1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT NGUYỄN THỊ THU HUYỀN
HÌNH PHẠT TÙ CÓ THỜI HẠN
ÁP DỤNG ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN
PHẠM TỘI THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS. Cao Thị Oanh HÀ NỘI - 2012
4
mục lục
Trang
Trang phụ bìa Lời cam đoan Mục lục Danh mục các bảng
1.2.3.
Điều kiện áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với ng-ời
ch-a thành niên phạm tội
30
1.3.
Pháp luật hình sự một số n-ớc về hình phạt tù có thời hạn áp
dụng với ng-ời ch-a thành niên phạm tội
34
Ch-ơng 2: Hình phạt tù có thời hạn áp dụng đối với
ng-ời ch-a thành niên phạm tội theo quy
định của luật hình sự Việt Nam
38
2.1.
Theo quy định của pháp luật hình sự Việt Nam từ năm 1945
38
5
đến tr-ớc khi Bộ luật hình sự năm 1985 có hiệu lực thi hành
2.2.
Theo quy định của Bộ luật hình sự 1985
44
2.3.
Theo quy định của Bộ luật hình sự 1999
50
Ch-ơng 3: Thực tiễn áp dụng hình phạt tù có thời hạn
đối với ng-ời ch-a thành niên phạm tội và
các giải pháp nâng cao hiệu quả của việc áp
dụng hình phạt
6
Danh mục các bảng
Số hiệu
bảng
Tên bảng
Trang
3.1
Thống kê số l-ợng bị cáo là ng-ời ch-a thành niên đã bị
xét xử từ 2007 đến năm 2010
63
3.2
Cơ cấu hình phạt áp dụng đối với ng-ời ch-a thành niên
phạm tội từ 1/10/2006 đến năm 30/9/2010
65
3.3
Cơ cấu loại tội phạm do ng-ời ch-a thành niên thực hiện
từ năm 2007 đến 2010
68 7
Mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Thanh, thiếu niên là thế hệ t-ơng lai của đất n-ớc, là lớp ng-ời kế tục
sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, có vai trò quan trọng trong công cuộc
ràng về vấn đề này để nhằm mục đích giáo dục, cải tạo ng-ời ch-a thành niên
phạm tội trở thành ng-ời có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật và
các quy tắc của cuộc sống xã hội, phòng ngừa họ phạm tội mới đồng thời đảm
bảo phòng ngừa chung.
Với những lý do đó chúng tôi mạnh dạn lựa chọn đề tài: "Hình phạt tù
có thời hạn áp dụng đối với ng-ời ch-a thành niên phạm tội theo luật hình
sự Việt Nam" là đề tài luận văn thạc sĩ của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Hình phạt áp dụng với ng-ời ch-a thành niên phạm tội là một vấn đề
phức tạp. Trong khoa học pháp lý hình sự đã có nhiều công trình nghiên cứu
về hình phạt nói chung và hình phạt áp dụng với ng-ời ch-a thành niên phạm
tội nói riêng nh-: 1) Luận án tiến sĩ Luật học: Các hình phạt chính trong luật
hình sự Việt Nam, của Nguyễn Sơn; 2) Luận văn thạc sĩ Luật học: Hình phạt tù
trong luật hình sự Việt Nam, những vấn đề lý luận và thực tiễn, của tác giả
Đào Tú Hoa; 3) Luận văn thạc sĩ Luật học: Các hình phạt và biện pháp t-
pháp áp dụng đối với ng-ời ch-a thành niên phạm tội theo luật hình sự Việt
Nam (trên cơ sở nghiên cứu số liệu thực tế trên địa bàn thành phố Hà Nội),
của L-u Ngọc Cảnh và một số bài viết đ-ợc đăng trên các báo và tạp chí khoa
học pháp lý về lĩnh vực này có thể kể đến các công trình sau: 1). GS. TSKH. Lê
Cảm, TS. Đỗ Thị Ph-ợng, T- pháp hình sự đối với ng-ời ch-a thành niên:
Những khía cạnh pháp lý hình sự, tố tụng hình sự, tội phạm học và so sánh
luật học, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 20, 10/2004; 2) TS. D-ơng Tuyết Miên,
9
Quyết định hình phạt đối với ng-ời ch-a thành niên phạm tội, Tạp chí Luật
học, số 4/2002; 3) Trịnh Đình Thể, Một số ý kiến về áp dụng hình phạt tù đối
với ng-ời ch-a thành niên phạm tội, Tạp chí Dân chủ và pháp luật, số 10/1997;
4) Nguyễn Thanh Trúc, Biện pháp miễn chấp hành có điều kiện thời hạn còn
lại của hình phạt tù đối với ng-ời ch-a thành niên phạm tội, Tạp chí Nghiên
cứu lập pháp, số 20/2008; 5) Nguyễn Mai Bộ, Một số ý kiến về chính sách hình
Để đạt đ-ợc mục đích nói trên luận văn tập trung nghiên cứu khái
niệm, mục đích, điều kiện áp dụng của hình phạt tù có thời hạn áp dụng đối
với ng-ời ch-a thành niên phạm tội theo quy định của pháp luật hình sự Việt
Nam từ năm 1945 đến nay; thực tiễn áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với
ng-ời ch-a thành niên phạm tội thông qua số liệu của các Tòa án và các bản
án của Tòa án trong những năm gần đây. Từ đó nêu lên thực trạng áp dụng
hình phạt này trong thực tiễn và đ-a ra giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật
cũng nh- nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng hình phạt này trong thực tiễn.
