ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THỊ TỐ NGA
CÁC BIỆN PHÁP TƯ PHÁP ÁP DỤNG
ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI
THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HÌNH SỰ
Chuyên ngành : Luật hình sự
Mã số : 60 38 40
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2011
Công trình được hoàn thành
tại Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội
Lời cam đoan Mục lục Danh mục các bảng MỞ ĐẦU
1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC ÁP DỤNG CÁC BIỆN
PHÁP TƯ PHÁP ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH
NIÊN PHẠM TỘI
8
1.1.
Đặc điểm tâm lý của người chưa thành niên phạm tội và
nguyên tắc xử lý người chưa thành niên phạm tội
8
1.2.
Khái niệm và các đặc điểm của biện pháp tư pháp đối với
người chưa thành niên phạm tội
14
1.2.1.
Khái niệm biện pháp tư pháp đối với người chưa thành niên
phạm tội
14
1.2.2.
Các đặc điểm của biện pháp tư pháp
Hình sự
54
2.3.1.
Tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm
54
2.3.2.
Biện pháp trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại,
buộc công khai xin lỗi
56
2.3.3.
Biện pháp bắt buộc chữa bệnh
58
Chương 3: THỰC TIỄN ÁP DỤNG BIỆN PHÁP TƯ PHÁP ĐỐI VỚI
NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI VÀ MỘT SỐ
KIẾN NGHỊ
61
3.1.
Tình hình và nguyên nhân người chưa thành niên phạm tội
61
3.1.1.
Tình hình người chưa thành niên phạm tội
61
3.1.2.
Nguyên nhân phạm tội của người chưa thành niên
64
3.2.
Thực tiễn áp dụng và một số hạn chế của biện pháp tư pháp
đối với người chưa thành niên phạm tội
66
63
3.4
Số liệu áp dụng biện pháp tư pháp và các hình phạt
67
3.5
Số người chưa thành niên chấp hành biện pháp tư pháp
theo Điều 70 Bộ luật Hình sự từ 2007 - tháng 7/2009
68 1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Chăm sóc và bảo vệ trẻ em là nhiệm vụ chung của toàn nhân loại,
không có sự phân biệt giữa các quốc gia có chế độ xã hội và bản sắc dân tộc
khác nhau. Với người Việt Nam, việc chăm sóc và bảo vệ trẻ em không chỉ là
nhiệm vụ mà còn là một truyền thống tốt đẹp, lâu đời của dân tộc. Quyền và
lợi ích trẻ em không chỉ được ghi nhận trong các văn bản pháp luật trong nước
như Hiến pháp, Luật Bảo vệ, Chăm sóc và Giáo dục trẻ em (năm 2004)… mà
còn thể hiện ở những cam kết, điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.
Việt Nam là một trong những nước đầu tiên ở Châu Á tham gia Công ước về
quyền trẻ em của Liên hợp quốc.
Và với quan điểm bảo vệ, chăm sóc trẻ em một cách toàn diện, từ việc
dành cho các em những điều kiện tốt nhất về giáo dục, kinh tế, xã hội, y tế…
để các em phát triển toàn diện đến việc áp dụng các biện pháp xử lý phù hợp
khi các em vi phạm pháp luật để tạo điều kiện cho các em nhận thức đúng đắn
hơn đối với hành vi của mình, pháp luật Việt Nam đã có những quy định
tương đối toàn diện đối với quyền và nghĩa vụ của các em. Các quy định của
Bộ luật Hình sự cũng không nằm ngoài mục đích trên. Người chưa thành niên
với sự giúp đỡ của gia đình, nhà trường và xã hội. Thể hiện điều này, về
nguyên tắc xử lý người chưa thành niên phạm tội sẽ ưu tiên áp dụng các quy
định riêng quy định tại Chương X - Những quy định đối với người chưa thành
niên, đồng thời có thể áp dụng những quy định khác trong phần chung của Bộ
luật nếu không trái với những quy định của chương này. Điều này có nghĩa là,
trong trường hợp nếu thấy không cần thiết phải áp hình phạt đối với người
chưa thành niên, Tòa án ưu tiên áp dụng một trong các biện pháp tư pháp quy
định tại Điều 70 của Bộ luật Hình sự 1999.
