TRƢỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
KHÓA 37 (2011-2015)
Đề tài:
CÁC BIỆN PHÁP TƢ PHÁP ÁP DỤNG ĐỐI VỚI
NGƢỜI CHƢA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI
QUY ĐỊNH TẠI ĐIỀU 70 BỘ LUẬT HÌNH SỰ
Sinh viên thực hiện:
Giảng viên hƣớng dẫn:
Trần Vân Quỳnh
Nguyễn Thu Hƣơng
MSSV: 5117424
Lớp: Luật Tƣ Pháp – K37
Hậu Giang, 12/2014
CÁC BIỆN PHÁP TƯ PHÁP ÁP DỤNG ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI
QUY ĐỊNH TẠI ĐIỀU 70 BỘ LUẬT HÌNH SỰ
LỜI CẢM ƠN
Trước tiên em xin chân thành cảm ơn các Thầy, Cô của Trường
Đại học Cần Thơ đã tận tình giảng dạy, cung cấp lượng kiến thức vô
……………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………........
GVHD: Nguyễn Thu Hương
SVTH: Trần Vân Quỳnh
CÁC BIỆN PHÁP TƯ PHÁP ÁP DỤNG ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI
QUY ĐỊNH TẠI ĐIỀU 70 BỘ LUẬT HÌNH SỰ
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU .....................................................................................................................1
CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA CÁC BIỆN PHÁP TƢ PHÁP ÁP DỤNG ĐỐI
VỚI NGƢỜI CHƢA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI QUY ĐỊNH TẠI ĐIỀU 70
BỘ LUẬT HÌNH SỰ..........................................................................................................5
1.1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CHUNG VỀ NGƢỜI CHƢA THÀNH NIÊN
PHẠM TỘI ...................................................................................................................5
CHƢƠNG 2. NỘI DUNG CÁC BIỆN PHÁP TƢ PHÁP ÁP DỤNG ĐỐI VỚI
NGƢỜI CHƢA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI QUY ĐỊNH TẠI ĐIỀU 70 BỘ LUẬT
HÌNH SỰ VIỆT NAM HIỆN HÀNH .............................................................................23
2.1. BIỆN PHÁP GIÁO DỤC TẠI XÃ, PHƢỜNG, THỊ TRẤN ..............................23
2.1.1. Điều kiện áp dụng ...........................................................................................24
2.1.2. Thủ tục thi hành .............................................................................................24
2.1.3. Quyền của ngƣời đƣợc giáo dục ....................................................................27
2.1.4. Nghĩa vụ của ngƣời đƣợc giáo dục ................................................................28
2.1.5. Việc chấm dứt chấp hành biện pháp giáo dục tại xã, phƣờng, thị trấn ....30
2.1.6. Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân và gia đình trong thi hành
biện pháp giáo dục tại xã, phƣờng, thị trấn ...........................................................32
2.1.6.1. Trách nhiệm của Ủy ban nhân dân, cơ quan thi hành án hình sự Công an
các cấp ....................................................................................................................32
2.1.6.2. Trách nhiệm của cơ quan tổ chức, cá nhân, và gia đình trong giám sát,
giáo dục người được giáo dục ................................................................................35
2.2. BIỆN PHÁP ĐƢA VÀO TRƢỜNG GIÁO DƢỠNG .........................................39
2.2.1. Điều kiện áp dụng .............................................................................................39
2.2.2. Thủ tục thi hành biện pháp đƣa vào trƣờng giáo dƣỡng .............................40
2.2.3. Quyền của ngƣời đƣợc đƣa vào trƣờng giáo dƣỡng .....................................42
2.2.4. Nghĩa vụ của ngƣời đƣợc đƣa vào trƣờng giáo dƣỡng .................................46
2.2.5. Việc chấm dứt chấp hành biện pháp đƣa vào trƣờng giáo dƣỡng ..............46
2.2.6. Trách nhiệm của các cơ quan trong việc thi hành biện pháp đƣa vào
trƣờng giáo dƣỡng ......................................................................................................48
2.2.6.1. Trách nhiệm của nhà trường .....................................................................48