4. Ph-ơng pháp nghiên cứu
Luận văn đ-ợc thực hiện trên cơ sở các nguyên tắc và ph-ơng pháp
luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, trên nền tảng t- t-ởng, quan điểm của Đảng,
Nhà n-ớc và Chủ tịch Hồ Chí Minh về con ng-ời và sự phát triển của con
ng-ời. Về bảo vệ, chăm sóc, giáo dục thanh thiếu niên; về đấu tranh phòng
chống tội phạm nói chung và đấu tranh phòng chống tội phạm do ng-ời ch-a
thành niên thực hiện nói riêng. Ngoài ra, trong quá trình nghiên cứu còn sử
dụng đồng bộ các ph-ơng pháp nghiên cứu cụ thể là ph-ơng pháp duy vật biện
chứng, ph-ơng pháp phân tích đối chiếu, ph-ơng pháp so sánh, ph-ơng pháp
tổng hợp, ph-ơng pháp mô tả, giải thích, ph-ơng pháp thống kê
5. Những điểm mới của luận văn
Nội dung của luận văn đ-ợc nghiên cứu từ tổng thể các quy định của
pháp luật hình sự n-ớc ta từ năm 1945 đến nay về hình phạt tù có thời hạn áp
11
dụng đối với ng-ời ch-a thành niên phạm tội. Từ việc nghiên cứu thực tiễn,
luận văn đã nêu lên những bất cập, v-ớng mắc trong các quy định của pháp
luật hình sự cũng nh- trong quá trình áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với
ng-ời ch-a thành niên phạm tội ở n-ớc ta. Từ đó đ-a ra những đề xuất về
h-ớng giải quyết sao cho phù hợp với thực tiễn, đồng thời hạn chế phần nào
những sai lầm, khiếm khuyết trong quá trình xây dựng pháp luật hình sự, thực
tiễn áp dụng và thi hành hình phạt tù có thời hạn đối với ng-ời ch-a thành
Ch-ơng 3: Thực tiễn áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với ng-ời
ch-a thành niên phạm tội và các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của việc
áp dụng hình phạt.
13
Ch-ơng 1
Một số vấn đề chung về Ng-ời ch-a thành niên phạm tội
và hình phạt tù có thời hạn áp dụng đối với
Ng-ời ch-a thành niên phạm tội
1.1. Một số vấn đề chung về ng-ời ch-a thành niên phạm tội
1.1.1. Khái niệm ng-ời ch-a thành niên phạm tội
Ng-ời ch-a thành niên phạm tội là một vấn đề phổ biến ở tất cả các
n-ớc trên thế giới bất kể n-ớc đó có thể chế chính trị nh- thế nào. Vấn đề
ng-ời ch-a thành niên phạm tội đang là mối lo ngại chung cho mọi xã hội và
toàn cầu. Song hiểu thế nào là ng-ời ch-a thành niên thì mỗi quốc gia lại có
một quan niệm khác nhau, điều đó phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế -
văn hóa - xã hội, dân trí, phong tục, tập quán của mỗi n-ớc.