3
1. Đối với người chưa thành niên phạm tội, Tòa án có thể
quyết định áp dụng một trong các biện pháp tư pháp có tính giáo
dục phòng ngừa sau đây:
a) Giáo dục tại xã, phường, thị trấn;
b) Đưa vào trường giáo dưỡng [28].
Biện pháp tư pháp mang ý nghĩa lớn trong việc xử lý hình sự đối với
người chưa thành niên phạm tội, thể hiện tính giáo dục cao, đồng thời thể hiện
được đường lối xử lý mang tính nhân đạo, có sự cân nhắc tới đặc điểm tâm lý
của người phạm tội. Việc áp dụng biện pháp tư pháp đối với người chưa thành
niên sẽ không để lại án tích đối với họ. Ngoài ra, các biện pháp tư pháp quy
định tại các Điều 41, 42, 43 Bộ luật Hình sự 1999 cũng có thể được áp dụng.
Tuy nhiên, trong quá trình áp dụng pháp luật, biện pháp tư pháp áp
dụng đối với người chưa thành niên phạm tội còn tồn tại một số điểm hạn chế
như hiệu quả áp dụng của biện pháp không cao, người bị áp dụng lẫn gia đình,
cộng đồng nơi người đó sinh sống thường có tâm lý được "tha bổng", cơ chế
phân công, theo dõi không chặt chẽ, việc tái hòa nhập của người chưa thành
niên bị áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng là khó khăn, phạm vi áp
dụng còn hạn chế, biện pháp lựa chọn còn ít…, chưa tương thích với các
chuẩn mực quốc tế. Xuất phát từ những điểm hạn chế trên cho thấy cần phải
nâng cao hiệu quả của các biện pháp tư pháp đang được quy định trong Bộ
Ngoài ra còn một số công trình khác như:
+ Tăng cường năng lực hệ thống tư pháp người chưa thành niên tại
Việt Nam, Thông tin khoa học chuyên đề, Viện Khoa học pháp lý, năm 2000;
+ Đề tài nghiên cứu cấp trường Đại học quốc gia Hà Nội: Những vẫn
đề lý luận và thực tiễn về tư pháp hình sự đối với người chưa thành niên
phạm tội, của Đỗ Thị Phượng, Bùi Đức Lợi, Hà Nội, năm 2005;
5
+ Tư pháp hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội, những
khía cạnh tội phạm học, của TSKH. PGS Lê Cảm - ThS. Đỗ Thị Phượng, Tạp
chí Tòa án nhân dân, số 22/2004;
+ Áp dụng chính sách hình sự đối với người chưa thành niên phạm
tội, của Trịnh Đình Thể, Nxb Tư pháp, Hà Nội, 2006.
Tuy nhiên, các nghiên cứu do phạm vi và mục đích của mình nên
không đi sâu về các biện pháp tư pháp áp dụng đối với người chưa thành niên,
thường là các bài viết nghiên cứu trên các tạp chí. Biện pháp tư pháp áp dụng
đối với người chưa thành niên thường chỉ là một phần trong toàn bộ nghiên
cứu về trách nhiệm hình sự của người chưa thành niên hoặc các chế tài áp dụng
đối với người chưa thành niên. Chính vì vậy, các nghiên cứu về biện pháp tư
pháp áp dụng đối với người chưa thành niên chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu
các điều kiện áp dụng mà chưa có sự so sánh với các chế tài khác, tìm hiểu về
sự thay đổi trong quy định của pháp luật liên quan đến biện pháp tư pháp.
Đây chính là những vấn đề nghiên cứu còn bỏ ngỏ mà luận văn này
mong muốn góp phần giải quyết.
3. Mục đích, nhiệm vụ, đối tượng, phạm vi và thời gian nghiên
cứu của luận văn
3.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích của luận văn là làm sáng tỏ về mặt lý luận cũng như những
nội dung cơ bản của hệ thống biện pháp tư pháp áp dụng đối với người chưa
thành niên phạm tội theo luật hình sự Việt Nam trên cơ sở đánh giá thực tiễn
nghiên cứu cụ thể để làm sáng tỏ về mặt khoa học của từng vấn đề tương ứng.