2.2.6.2. Trách nhiệm của Bộ công an .....................................................................49
2.2.6.3. Trách nhiệm của Bộ y tế, Bộ giáo dục và Đào tạo, Bộ Lao động- Thương
binh và Xã hội, Bộ tài chính ...................................................................................50
2.2.6.4. Trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh .............................................50
GVHD: Nguyễn Thu Hương
3.3. ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP VỀ MẶT PHÁP LÝ VÀ THỰC TIỄN LIÊN
QUAN ĐẾN CÁC BIỆN PHÁP TƢ PHÁP ĐỐI VỚI NGƢỜI CHƢA THÀNH
NIÊN PHẠM TỘI QUY ĐỊNH TẠI ĐIỀU 70 BỘ LUẬT HÌNH SỰ ....................70
3.3.1. Hoàn thiện những quy định của pháp luật ..................................................70
người chưa thành niên phạm tội .............................................................................70
3.3.1.2. Mở rộng phạm vi áp dụng của biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị
trấn .........................................................................................................................70
GVHD: Nguyễn Thu Hương
SVTH: Trần Vân Quỳnh
CÁC BIỆN PHÁP TƯ PHÁP ÁP DỤNG ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI
QUY ĐỊNH TẠI ĐIỀU 70 BỘ LUẬT HÌNH SỰ
3.3.1.3. Bổ sung quyền và lợi ích của gia đình trong việc giám sát giáo dục người
chưa thành niên phạm tội .......................................................................................71
3.3.1.4. Kiến nghị bổ sung tiêu chí miễn, giảm chấp hành các biện pháp tư pháp
áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội ...................................................71
3.3.1.5. Giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng các biện pháp tư pháp đối với
người chưa thành niên phạm tội .............................................................................72
3.3.1.6. Cần có văn bản hướng dẫn cụ thể hóa tiêu chí đánh giá tính chất nghiêm
trọng của hành vi phạm tội .....................................................................................73
3.3.1.7. Cần có quy định hướng dẫn việc áp dụng biện pháp tư pháp đối với người
chưa thành niên cho đến khi đã thành niên ............................................................74
PHẦN KẾT LUẬN ..........................................................................................................76
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
GVHD: Nguyễn Thu Hương
sách pháp luật áp dụng khi họ có hành vi vi phạm pháp luật nói chung và vi phạm pháp
luật hình sự nói riêng là một việc làm cần thiết. Những kết quả nghiên cứu này sẽ là cơ sở
quan trọng của việc hoàn thiện pháp luật, từ đó đưa ra những quy định phù hợp nhất đối
với người chưa thành niên vì chính những quy định của pháp luật sẽ có ảnh hưởng quan
trọng tới sự phát triển toàn diện, ổn định của người chưa thành niên, chủ nhân tương lai
của đất nước. Bên cạnh đó, với đặc điểm non nớt của người chưa thành niên nên đòi hỏi
hệ thống tư pháp áp dụng với người chưa thành niên phải đảm bảo những yêu cầu khắt
khe trong khi áp dụng như vấn đề quy định của pháp luật phải phù hợp với hoàn cảnh của
người phạm tội, đặc điểm tâm lý của người phạm tội cũng như tính chất của tội phạm,
trong đó đặc biệt chú trọng đến hạnh phúc của người chưa thành niên. Đây là những yêu
cầu tối thiểu của tư pháp người chưa thành niên thể hiện trong các văn kiện quốc tế về tư
GVHD: Nguyễn Thu Hương
1
SVTH: Trần Vân Quỳnh
CÁC BIỆN PHÁP TƯ PHÁP ÁP DỤNG ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI
QUY ĐỊNH TẠI ĐIỀU 70 BỘ LUẬT HÌNH SỰ
pháp người chưa thành niên và quy định của Bộ luật hình sự nước Việt Nam. Điều 69 Bộ
luật hình sự quy định nguyên tắc xử lý đối với người chưa thành niên phạm tội đã thể
hiện rõ mục đích của việc xử lý đối với người chưa thành niên, nhằm giáo dục, giúp đỡ
họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh và trở thành công dân có ích cho xã hội.