Trong pháp luật cũng vậy mặc dù đã đ-ợc đề cập tới trong nhiều văn
bản pháp luật quốc tế song ở mỗi văn kiện cũng tồn tại những tên gọi khác
nhau: ng-ời ch-a thành niên, trẻ vị thành niên và trẻ em. Pháp luật ở mỗi quốc
gia cũng có những tiêu chí cụ thể quy định về ng-ời ch-a thành niên khác
nhau. Đa số các quốc gia đều ghi nhận trong hệ thống pháp luật độ tuổi đ-ợc
coi là ng-ời ch-a thành niên.
Công -ớc Quốc tế về quyền trẻ em đ-ợc Đại hội đồng Liên hợp quốc
thông qua ngày 20/11/ 1990 tại Điều 1 quy định nh- sau: "Trong phạm vi của
Công -ớc này, trẻ em có nghĩa là ng-ời d-ới 18 tuổi, trừ tr-ờng hợp luật pháp
áp dụng đối với trẻ em đó quy định tuổi thành niên sớm hơn" [23]. Nh- vậy độ
tuổi của trẻ em đ-ợc pháp luật quốc tế quy định là "ng-ời d-ới 18 tuổi" và là
"ng-ời còn non nớt về thể chất cần đ-ợc chăm sóc và bảo vệ thích hợp về mặt
vụ công dân".
15
Bộ luật lao động Việt Nam Điều 119 khoản 1 quy định:
Ng-ời lao động ch-a thành niên là ng-ời lao động d-ới 18
tuổi. Nơi có sử dụng ng-ời lao động ch-a thành niên phải lập sổ
theo dõi riêng, ghi đầy đủ họ tên, ngày sinh, công việc đang làm,
kết quả kiểm tra sức khỏe định kỳ và xuất trình khi thanh tra viên
lao động yêu cầu [29].
Nh- vậy, có thể thống nhất một quan điểm là ng-ời ch-a thành niên là
ng-ời d-ới 18 tuổi. Quan niệm này cũng hoàn toàn phù hợp với Công -ớc
quốc tế về quyền trẻ em ngày 20/2/1990 mà n-ớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam là thành viên.
Trong luật hình sự Việt Nam, khái niệm ng-ời ch-a thành niên đ-ợc
nhà làm luật sử dụng với t- cách vừa là đối t-ợng tác động của tội phạm vừa là
chủ thể thực hiện tội phạm. Với t- cách là chủ thể của tội phạm, ng-ời ch-a
thành niên phạm tội là khái niệm không chỉ mang tính pháp lý mà còn có ý
nghĩa chính trị xã hội sâu sắc. Bộ luật hình sự 1999 quy định ng-ời ch-a thành
niên là những ng-ời ch-a đủ 18 tuổi, nh-ng chỉ những ng-ời ch-a thành niên
từ đủ 14 tuổi đến d-ới 18 tuổi mới có thể phải chịu trách nhiệm hình sự về
hành vi nguy hiểm cho xã hội, còn ng-ời ch-a thành niên d-ới 14 tuổi thì
không phải chịu trách nhiệm hình sự. Ng-ời từ đủ 14 tuổi trở lên, nh-ng ch-a
đủ 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do
cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, còn ng-ời từ đủ 16 tuổi trở lên phải
chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm (Điều 12 Bộ luật hình sự). Đồng
thời, luật hình sự Việt Nam cũng đ-a ra khái niệm ng-ời ch-a thành niên
phạm tội chỉ bao gồm những ng-ời từ đủ 14 tuổi trở lên nh-ng ch-a đủ 18 tuổi
thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đ-ợc quy định trong luật hình sự là tội
phạm (Điều 68 Bộ luật hình sự).
Ng-ời ch-a thành niên là ng-ời ch-a phát triển đầy đủ về thể chất và
và điều kiện gây ra tội phạm.
17
Chính vì vậy việc xử lý những hành vi phạm tội do ng-ời ch-a thành
niên thực hiện cần phải đ-ợc xem xét kỹ l-ỡng nhằm phù hợp và thể hiện
đ-ợc tinh thần nhân đạo của pháp luật hình sự Việt Nam và nhằm phù hợp với
tinh thần công -ớc của Liên hợp quốc về quyền trẻ em.
