tại Điều 74 Bộ luật hình sự để xác định mức hình phạt cụ
thể đối với người chưa thành niên phạm tội theo quy định tại Điều 47 Bộ luật hình sự. Ví
dụ: Hoàng Văn C 16 tuổi 10 tháng phạm tội trộm cắp tài sản thuộc trường hợp quy định
tại khoản 3 Điều 138 Bộ luật hình sự có khung hình phạt từ bảy năm đến mười lăm năm
tù; do C có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy đinh tại Điều 46 Bộ luật hình sự nên được Toà án
áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự để áp dụng hình phạt quy định tại khoản 2 của Điều 138
Bộ luật hình sự. Giả thiết C là người đã thành niên thì sẽ bị phạt 2 năm tù, nhưng vì C là
người chưa thành niên nên C chỉ bị phạt 1 năm 6 tháng tù (2 x 3 : 4 = 1 năm 6 tháng).
Mặc dù mức hình phạt 1 năm 6 tháng tù dưới mức thấp nhất của khung hình phạt quy
định tại khoản 2 Điều 138 Bộ luật hình sự nhưng vẫn không vi phạm Điều 47 Bộ luật
hình sự.
Tóm lại, căn cứ vào quy định của Bộ luật hình sự để quyết định hình phạt đối với người
chưa thành niên phạm tội là cơ sở, là tiền đề cho việc có áp dụng hay không áp dụng hình
phạt, nếu áp dụng thì áp dụng loại hình phạt nào, mức hình phạt là bao nhiêu. Căn cứ vào
các quy định của Bộ luật hình sự là căn cứ vào từng hành vi phạm tội cụ thể, của người
phạm tội cụ thể đôi chiếu với quy định của Bộ luật hình sự để áp dụng điều khoản nào
cho phù hợp với hành vi phạm tội. Bộ luật hình sự chỉ quy định có tính chất nguyên tắc,
dự kiến nếu có một hành vi nguy hiểm cho xã hội xảy ra và hành vi đó có thể giống
(tương tự) với dự kiến của Bộ luật hình sự thì được áp dụng các quy định của Bộ luật

9


hình sự để xử lý. Đây là đặc điểm cơ bản của pháp luật hình sự đối với các nước theo luật
thành văn.

Do kỹ thuật lập pháp, nên trong từng điều khoản của Bộ luật hình sự nhà làm luật quy
định nhiều tình tiết là yếu tố định tội hoặc định khung hình phạt khác nhau trong cùng
một khung hình phạt. Ví dụ: khoản 2 Điều 138 Bộ luật hình sự nhà làm luật quy định 6
tình tiết (từ a đến g) là tình tiết định khung hình phạt, nên tính chất, mức độ nguy hiểm
của hành vi phạm tội cũng phụ thuộc vào việc người phạm tội có ít hoặc nhiều tình tiết
dịnh khung hình phạt quy định tại các điểm từ a đến g khoản 2 Điều 138 Bộ luật hình sự.
Ví dụ: Đều là phạm tội theo khoản 2 Điều 138 Bộ luật hình sự nhưng A thuộc trường hợp
tái phạm nguy hiểm và hành hung tẩu thoát còn B chỉ thuộc trường hợp hành hung để tẩu
thoát thì tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi do A thực hiện nguy hiểm
hơn hành vi do B thực hiện.
Thực tiễn xét xử, khi luận tội cũng như khi nhận xét để áp dụng hình phạt đối với một bị
cáo, Kiểm sát viên và Hội đồng xét xử thường chỉ chú ý đến nhân thân người phạm tội,
đến các tình tiết tăng nặng và tình tiết giảm nhẹ chứ ít thấy có bản luận tội hoặc bản án
phân tích được tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhiều
bản luận tội hoặc bản án chỉ nêu một câu có tính chất chung chung "hành vi phạm tội của
bị cáo là nguy hiểm cho xã hội" còn nguy hiểm như thế nào, mức độ nguy hiểm ra sao thì
không nêu được. Do không đánh giá được tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của
hành vi phạm tội, nên có nhiều trường hợp bản luận tội của Kiểm sát viên hoặc bản án
của Toà án đã nêu được hết các tình tiết về nhân thân người phạm tội, về các tình tiết tăng
nặng hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nhưng quyết định hình phạt vẫn không chính
xác (quá nặng hoặc quá nhẹ).
Như vậy, tĩnh chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội phụ thuộc vào nhiều yếu tố
nhưng có thể khái quát lại ta thấy các yếu tố ảnh hưởng đến tính chất, mức độ nguy hiểm
của hành vi phạm tội bao gồm:

11


Trước hết, tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội phụ thuộc vào
tất cả các yếu tố cấu thành tội phạm, bởi vì tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội,

thể đã được xác định để phân loại tội phạm thành các chương khác nhau. Riêng các tình
tiết có liên quan đến nhân thân người phạm tội đã được quy định là một căn cứ khi quyết
định hình phạt (sẽ phân tích ở phần sau).
Khi cân nhắc tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội trong một
khung hình phạt là cân nhắc đến cách thức thực hiện tội phạm của người phạm tội. Ví dụ:
Cùng là hành vi dùng vũ lực nhằm chiếm đoạt tài sản, nhưng nếu hành vi dùng vũ lức có
tính chất quyết liệt thì tính chất nguy hiểm cao hơn trường hợp hành vi dùng vũ lực
không có tính chất quyết liệt; tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm
tội trong một khung hình phạt còn phụ thuộc vào thời gian, không gian nơi xảy ra tội
phạm; phụ thuộc vào động cơ múc đính phạm tội của người phạm tội, nếu động cơ mục
đích không phải là yếu tố định tội hoặc định khung hình phạt; phụ thuộc vào thiệt hại gây
ra cho xã hội nều mức thiệt hại khác nhau đều được quy định trong một khung hình phạt.
Ví dụ: A gây thương tích cho B có tỷ lệ thương tật là 31%, còn C gây thương tích cho D
có tỷ lệ thương tật là 50%. Tuy cùng phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 2
Điều 104 Bộ luật hình sự, nhưng tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi
phạm tội của C nguy hiểm hơn A.
Tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội trong một khung hình phạt
còn phụ thuộc vào tính chất và mức độ lỗi của hành vi phạm tội do người phạm tội thực
hiện. Cùng là lỗi cố ý, nhưng nếu là lỗi cố ý trực tiếp thì nguy hiểm hơn lỗi cố ý gián
tiếp; cùng là lỗi cố ý trực tiếp, nhưng sự quyết tâm phạm tội của người phạm tội cao nguy
hiểm hơn người không có ý thức quyết tâm phạm tội đến cùng; cùng là vô ý thì vô ý vì
quá tự tin nguy hiểm hơn lỗi vô ý vì cẩu thả. Ngoài ra còn có thể xem xét đến các hình
thức lỗi khác để đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội
như: cố ý có chủ mưu nguy hiểm hơn cố ý đột xuất; cố ý xác định nguy hiểm hơn cố ý
không xác định.
3. Căn cứ vào nhân thân người phạm tội
13


Nhân thân người phạm tội là toàn bộ các yếu tố về tự nhiên và xã hội có liên quan đến