Nguyên tắc này đã thể hiện tính nhân đạo của pháp luật nước ta. Xuất phát từ những tư
tưởng chỉ đạo xuyên suốt đó, các quy định áp dụng trách nhiệm hình sự đối với người
chưa thành niên phạm tội trong Bộ luật hình sự nước ta đều nhằm mục đích giáo dục, uốn
nắn, răn đe những hành vi lệch lạc, làm cho họ thấy được sai phạm của mình và tự giác
sửa chữa với sự giúp đỡ của gia đình, nhà trường và xã hội. Thể hiện điều này, về nguyên
SVTH: Trần Vân Quỳnh
CÁC BIỆN PHÁP TƯ PHÁP ÁP DỤNG ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI
QUY ĐỊNH TẠI ĐIỀU 70 BỘ LUẬT HÌNH SỰ
luật hình sự Việt Nam trên cơ sở đánh giá thực tiễn áp dụng các biện pháp này để kiến
nghị việc hoàn thiện các quy định về biện pháp tư pháp trong luật hình sự nước ta.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
Để đạt được mục đích trên, luận văn thực hiện một số nhiệm vụ sau:
- Nghiên cứu về lý luận để làm rõ khái niệm, đặc điểm cơ bản của biện pháp tư pháp
áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội.
- Phân tích các nguyên tắc áp dụng biện pháp tư pháp đối với người chưa thành niên
phạm tội trong pháp luật hình sự Việt Nam.
- Nghiên cứu các quy định của pháp luật hình sự về các biện pháp tư pháp áp dụng
đối với người chưa thành niên phạm tội. Từ đó chỉ ra những mặt hạn chế trong quy định
của pháp luật về các biện pháp tư pháp áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội.
- Đánh giá việc áp dụng các biện pháp tư pháp được áp dụng đối với người chưa
thành niên trong thực tiễn áp dụng pháp luật.
3. ĐỐI TƢỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Với mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu như trên, luận văn tập trung nghiên cứu các
vấn đề sau:
- Lí luận chung về các biện pháp tư pháp áp dụng đối với người chưa thành niên
phạm tội.
- Quy định của pháp luật về các biện pháp tư pháp áp dụng đối với người chưa thành
niên phạm tội.
- Các hạn chế trong quy định của pháp luật và hạn chế trong thực tiễn khi áp dụng
các biện pháp tư pháp đối với người chưa thành niên phạm tội,
- Các giải pháp mang lại lợi ích nhằm nâng cao hiệu quả cho việc áp dụng các biện
Chương 2: nội dung các biện pháp tư pháp áp dụng đối với người chưa thành niên
phạm tội quy định tại điều 70 Bộ luật hình sự Việt Nam hiện hành
Chương 3: thực tiễn áp dụng các biện pháp tư pháp áp dụng đối với người chưa
thành niên phạm tội, một số hạn chế và giải pháp hoàn thiện
GVHD: Nguyễn Thu Hương
4
SVTH: Trần Vân Quỳnh
CÁC BIỆN PHÁP TƯ PHÁP ÁP DỤNG ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI
QUY ĐỊNH TẠI ĐIỀU 70 BỘ LUẬT HÌNH SỰ
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA CÁC BIỆN PHÁP TƢ PHÁP ÁP DỤNG ĐỐI VỚI NGƢỜI
CHƢA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI QUY ĐỊNH TẠI ĐIỀU 70 BỘ LUẬT HÌNH SỰ
1.1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CHUNG VỀ NGƢỜI CHƢA THÀNH NIÊN
PHẠM TỘI
Pháp luật bao trùm lên mọi mặt của đời sống, nó tác động ít nhiều đến mọi người,
các hành vi của họ đều chịu sự chi phối của pháp luật, nếu có hành vi nguy hiểm làm gây
hại đến các quan hệ xã hội sẽ được pháp luật bảo vệ và trừng trị những hành vi đó. Diễn
biến về tình hình tội phạm luôn được sự quan tâm sâu sát của Nhà nước ta khi mà đất
nước đang thay đổi từng ngày. Trong các chủ thể của tội phạm, có một chủ thể đặc biệt là
người chưa thành niên, khi chủ thể này phạm tội sẽ có những hình thức xử lí khác nhau
đó là những hình phạt và mang tính ít nghiêm khác hơn hình phạt đó là các biện pháp tư
pháp được pháp luật hình sự điều chỉnh bằng những quy định riêng. Những quy định
riêng đó như thế nào mà chỉ người chưa thành niên phạm tội mới được áp dụng, để thể
hiện rõ hơn trước tiên phải tiềm hiểu về nền móng cơ bản đó là “Cơ sở lí luận của các
các văn bản pháp luật của từng quốc gia. Qua đó, có thể khái niệm: Người chưa thành
niên là người dưới 18 tuổi, chưa phát triển hoàn thiện về thể chất và tinh thần, chưa có
đầy đủ các quyền và nghĩa vụ pháp lý như người đã thành niên.1
Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội, được quy định trong Bộ luật hình sự, do
người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý xâm phạm các
quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ. Về nguyên tắc, mọi người đều bình đẳng trước
pháp luật, không phân biệt nam, nữ, dân tộc tín ngưỡng tôn giáo, thành phần địa vị xã
hội. Tuy nhiên đối với trường hợp người phạm tội là người chưa thành niên, Nhà nước có
chính sách riêng, căn cứ vào đặc điểm đặc thù của sự phát triển tâm sinh lí con người ở
độ tuổi này cũng như đường lối chính sách, pháp luật bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ
em.