Nguyên tắc xử lý ng-ời ch-a thành niên phạm tội là những t- t-ởng
chỉ đạo xuyên suốt trong quá trình xây dựng cũng nh- áp dụng các quy định
của pháp luật hình sự, pháp luật tố tụng hình sự, các văn bản có liên quan đến
ng-ời ch-a thành niên phạm tội. Căn cứ vào chính sách hình sự của Đảng và
Nhà n-ớc ta về cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm và dựa trên cơ sở những
kinh nghiệm thực tiễn đấu tranh phòng chống tội phạm do ng-ời ch-a thành
niên thực hiện cũng nh- các nguyên tắc cơ bản của luật hình sự Việt Nam, nhà
làm luật đã quy định một cách toàn diện và thống nhất đ-ờng lối xử lý về hình
sự đối với ng-ời ch-a thành niên phạm tội tại một ch-ơng riêng của Bộ luật
hình sự (Ch-ơng X - Phần chung).
Nguyên tắc xử lý đối với ng-ời ch-a thành niên phạm tội đ-ợc quy
định tại Điều 69 Bộ luật hình sự, các nguyên tắc này đã thể hiện đầy đủ quan
điểm, định h-ớng của Đảng và Nhà n-ớc ta trong việc bảo vệ ng-ời ch-a
thành niên. Các nguyên tắc này bao gồm:
- Nguyên tắc thứ nhất:
Việc xử lý ng-ời ch-a thành niên phạm tội chủ yếu nhằm
giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh và trở
thành công dân có ích cho xã hội. Trong mọi tr-ờng hợp điều tra,
truy tố, xét xử hành vi phạm tội của ng-ời ch-a thành niên, các cơ
quan nhà n-ớc có thẩm quyền phải xác định khả năng nhận thức của
họ về tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nguyên
nhân và điều kiện gây ra tội phạm [32].
Ng-ời ch-a thành niên với đặc điểm là những ng-ời ở trong độ tuổi
hành vi không phù hợp, làm cho họ tự giác sửa chữa để trở thành công dân có
ích cho xã hội. Qua đó góp phần đấu tranh phòng, chống tội phạm do ng-ời
19
ch-a thành niên thực hiện, cũng nh- có những chính sách hình sự phù hợp áp
dụng đối với họ khi bị xử lý.
- Nguyên tắc thứ hai: "Ng-ời ch-a thành niên phạm tội có thể đ-ợc
miễn trách nhiệm hình sự, nếu ng-ời đó phạm tội ít nghiêm trọng hoặc tội
nghiêm trọng, gây hại không lớn, có nhiều tình tiết giảm nhẹ và đ-ợc gia đình
hoặc cơ quan, tổ chức nhận giám sát, giáo dục" [32]. Nh- vậy, để có thể đ-ợc
miễn trách nhiệm hình sự trong tr-ờng hợp này cần có các điều kiện sau:
+ Ng-ời phạm tội là ng-ời ch-a thành niên. Theo quy định của Bộ luật
hình sự, ng-ời ch-a thành niên phạm tội là ng-ời từ đủ 14 tuổi đến d-ới 18 tuổi
thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đ-ợc quy định trong Bộ luật hình sự
và họ phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi của mình theo quy định của
pháp luật hình sự.
+ Tội phạm do ng-ời ch-a thành niên thực hiện phải là tội ít nghiêm trọng
hoặc tội phạm nghiêm trọng, gây hại không lớn. Theo quy định tại khoản 3
Điều 8 Bộ luật hình sự 1999 thì: "Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm gây nguy
hại không lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy
là đến 3 năm tù; tội phạm nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại lớn cho xã
hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến 7 năm tù" [32].
So với Bộ luật hình sự 1985, Bộ luật hình sự 1999 đã quy định một điểm mới
là ng-ời ch-a thành niên phạm tội không chỉ đ-ợc miễn trách nhiệm hình sự
khi phạm tội ít nghiêm trọng mà đối với tội nghiêm trọng cũng đ-ợc xem xét
miễn trách nhiệm hình sự. Ngoài ra, theo quy định tại khoản 3 Điều 8 Bộ luật
hình sự 1999 thì "tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại không
lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến 3
năm tù; tội phạm nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại lớn cho xã hội mà
mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến 7 năm tù" [32]. Bộ luật
dân. Còn tại khoản 2 Điều 69 Bộ luật hình sự năm 1999 thì thẩm quyền quyết
định miễn trách nhiệm hình sự thuộc về các cơ quan tiến hành tố tụng tùy
21
thuộc các giai đoạn tố tụng t-ơng ứng (Cơ quan điều tra với sự phê chuẩn của
Viện kiểm sát, Viện kiểm sát và Tòa án).