Đó là phương pháp duy vật biện chứng, phương pháp duy vật lịch sử và các
phương pháp: phương pháp so sánh, phương pháp phân tích, phương pháp
tổng hợp, phương pháp thống kê, phương pháp logic…
7
5. Những đóng góp về mặt khoa học của luận văn
Luận văn là công trình nghiên cứu khoa học về mặt lý luận và thực
tiễn của biện pháp tư pháp áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội.
Luận văn phân tích một cách cụ thể và toàn diện các quy định của
pháp luật hình sự về biện pháp tư pháp áp dụng đối với người chưa thành niên
phạm tội. Phân tích, đánh giá chi tiết từng điều kiện, đặc điểm của từng biện
pháp, đồng thời có sự so sánh, đối chiếu với pháp luật quốc tế. Nghiên cứu,
đưa ra các giải pháp kiến nghị việc hoàn thiện các quy định đối với việc xử lý
người chưa thành niên phạm tội bằng biện pháp tư pháp, từ đó, tăng cường
hiệu quả của công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm nói chung và tội phạm
ở lứa tuổi vị thành niên nói riêng.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận của việc áp dụng các biện pháp tư pháp đối
với người chưa thành niên phạm tội.
Chương 2: Các quy định pháp luật về biện pháp tư pháp đối với người
chưa thành niên phạm tội.
Chương 3: Thực tiễn áp dụng biện pháp tư pháp đối với người chưa
thành niên phạm tội và một số kiến nghị.
8
14 tuổi đến dưới 18 tuổi, có năng lực trách nhiệm hình sự chưa đầy đủ do sự
hạn chế bởi các đặc điểm về tâm, sinh lý và đã có lỗi (cố ý hoặc vô ý) trong
việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự cấm" [6].
Cùng với độ tuổi trên, thì người chưa thành niên có những đặc điểm
tâm lý riêng, chính những đặc điểm tâm lý này đã cũng là một trong những
nguyên nhân ảnh hưởng tới quá trình phạm tội của các em. Đặc điểm tâm lý
của người chưa thành niên thể hiện ở những điểm chính như sau:
Về trạng thái xúc cảm, người chưa thành niên đang trong quá trình
phát triển cả về sinh lý lẫn tâm lý, ý thức. Quá trình này diễn ra đã dẫn đến
tình trạng mất cân bằng tạm thời trong cảm xúc của người chưa thành niên.
Trong giai đoạn này, người chưa thành niên có cảm giác mệt mỏi, chóng mặt,
nhức đầu, sức làm việc suy giảm, dễ bị kích động, dễ nổi nóng… Đồng thời,
cùng với sự thay đổi của tuyến nội tiết nên dẫn đến sự mất cân bằng trong
hoạt động của hệ thần kinh trung ương, dễ đưa họ tới những cơn xúc động
mạnh, những phản ứng nóng nảy vô cớ. Do đó, nhiều trường hợp các em đã
không làm chủ được bản thân, không kiềm chế được xúc động mạnh, dễ bị lôi
kéo, kích động, dễ nổi nóng, gây gổ, đó cũng là nguyên nhân dẫn tới việc các
em có những hành vi lệch chuẩn. Sự tồn tại của hành vi lệch chuẩn cũng
chính là một trong những tồn tại tất yếu của các em trong quá trình hoàn thiện
nhân cách và nhận thức. Vì vậy, trong chính sách xử lý hình sự đối với các
em cần quan tâm tới đặc điểm này.
Về nhu cầu độc lập, với những phát triển mạnh mẽ về thể chất và sự
hoàn thiện cơ bản của các chức năng sinh lý khiến cho người chưa thành niên
có ấn tượng rằng mình đã trưởng thành. Do đó, đặc điểm tâm lý nổi bật của
giai đoạn này là sự biểu hiện nhu cầu độc lập. Người chưa thành niên có
mong muốn tự khẳng định mình, tự hành động, đưa ra quyết định. Đây là sự
phát triển tất yếu và rất cần thiết của các em ở lứa tuổi chưa thành niên. Các
10
em có tâm lý khẳng định mình, tự hành động sẽ giúp các em sớm trưởng
người chưa thành niên [6].
Việc xử lý người chưa thành niên phạm tội được tuân theo các nguyên
tắc sau:
Nguyên tắc thứ nhất, việc xử lý người chưa thành niên phạm tội chủ
yếu nhằm giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh và trở
thành công dân có ích cho xã hội.