Không phải hành vi nào của người chưa thành niên vi phạm pháp luật thì đều được
xem là tội phạm và phải chịu trách nhiệm hình sự mà chỉ có những người chưa thành niên
thỏa điều kiện được quy định tại Điều 68 Bộ luật hình sự hiện hành thì mới xem xét là
người phạm tội hay không. Theo quy định tại Điều 68 Bộ luật hình sự hiện hành: “ Người
chưa thành niên phạm tội là người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi phải chịu trách nhiệm
hình sự theo quy định của chương này, đồng thời theo quy định khác của Phần chung Bộ
luật không trái với những quy định của Chương này”.
Vì vậy, để một người chưa thành niên được xem là người phạm tội thì trước hết họ
phải là người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi và thực hiện ít nhất một hành vi mà hành vi
đó là hành vi trái với pháp luật hình sự thì mới xem xét vấn đề họ có phải là người phạm
tội hay không theo như quy định tại Điều 2 Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung
năm 2009 : “Chỉ người nào phạm một tội đã được Bộ luật hình sự quy định mới phải chịu
trách nhiệm hình sự”
Từ quy định trên, người chưa thành niên phạm tội là người thỏa các điều kiện sau
đây:
- Họ là người chưa thành niên, có độ tuổi từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi;
- Đủ độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và có năng lực trách nhiệm hình sự;
1
1.1.1.2. Đặc điểm tâm lí của người chưa thành niên phạm tội
Thực tế cho thấy lối sống, đạo đức và nhân cách của con người được hình thành từ
tuổi thơ ấu và định hình rõ nét từ tuổi chưa thành niên. Người chưa thành niên sẽ dần dần
phát triển về mặt tâm lí, mặt sinh lí, mặt nhận thức... Đó là khuôn mẫu cho nhân cách của
chính người đó trong cuộc sống sau này. Trong giai đoạn phát triển, nếu người chưa
thành niên thực hiện hành vi phạm tội thì hành vi phạm tội đó luôn chịu sự chi phối bởi
những yếu tố đời sống tâm lí và đặc điểm cá nhân trong hoàn cảnh xã hội của họ….Vậy
đặc điểm tâm lí nào của người chưa thành niên là nguyên nhân dẫn tới đối tượng này thực
hiện hành vi phạm tội. Người viết sẽ phân tích một số đặc điểm tâm lí của người chưa
thành niên phạm tội như sau:
- Về trạng thái cảm xúc:
Người chưa thành niên là người đang trong quá trình phát triển về cả sinh lí lẫn tâm
lí, ý thức mà trong nhiều trường hợp chính sự thay đổi đó còn gây sóc cho bản thân lứa
2
Bùi Thành Chung, Trường Đại học cảnh sát nhân dân, Khái niệm người chưa thành niên và khái niệm tội phạm do
người chưa thành niên gây ra - cơ sở có tính pháp lí quan trọng để phòng ngừa, điều tra tội phạm và xử lí người
chưa thành niên phạm tội, [ngày truy cập 29-10-2014].
GVHD: Nguyễn Thu Hương
7
SVTH: Trần Vân Quỳnh
CÁC BIỆN PHÁP TƯ PHÁP ÁP DỤNG ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI
QUY ĐỊNH TẠI ĐIỀU 70 BỘ LUẬT HÌNH SỰ
ngày nay thì khát khao hiểu biết của các em không chỉ trong phạm vi cuộc sống xung
quanh mình, đất nước mình mà các em còn khám phá cuộc sống trên nhiều quốc gia
khác. Nhu cầu tìm tòi, khám phá cái mới giúp cho các em nâng cao được nhận thức và
3
Ủy ban chăm sóc bảo vệ trẻ en Việt Nam, tổ chức cứu trợ trẻ em Thụy Điển (RADDA BARNEN), tài liệu tham
khảo về công tác với trẻ em làm trái pháp luật, Hà Nội,1996, tr.62.