tình tiết tăng nặng khi quyết định hình phạt; người phạm tội là người có thành tích xuất
sắc trong sản xuất, chiến đấu, hoạc tập hoặc công tác là tình tiết giảm nhẹ khi quyết định
hình phạt.v.v...
Tuy nhiên, trong trường hợp các yếu tố về nhân thân người phạm tội chưa được quy định
là yếu tố định tội, định khung hình phạt hoặc quy định là tình tiết tăng nặng hoặc tình tiết
giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, thì khi quyết định hình phạt, Toà án phải xem xét để áp
dụng một hình phạt cho tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo. Xem xét, cân nhắc
nhân thân người phạm tội để làm căn cứ quyết định hình phạt chủ yếu xem xét các yếu tố
về nhân thân không phải là tình tiết tăng nặng hoặc tình tiết giảm nhẹ, không phải là yếu
tố định tội hay định khung hình phạt. Vì vậy, khi xem xét nhân thân người phạm tội với ý
nghĩa là một căn cứ để quyết định hình phạt, Toà án phải xem xét cả mặt tốt, mặt xấu,
đồng thời phải đánh giá được khả năng phát triển nhân cách của họ, khả năng cải tạo
cũng như các vấn đề ảnh hưởng đến quá trình cải tạo họ trở thành người có ích cho xã
hội. Trong bản án phải phản ảnh được nội dung các yếu tố về nhân thân của người phạm
tội ngoài những trường hợp mà Bộ luật hình sự đã quy định mà Toà án làm căn cứ quyết
định hình phạt.
Đối với người chưa thành niên phạm tội các yếu tố thuộc về nhân thân là căn cứ vô cùng
quan trọng để Toà án cân nhắc khi quyết định hình phạt. Cũng như đối với người đã
thanh niên, các đặc điểm về nhân thân cũng phụ thuộc vào các đặc điểm gắn liền với cuộc
đời của họ. Tuy nhiên, đối với người chưa thành niên phạm tội thì các yếu tố như độ tuổi,
trình độ văn hoá, lịch sử bản thân và hoàn cảnh gia đình là những yêu tố có ý nghĩa trực
tiếp đến hành vi phạm tội của họ. Vì vậy, khi căn cứ vào nhân thân để quyết định hình
phạt đối với người chưa thành niên phạm tội ngoài các cần chú ý:
Thứ nhất, người tiến hành tố tụng mà trong trường hợp này là Thẩm phán và Hội thẩm
nhân dân phải là người có những hiểu biết cần thiết về tâm lý học, khoa học giáo dục
cũng như về hoạt động đấu tranh phòng, chống tội phạm của người chưa thành niên. Hội

15


cũng là những yếu tố mà Toà án phải cân nhắc thật kỹ khi quyết định hình phạt đối với
họ.
4. Căn cứ vào các tình tiết giảm nhẹ và tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự
Theo quy định tại Điều 45 Bộ luật hình sự, thì khi quyết định hình phạt, Toà án không chỉ
căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân
người phạm tội, mà còn phải căn cứ vào các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm
hình sự. Như vậy, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự cũng là một
trong những căn cứ quyết định hình phạt.
Nếu các yếu tố nào làm thay đổi mức độ của hành vi phạm tội theo hướng ít nghiêm
trọng hơn, thì gọi là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, còn những yếu tố nào làm
thay đổi mức độ của hành vi phạm tội theo hướng nghiêm trọng hơn, thì gọi là tình tiết
tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Các tình tiết giảm nhẹ hoặc tăng nặng trách nhiệm hình sự trong một vụ án cụ thể và đối
với người phạm tội cụ thể chỉ làm cho tội phạm thay đổi mức độ nguy hiểm trong vụ án
đó và cũng chỉ làm cho tội phạm thay đổi mức độ nguy hiểm trong phạm vi một cấu
thành chứ không làm thay đổi tích chất của tội phạm ấy.
Trước hết, nó chỉ là những tình tiết cụ thể có liên quan đến vụ án đang giải quyết, nói lên
mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm nhiều hay ít. Nếu các tình tiết đó không liên
quan gì đến vụ án đang xem xét thì không phải là tình tiết giảm nhẹ hoặc tăng nặng trách
nhiệm hình sự. Ví dụ: bị cáo bị truy tố về tội giết người, nhưng trước đó bị cáo đã bị xử
phạt hành chính về hành vi vi phạm các quy định về an toàn giao thông đường bộ thì
không được coi là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo về tội giết người.
Các tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự có tính chất ổn định về số
lượng và nội dung. Tất nhiên, sự ổn định này chỉ là tương đối. Trong quá trình phát triển
của xã hội nếu xuất hiện những tình tiết làm thay đổi mức độ nguy hiểm cho xã hội của
17


tội phạm sẽ được bổ sung sao cho phù hợp với tình hình xã hội trong tưng thời kỳ. Ví dụ:
Bộ luật hình sự năm 1985 chưa quy định tình tiết “phạm tội có tính chất chuyên nghiệp;

giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, có một số tình tiết nếu là người đã thành niên
phạm tội thì không được áp dụng nhưng đối với người chưa thành niên thì lại được áp
dụng. Ví dụ: Theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự thì chỉ người
phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả thì mới được coi là
tình tiết giảm nhẹ, nhưng đối với người chưa thành niên phạm tội thì bố, mẹ, người thân
của người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả cũng
được coi là tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự. Ngược lại, có
những tình tiết đối với người đã thành niên phạm tội thì được áp dụng còn đối với người
chưa thành niên phạm tội thì không được áp dụng, nhất là đối với các tình tiết tăng nặng.
Ví dụ: tình tiết tái phạm, tái phạm nguy hiểm thì không được áp dụng đối với người chưa
thành niên chưa đủ 16 tuổi, vì theo quy định tại khoản 6 Điều 69 Bộ luật hình sự thì “án
đã tuyên đối với người chưa thành niên phạm tội khi chưa đủ 16 tuổi, thì không tính để
xác định tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm”. Tuy chưa có hướng dẫn, nhưng theo chúng
tôi, các tình tiết tăng nặng như: “lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội; phạm tội đối
với trẻ em; phạm tội đối với người lệ thuộc mình về mặt công tác; xúi giục người chưa
thành niên phạm tội”. Ngoài ra, việc xác định các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ
trách nhiệm hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội còn phải căn cứ vào tâm sinh
lý của người chưa thành niên ở các lứa tuổi khác nhau để xác định mức độ tăng nặng
hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với họ. Ví dụ: Nếu các tình tiết của vụ án như
nhau thì, người mới hơn 14 tuổi phạm tội do bị cưỡng bức, đe doạ mức độ giảm nhẹ phải
nhiều hơn người gần 16 tuổi.
Thạc sỹ: Đinh Văn Quế

Quyết định hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội
Quyết định hình phạt với người chưa thành niên phạm tội là trường hợp đặc biệt.
Tính chất đặc biệt của trường hợp này là ở chổ hình phạt được quy định nhẹ hơn so với
19


người đã thành niên phạm tội có các tình tiết khác tương đương và mức giảm nhẹ phụ

đối với người thành niên đã phạm tội tương ứng.
Án đã tuyên đối với người chưa thành niên phạm tội khi chưa đủ 16 tuổi không
được tính để xác định tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm.
Theo quyết định của BLHS năm 1999, việc quyết định hình phạt được tiến hành
như sau:
+ Đối với phạt tiền: Nếu như BLHS năm 1985 trước khia chưa quy định áp dụng
phạt tiền đối với người chưâ thành niên phạm tội thì BLHS năm 1999 đã quy định phạt
tiền được áp dụng là hình phạt chính đối với người chưa thành niên phạm tội nếu họ ở độ
20


tuổi từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi và họ có thu nhập hoặc có tài sản riêng. Quy định mới này
nhằm hạn chế việc áp dụng hình phạt tù đối với người chưa thành niên đồng thời việc áp
dụng phạt tiền đối với người chưa thành niên phạm tội trong trường hợp này vẫn đảm bảo
được mục đích của hình phạt.
Mức phạt tiền đối với người chưa thành niên phạm tội không vượt qúa 1/2 mức
phạt tiền mà điều luật quy định.
+ Đối với hình phạt cải tạo không giam giữ: BLHS năm 1999 quy định giới hạn
hình phạt áp dụng cho người thành niên phạm tội không vượt quá 1/2 thời hạn và điều
luật quy định. Đồng thời, do người chưa thành niên hầu như chưa có thu nhập hoặc tài
sản riêng nên BLHS năm 1999 đã không khấu trừ thu nhập của họ khi bị kết án.
+ Đối với hình phạt tù có thời hạn: BLHS năm 1999 đã phân hóa người chưa
thành niên ra làm hai đối tượng là người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi và người từ đủ 14
tuổi đến dưới 16 tuổi với đường lối xử lí khác nhau. Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi
thì được xử lí nhẹ hơn người từ đủ 16 tuổi đến 18 tuổi. Trong từng đối tượng cụ thể nói
trên, nhà làm luật tách thành hai trường hợp ( trường hợp quy định hình phạt tù chung
thân, tử hình và trường hợp điều luật quy định hình phạt tù có thời hạn ) tương ứng với
mức hình phạt khác nhau phù hợp với độ tuổi của người thành niên cũng như yêu cầu đấu
tranh phòng chống tội phạm. Quy định này thể hiện sự tiến bộ về chất của BLHS năm
1999 khi quy định về quyết định hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội. Cụ