Đây là nguyên tắc bao trùm, mang tính chỉ đạo của Đảng và Nhà nước
trong việc xử lý người chưa thành niên phạm tội. Mục đích của việc xử lý là
giúp cho họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh và trở thành công dân có
ích cho xã hội. Đây cũng là quan điểm xử lý chung của Đảng và Nhà nước ta
đối với mọi chủ thể tội phạm, tuy nhiên, đối với người chưa thành niên phạm
tội thì quan điểm này càng được nhấn mạnh vì những đặc điểm đã phân tích ở
trên của người chưa thành niên. Nguyên tắc này đòi hỏi tất cả các cán bộ khi
tham gia vào quá trình xử lý người chưa thành niên phạm tội cũng phải đứng
trên quan điểm vì lợi ích tốt nhất đối với người chưa thành niên, vì sự phát
triển lành mạnh của các em. Nguyên tắc này hoàn toàn phù hợp với các quy
định của Liên hợp quốc về Quyền trẻ em, Quy tắc tiêu chuẩn tối thiểu về tư
pháp người chưa thành niên.
Nguyên tắc thứ hai, người chưa thành niên có thể được miễn trách
nhiệm hình sự, nếu người đó phạm tội ít nghiêm trọng hoặc tội nghiêm trọng,
gây hại không lớn, có nhiều tình tiết giảm nhẹ và được gia đình hoặc cơ quan,
tổ chức nhận giám sát, giáo dục.
Nguyên tắc này cũng thể hiện quan điểm nhân đạo của Đảng và Nhà
nước ta. Với người chưa thành niên do chưa phát triển đầy đủ về thể chất và
tinh thần nên ngoài những điều kiện chung để có thể xem xét, miễn trách
12
nhiệm hình sự, trong trường hợp phạm tội ít nghiêm trọng hoặc nghiêm trọng
nhưng gây hại không lớn, có nhiều tình tiết giảm nhẹ (tức là có hai tình tiết
giảm nhẹ trở lên) và được gia đình hoặc cơ quan, tổ chức nhận giám sát, giáo
phường, thị trấn hoặc đưa vào trường giáo dưỡng thay thế cho hình phạt trong
trường hợp không cần thiết
Nguyên tắc này giữ vị trí chủ đạo trong việc lựa chọn biện pháp áp
dụng đối với người chưa thành niên phạm tội, hình phạt phải được coi là biện
pháp cần thiết cuối cùng trong việc lựa chọn chế tài xử lý. Hay nói một cách
khác, nếu phải đưa ra xét xử thì Tòa án cần cân nhắc khả năng áp dụng các
biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn hoặc đưa vào trường giáo dưỡng
trước khi quyết định áp dụng hình phạt đối với họ. Nguyên tắc này chính là sự
cụ thể hóa nguyên tắc bảo đảm lợi ích tốt nhất của người chưa thành niên và
bổ sung, hoàn thiện cho nguyên tắc trước, đó là ưu tiên áp dụng biện pháp tư
pháp thay thế cho hình phạt trong trường hợp không cần thiết và trường hợp
cuối cùng mới áp dụng hình phạt.
Nguyên tắc thứ năm là không xử phạt tù chung thân hoặc tử hình đối
với người chưa thành niên, hạn chế áp dụng hình phạt tù. Khi xử phạt tù có
thời hạn, Tòa án cho người chưa thành niên phạm tội được hưởng mức án nhẹ
hơn mức án áp dụng đối với người đã thành niên phạm tội tương ứng. Không
áp dụng hình phạt tiền đối với người chưa thành niên phạm tội ở độ tuổi từ đủ
14 tuổi đến dưới 16 tuổi.
Nguyên tắc này thống nhất với các nguyên tắc trên, hình phạt tù chung
thân, tử hình là những hình phạt nghiêm khắc nhất trong hệ thống hình phạt
của luật hình sự, do đó không thể áp dụng đối với người chưa thành niên
phạm tội, họ là những người còn non nớt và hạn chế về thể chất và nhận thức.