4
Đặng Thanh Nga, Một số đặc điểm tâm lí của người chưa thành niên phạm tội, tạp chí Luật học, số 1, 2008, tr. 40.
GVHD: Nguyễn Thu Hương
8
SVTH: Trần Vân Quỳnh
CÁC BIỆN PHÁP TƯ PHÁP ÁP DỤNG ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI
QUY ĐỊNH TẠI ĐIỀU 70 BỘ LUẬT HÌNH SỰ
hiểu biết của mình. Đây là điều quan trọng đối với việc phát triển nhân cách, đạo đức, lối
sống của lứa tuổi chưa thành niên. Tuy nhiên cần lưu ý rằng, các em không chỉ có nhu
cầu khám phá cái mới mà bên cạnh đó các em còn tìm tòi, thử nghiệm cái mới trong đó
có cả những cái thiếu lành mạnh, trái chuẩn mực chung của xã hội. Các em rất hiếu động,
tò mò, hay bắt chước nên rất dễ bị dụ dỗ, dễ bị lôi cuốn vào những hoạt động tiêu cực.
Đây chính là một trong những nguyên nhân dẫn tới hành vi phạm tội của các em. Vấn đề
này được lí giải như sau: Với người chưa thành niên, thì đây là độ tuổi mới lớn nên chưa
định hình về tính cách, chúng dễ dàng hành động bộc phát hay tò mò bắt chước. Khả
năng học đòi, bắt chước của các em rất lớn và mau chóng. Các em bắt chước theo những
gì mình cho là hay, lạ và hấp dẫn, các em còn bắt chước hình mẫu trong cả đời sống thực
SVTH: Trần Vân Quỳnh
CÁC BIỆN PHÁP TƯ PHÁP ÁP DỤNG ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI
QUY ĐỊNH TẠI ĐIỀU 70 BỘ LUẬT HÌNH SỰ
trong các bộ phim… đôi khi còn sử dụng hành vi bạo lực để khẳng định mình… Do có ý
thức tự trọng và mong muốn được tôn trọng như người lớn, người chưa thành niên
thường có tâm lí “phóng đại” khả năng của mình, đánh giá chúng quá cao so với hiện
thực. Ví dụ, các em cho rằng hành vi đua xe trái phép là những màn biểu diễn độc đáo,
phô diễn năng lực bản thân mà ít có ai làm được…
- Về nhận thức pháp luật:
Có thể nói, lứa tuổi chưa thành niên là giai đoạn phát triển như “vũ bảo” về mặt sinh
học nhưng lại thiếu cân đối về mặt trí tuệ. Các em thiếu kinh nghiệm trong cuộc sống,
đặc biệt là khả năng nhận thức về mặt pháp luật còn hạn chế. Nhận thức và quan niệm về
pháp luật chưa đầy đủ hoặc bị hiểu lệch lạc theo hướng chủ quan của các em. Khi các em
không có ý thức pháp luật đúng đắn thì xu hướng dẫn tới các hành vi phạm tội là rất cao.
Thực tế cho thấy rằng, nhiều người chưa thành niên thực hiện hành vi phạm tội đặc biệt
nghiêm trọng nhưng lại không biết rằng mình đã phạm tội, không thấy được hết tính nguy
hiểm của hành vi đó. Các em chỉ suy nghĩ đơn giản rằng đó là hành vi hợp pháp, là tự vệ
hoặc đang bảo vệ quyền lợi của mình. Một phần không nhỏ người chưa thành niên lại
thực hiện hành vi phạm tội chỉ để thỏa mãn nhu cầu, hứng thú không đúng đắn của cá
nhân, không quan tâm đến hậu quả nguy hiểm cho xã hội. Một số khác lại cho rằng, hành
vi phạm tội như trộm cắp tài sản, cướp tài sản, cố ý gây thương tích… là đúng đắn và cần
thiết để góp phần tạo công bằng trong xã hội.6
Như vậy, ý thức pháp luật là nhân tố rất quan trọng đối với sự phát triển nhân cách
của người chưa thành niên. Tuy nhiên cần lưu ý rằng các em không có được ý thức pháp
luật đúng đắn thì nguy cơ dẫn tới hành vi phạm tội là rất cao.