cụ thể mà tòa án đã tuyên cho từng tội. Tội nào có hình phạt cao nhất thì đó là tội nặng
nhất trong các tội mà người chưa thành niên đã phạm”. Ý kiến thứ hai cho rằng “ Trường
hợp không thể xác định được tội nặng nhất nếu hình phạt tối đa của khung hình phạt cao
nhất là hai tội bằng nhau và hình phạt khởi điểm của khung có hình phạt cao nhất cũng
bằng nhau thì trường hợp này tội nặng hơn là tội có hình phạt tối đa của khung hình phạt
nhẹ nhất cao hơn. Nếu hình phạt tối đa của khung hình phạt nhẹ nhất bằng nhau thì tội
nặng hơn là tội có hình phạt khởi điểm của khung hình phạt nhẹ nhất cao hơn.”
Chúng tôi cho rằng ý kiến thứ nhất tuy có ưu điểm là đơn giản hóa việc vận dụng
khái niệm tội nặng hơn trong thực tế nhưng không hợp lí vì không thể coi tội trộm cắp tài
sản nặng hơn tội giết người nếu ở trường hợp cụ thể, người phạm tội trộm cắp tài sản bị
phạt 10 năm tù, còn ở tội giết người, bị cáo chỉ bị phạt có 7 năm tù. Theo chúng tôi, ý
kiến thứ hai hợp lí hơn nhưng chưa đủ để giải quyết những vướng mắc còn lại. Cụ thể là
nếu hình phạt tối đa và hình phạt tối thiểu của khung hình phạt có hình phạt nhẹ nhất
bằng nhau thì việc xác định tội nặng hơn sẽ như thế nào? Theo chúng tôi, nếu tội nào có
quy định hình phạt bổ sung thì tội đó nặng hơn. Tuy nhiên, nếu cả hai tội đều quy định
hình phạt bổ sung thì tội nặng hơn sẽ là tội có khác thể quan trong hơn.
Quá trình vận dụng Điều 74 vào thực tiễn còn gặp nhiều vướng mắc khác. Đó là
do hạn chế về kỉ thuật lập pháp. Cụ thể là Điều 74 quy định : “ …nếu điều luật được áp
dụng có quy định hình phạt tù chung thân hoặc tử hình” hoặc “ … không quá 3/4 mức
phạt tù mà điều luật quy” hoặc… “ không quá 1/2 mức phạt tù mà điều luật quy
định”. Bởi vì, điều luật quy định về tội phạm cụ thể có thể có một hoặc nhiều khung hình
phạt trong khi đó Điều 74 chỉ dùng từ chung chung là “ điều luật” mà không chỉ rõ khung
hình phạt bị áp dụng. Mặt khác, cần hiểu rằng nhà làm luật quy định giảm nhẹ hình phạt
cho người thành niên phạm tội so với trong cùng một khung hình phạt ( trong điều kiện
các tình tiết khác tương đương ). Do đó, quy định chung chung như trên dễ gây hiểu
nhầm và vận dụng không thống nhất. Ví dụ: Bị cáo E phạm tội cướp tài sản theo khoản 1
Điều 133 BLHS năm 1999, khi phạm tội bị cáo tròn 15 tuổi. Với quy định chưa rõ như
trên của Điều 74, bởi vì, tội cướp tài sản có quy định hình phạt tù chung thân, tử hình.
Nếu vận dụng khoản 2 đoạn 1 Điều 74 thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng cho bị
cáo không quá 12 năm tù trong khi đó mức cao nhất của khoản 1 Điều 133 chỉ là 10 năm


23




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status