Việc xử lý người chưa thành niên phạm tội chỉ nhằm mục đích giáo dục và cải
tạo họ. Đồng thời, quy định không áp dụng hình phạt tiền đối với độ tuổi từ
14
đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi là phù hợp vì độ tuổi này chưa tham gia các quan
hệ lao động, các em không có thu nhập hoặc tài sản riêng.
Nguyên tắc cuối cùng, án đã tuyên đối với người chưa thành niên khi
chưa đủ 16 tuổi, thì không để xác định tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm.
nói riêng, xuất phát từ tình hình, hoàn cảnh phạm tội, tính chất của tội phạm
nên bên cạnh hệ thống hình phạt, còn có các biện pháp tư pháp được quy định
trong Bộ luật Hình sự.
Các biện pháp tư pháp được quy định thành một chương riêng trong
Bộ luật Hình sự với các biện pháp: Tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến
tội phạm; Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại; Buộc công khai
xin lỗi và Bắt buộc chữa bệnh. Ngoài ra, có một điều quy định hai biện pháp
tư pháp áp dụng riêng đối với người chưa thành niên phạm tội.
Việc nghiên cứu các biện pháp tư pháp có một vai trò quan trọng
trong khoa học pháp lý, đặc biệt việc nghiên cứu biện pháp tư pháp áp dụng
đối với người chưa thành niên có một ý nghĩa quan trọng góp phần hoàn thiện
hệ thống tư pháp áp dụng đối với người chưa thành niên.
Tuy nhiên, hiện nay chưa có một khái niệm chính thức nào định nghĩa
về biện pháp tư pháp nhưng các nhà luật học đều thống nhất rằng biện pháp tư
pháp thể hiện chính sách hình sự của Nhà nước và mang tính hỗ trợ cho hình
phạt khi được áp dụng để tăng cường hiệu quả xử lý tội phạm, mang lại an
toàn, trật tự và công bằng cho xã hội. Đồng thời, trong một số trường hợp thì
việc áp dụng biện pháp tư pháp lại có ý nghĩa thay thế hình phạt.
Theo Giáo trình Luật hình sự Việt Nam của trường Đại học Luật Hà
Nội, biện pháp tư pháp được hiểu là "các biện pháp hình sự được Bộ luật
Hình sự quy định, do các cơ quan tư pháp áp dụng đối với người có hành vi
nguy hiểm cho xã hội, có tác dụng hỗ trợ hoặc thay thế hình phạt" [42].
16
Với cách hiểu này, biện pháp tư pháp chỉ có một dấu hiệu để phân biệt
với hình phạt, thể hiện ở mối liên hệ của nó với hình phạt, nó có thể thay thế
hình phạt hoặc áp dụng cùng với hình phạt mang tính hỗ trợ. Tuy nhiên, cách
hiểu này chưa rõ ràng và chưa thể hiện được vị trí, tính chất của biện pháp tư
pháp trong hệ thống các chế tài của pháp luật hình sự.
Ngoài ra, còn một khái niệm khoa học khác về biện pháp tư pháp
hình phạt.
Khái niệm khoa học này có một ý nghĩa quan trọng, là cơ sở lý luận
của việc nghiên cứu chuyên sâu về biện pháp tư pháp nói chung và biện pháp
tư pháp áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội.
Từ khái niệm khoa học trên về biện pháp tư pháp, ta có thể hiểu một
cách đơn giản biện pháp tư pháp đối với người chưa thành niên phạm tội như
sau: Biện pháp tư pháp áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội là
biện pháp cưỡng chế về hình sự của Nhà nước áp dụng đối với người chưa
thành niên phạm tội, ít nghiêm khắc hơn hình phạt, được cơ quan tư pháp
hình sự có thẩm quyền áp dụng nhằm hỗ trợ hay thay thế cho hình phạt.
Như vậy, biện pháp tư pháp áp dụng đối với người chưa thành niên có
những đặc trưng riêng.
Biện pháp tư pháp áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội
được quy định tại Điều 70 của Bộ luật Hình sự:
1. Đối với người chưa thành niên phạm tội, Tòa án có thể
quyết định áp dụng một trong các biện pháp tư pháp có tính giáo
dục, phòng ngừa sau đây:
a) Giáo dục tại xã, phường, thị trấn;
b) Đưa vào trường giáo dưỡng.