Nh- vậy, theo quy định của nguyên tắc này thì ngoài những điều kiện
miễn trách nhiệm hình sự đ-ợc áp dụng chung, ng-ời ch-a thành niên từ đủ
16 tuổi trở lên phạm tội có thể đ-ợc miễn truy cứu trách nhiệm hình sự nếu
ng-ời đó phạm tội ít nghiêm trọng, gây hại không lớn, có nhiều tình tiết giảm
nhẹ và đ-ợc gia đình, cơ quan, tổ chức nhận giám sát, giáo dục. Ng-ời ch-a
thành niên từ đủ 14 tuổi đến d-ới 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự
khi phạm tội rất nghiêm trọng do cố ý hoặc phạm tội đặc biệt nghiêm trọng.
Việc miễn trách nhiệm hình sự đối với ng-ời ch-a thành niên đ-ợc thực hiện
theo quy định chung.
- Nguyên tắc thứ ba: "Việc truy cứu trách nhiệm hình sự với ng-ời ch-a
thành niên phạm tội và áp dụng hình phạt đối với họ đ-ợc thực hiện chỉ trong
những tr-ờng hợp thật cần thiết và phải căn cứ vào tính chất của hành vi phạm
tội, vào những đặc điểm nhân thân và yêu cầu của phòng ngừa tội phạm" [32].
Theo nguyên tắc này thì các cơ quan tiến hành tố tụng có thể áp dụng các biện
pháp xử lý khác khi thấy không cần thiết phải truy cứu trách nhiệm hình sự
đối với ng-ời ch-a thành niên phạm tội.
Tr-ờng hợp cần thiết phải truy cứu trách nhiệm hình sự đối với ng-ời
ch-a thành niên thì không có nghĩa là phải áp dụng hình phạt đối với họ mà có
thể áp dụng các biện pháp t- pháp và thậm chí miễn cả hình phạt đối với họ.
Đ-a ng-ời ch-a thành niên ra xét xử và áp dụng hình phạt đối với họ chỉ trong
những tr-ờng hợp phạm tội có tính chất và mức độ nguy hiểm cao cho xã hội,
có ý thức phạm tội sâu sắc và xét thấy các biện pháp giáo dục và tác động
khác của xã hội không đạt đ-ợc mục đích giáo dục, cải tạo. Việc truy cứu
trách nhiệm hình sự không chỉ căn cứ vào tính chất của hành vi phạm tội mà
pháp luật của Nhà n-ớc ta, phù hợp với t- t-ởng thống nhất xuyên suốt là lấy
giáo dục, phòng ngừa làm mục đích trung tâm trong mọi hoạt động tố tụng
23
của các cơ quan t- pháp mà bị can, bị cáo là ng-ời ch-a thành niên. Bên cạnh
đó nhằm phù hợp với đặc điểm của ng-ời ch-a thành niên phạm tội và thực
hiện cam kết của Nhà n-ớc ta với cộng đồng quốc tế, nội luật hóa nguyên tắc
đ-ợc ghi nhận trong Công -ớc Quyền trẻ em, đó là việc giam giữ chỉ đ-ợc áp
dụng cuối cùng khi không còn biện pháp nào khác. Luật sửa đổi, bổ sung một
số điều Bộ luật hình sự 1999 đã bổ sung một nguyên tắc mới xử lý đối với
ng-ời ch-a thành niên phạm tội: " Khi áp dụng hình phạt đối với ng-ời ch-a
thành niên phạm tội cần hạn chế áp dụng hình phạt tù" [35].
Tù chung thân hoặc tử hình là những hình phạt có tính chất nghiêm
khắc cao, chỉ áp dụng đối với tr-ờng hợp phạm tội đặc biệt nghiêm trọng.