18
2. Tòa án có thể áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường,
thị trấn từ một năm đến hai năm đối với người chưa thành niên
phạm tội ít nghiêm trọng hoặc tội nghiêm trọng.
Người được giáo dục tại xã, phường, thị trấn phải chấp
hành đầy đủ những nghĩa vụ về học tập, lao động, tuân theo pháp
luật dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền xã, phường, thị
trấn và tổ chức xã hội được Tòa án giao trách nhiệm.
3. Tòa án có thể áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo
dưỡng từ một năm đến hai năm đối với người chưa thành niên
Hình phạt và biện pháp tư pháp là những biện pháp cưỡng chế của nhà
nước áp dụng đối với người phạm tội, tuy nhiên hình phạt được coi là biện
pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất trong hệ thống các biện pháp cưỡng chế
của Nhà nước. Do đó, so với hình phạt thì biện pháp tư pháp áp dụng đối với
người chưa thành niên là biện pháp cưỡng chế về hình sự ít nghiêm khắc hơn.
Mặc dù mục đích của việc áp dụng biện pháp tư pháp giống với mục
đích áp dụng các hình phạt là đều nhằm mục đích giáo dục và tạo điều kiện
tốt nhất để người chưa thành niên nhận thức được hành vi trái pháp luật của
mình để sửa chữa, nhưng việc áp dụng các biện pháp tư pháp lại không để lại
án tích đối với người chưa thành niên phạm tội. Do đó, tính nghiêm khắc của
biện pháp tư pháp ít hơn so với hình phạt. Bên cạnh đó, đặc điểm này còn
được thể hiện trong chính nội hàm của hai biện pháp tư pháp dành riêng cho
người chưa thành niên phạm tội, đó là biện pháp giáo dục tại xã, phường thị
trấn và biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng. Việc áp dụng biện pháp
giáo dục tại trường giáo dưỡng mặc dù là biện pháp cách ly người chưa thành
niên phạm tội khỏi cộng đồng nhưng cũng chỉ trong trường hợp do nhân thân,
môi trường sống của người chưa thành niên mà cần thiết phải cách ly các em
để tạo môi trường thuận lợi cho sự phát triển của các em. Và mục đích của
20
biện pháp này thể hiện ở chính tên gọi của nó, đó chính là trường học là
chính. Ngoài ra, những biện pháp tư pháp mang tính hỗ trợ hình phạt cũng chỉ
nhằm loại trừ hoặc hạn chế khả năng người đó tiếp tục phạm tội, bảo vệ
quyền lợi hợp pháp của người bị hại cũng như để điều trị cho bị can, bị cáo bị
mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả
năng điều khiển hành vi của người phạm tội. Biện pháp này không như hình
phạt, người bị kết án có thể bị tước bỏ hoặc hạn chế các quyền tự do, quyền
về tài sản, thậm chí là cả quyền sống.
Việc áp dụng biện pháp tư pháp đối với người chưa thành niên không
để lại án tích đối với người chưa thành niên phạm tội chính là quy định tạo
chưa thành niên phạm tội. Nếu chủ thể thực hiện tội phạm trong độ tuổi từ đủ
14 tuổi đến 16 tuổi thì việc áp dụng biện pháp tư pháp hay hình phạt đều
không để lại án tích đối với họ.
Ngoài ra, hình phạt và các biện pháp tư pháp đều là các dạng của trách
nhiệm hình sự nên việc quyết định áp dụng các chế tài này phải được thực
hiện bởi cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền theo một trình tự đặc biệt
được quy định trong pháp luật tố tụng hình sự.
Giữa biện pháp tư pháp áp dụng đối với người chưa thành niên và
hình phạt có điểm khác nhau như sau:
Về mức độ nghiêm khắc trong hệ thống các biện pháp cưỡng chế về
hình sự: Hình phạt được coi là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của
Nhà nước trong luật hình sự vì mức trừng trị cao nhất của hình phạt nói chung
có thể là tước quyền sống của người phạm tội hoặc đối với người chưa thành
niên phạm tội thì mức hình phạt cao nhất cũng là tước quyền tự do trong một
thời gian nhất định (tù có thời hạn). Ngược lại, ngay khi biện pháp tư pháp áp
dụng đối với người chưa thành niên phạm tội có tính chất thay thế hình phạt