Thêm vào đó theo nguyên tắc đầu tiên, việc xử lý ng-ời ch-a thành niên phạm
tội chủ yếu nhằm giáo dục, cải tạo họ. Do đó, việc quy định không áp dụng hai
hình phạt nghiêm khắc nhất trong hệ thống hình phạt đó là hình phạt tù chung
thân và tử hình là hoàn toàn phù hợp, điều đó sẽ góp phần giúp đỡ, giáo dục
ng-ời ch-a thành niên phạm tội sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh và trở
thành công dân có ích. Cùng với việc quy định khi xử phạt tù có thời hạn, Tòa án
cho ng-ời ch-a thành niên phạm tội đ-ợc h-ởng mức án nhẹ hơn mức án áp
dụng đối với ng-ời đã thành niên phạm tội t-ơng ứng đã thể hiện rõ nét chính
sách nhân đạo sâu sắc của Nhà n-ớc ta đối với ng-ời ch-a thành niên phạm tội.
Việc quy định không áp dụng hình phạt tiền đối với ng-ời ch-a thành
niên phạm tội ở độ tuổi từ 14 tuổi đến d-ới 16 tuổi là điểm mới so với quy
định của Bộ luật hình sự 1985. Đồng thời phù hợp với thực tế đời sống kinh tế
của ng-ời phạm tội và thực tế xã hội Việt Nam. Bởi lẽ, ng-ời ch-a thành niên
ở độ tuổi từ đủ 14 đến d-ới 16 tuổi còn sống phụ thuộc vào gia đình, ch-a thể
có kinh tế độc lập.
- Nguyên tắc thứ sáu: "án đã tuyên đối với ng-ời ch-a thành niên
khích ng-ời ch-a thành niên phạm tội tích cực cải tạo, giáo dục và sửa chữa
sai lầm để trở thành ng-ời có ích cho gia đình và xã hội.
25
1.2. Một số vấn đề chung về hình phạt tù có thời hạn áp
dụng đối với ng-ời ch-a thành niên phạm tội
Trong lịch sử loài ng-ời, hình phạt luôn đ-ợc coi là công cụ chủ yếu
nhất để đấu tranh phòng chống tội phạm. Tuy nhiên, việc nhận thức về những
vấn đề liên quan đến hình phạt nói chung trong khoa học pháp lý hình sự cho
đến bây giờ vẫn ch-a có một quan điểm thống nhất. Vì vậy, trong giai đoạn
xây dựng nhà n-ớc pháp quyền và cải cách t- pháp ở Việt Nam hiện nay việc
nghiên cứu những vấn đề lý luận về hình phạt có ý nghĩa rất quan trọng trên cả
ba mặt đó là lập pháp, khoa học và thực tiễn áp dụng pháp luật.
Theo Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999, "Hình phạt là biện pháp
c-ỡng chế nghiêm khắc nhất của nhà n-ớc nhằm t-ớc bỏ hoặc hạn chế quyền,
lợi ích của ng-ời phạm tội. Hình phạt đ-ợc quy định trong Bộ luật hình sự và
do Tòa án quyết định" [32, Điều 26].
Pháp luật hình sự n-ớc ta không cho phép áp dụng hình phạt đối với
những hành vi không phải là tội phạm, không đ-ợc quy định trong Bộ luật
hình sự và nếu hình phạt ấy cũng không đ-ợc quy định trong hệ thống hình
phạt hiện hành và trong chế tài của các điều luật cụ thể. Khi hành vi nguy
hiểm cho xã hội đ-ợc coi là tội phạm đòi hỏi phải quy định những loại hình
phạt và mức hình phạt t-ơng xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm của
hành vi do ng-ời thực phạm tội thực hiện. Tính chất và mức độ nguy hiểm của
hành vi phạm tội phụ thuộc vào nhiều yếu tố nh-: nhân thân ng-ời phạm tội,
quan hệ xã hội bị xâm phạm, thiệt hại đã gây ra hoặc đe dọa gây ra cho xã
hội, ý thức chủ quan của ng-ời phạm tội.
Vì vậy, Nhà n-ớc quy định các loại hình phạt khác nhau cho mỗi hành
vi phạm tội khác nhau và ngay trong cùng một loại hành vi phạm tội cũng có
các loại hình phạt khác nhau để áp dụng cho từng tr-ờng hợp cụ thể. Hình
không phù hợp với mục đích của hình phạt. Do đó những loại hình phạt tù đó
đã đ-ợc thay thế bằng các biện pháp hành chính hoặc giáo dục tại chỗ. Bắt