Nhìn chung ở lứa tuổi này, người chưa thành niên chịu sự tác động chủ yếu của môi
niên được ví như là búp măng non, tương lai của dân tộc, chủ nhân tương lai, kế tục sự
nghiệp phát triển của đất nước. Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kì quá độ lên
chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) đã nhấn mạnh: “…Chú trọng cải thiện
điều kiện sống, lao động và học tập của thanh niên, thiếu niên, giáo dục và bảo vệ trẻ
em…”.8 Do đó, xét riêng trong chính sách hình sự của Đảng và Nhà nước ta thì Hiến
pháp và pháp luật luôn coi trẻ em, người chưa thành niên là đối tượng cần được bảo vệ và
chăm sóc khi họ là chủ thể của tội phạm hoặc khi họ là đối tượng tác động của tội phạm.
Xuất phát từ đường lối vận động, giáo dục thanh thiếu niên của Đảng và Nhà nước ta, từ
những đặc điểm tâm, sinh lí của người chưa thành niên phạm tội (đã phân tích ở mục
1.1.1.3) nên đường lối xử lí hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội cũng phải
tuân theo những quy định riêng và nguyên tắc riêng. Chương X Phần chung của Bộ luật
hình sự được quy định thành các nguyên tắc cơ bản có tính chất chỉ đạo, xuyên suốt quá
trình khi xử lí người chưa thành niên phạm tội. Trong đó, Điều 69 của Bộ luật hình sự
hiện hành quy định nội dung sáu nguyên tắc xử lí người chưa thành phạm tội. Đây là
những nguyên tắc không chỉ thể hiện chính sách hình sự nhân đạo và khoan hồng của
nước ta mà còn đảm bảo mục đích chủ yếu trong xử lí người chưa thành niên phạm tội là
“ giáo dục, giúp đỡ người chưa thành niên sửa chữa sai lầm”…mà còn mang tính định
hướng đối với các cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình xử lí đối với người chưa
thành niên phạm tội.9 Cụ thể như sau:
- Nguyên tắc thứ nhất – việc xử lí người chưa thành niên phạm tội chủ yếu nhằm vào
giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh và trở thành công dân có
ích cho xã hội.10 Nguyên tắc này đặt ra mục đích chủ yếu và trước hết của việc xử lí
người chưa thành niên phạm tội là nhằm giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, tạo điều
kiện cho họ phát triển lành mạnh và trở thành công dân có ích cho xã hội. Vì vậy, việc áp
dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội phải hướng tới mục đích giáo
dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, tạo điều kiện cho họ hòa nhập với cộng đồng, phát triển
lành mạnh và trở thành công dân có ích cho xã hội mà không nhằm mục đích trừng trị họ.
8
Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia – Sự thật, Hà
năng lực trách nhiệm hình sự như người đã thành niên. Do vậy, ngoài những điều kiện
chung để có thể xem xét, miễn trách nhiệm hình sự như đã quy định tại Điều 52 Bộ luật
hình sự hiện hành, người chưa thành niên phạm tội có thể được miễn trách nhiệm hình sự
nếu thỏa các điều kiện sau:
+ Tội phạm người chưa thành niên thực hiện phải là tội ít nghiêm trọng, gây thiệt hại
không lớn cho xã hội;
+ Người chưa thành niên phải có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tức là
có hai tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trở lên được quy định trong luật (khoản 1
Điều 46 BLHS hiện hành), trong các văn bản hướng dẫn áp dụng pháp luật ( Nghị quyết
số 01/HĐTP ngày 08-4-2000 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao);
+ Người chưa thành niên được gia đình hoặc cơ quan tổ chức nhận giám sát, giáo
dục: quy định này nhằm xác định trách nhiệm phối hợp giữa gia đình, cơ quan, tổ chức và
xã hội trong việc giáo dục người chưa thành niên phạm tội.
- Nguyên tắc thứ ba – việc truy cứu trách nhiệm hình sự người chưa thành niên
phạm tội và áp dụng hình phạt đối với họ được thực hiện chỉ trong trường hợp cần thiết
và phải căn cứ vào tính chất hành vi phạm tội, vào những đặc điểm về nhân thân và yêu
cầu của việc phòng ngừa tội phạm.12 Theo nguyên tắc này, chỉ trong trường hợp cần thiết
mới truy cứu trách nhiệm hình sự và áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên
phạm tội. Ngay cả khi cần thiết phải truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người chưa
11
Khoản 2, Điều 69, Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009.
Khoản 3, Điều 69, Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009.
12
GVHD: Nguyễn Thu Hương
12
nói rằng, mặc dù không tước bỏ cuộc sống của người phạm tội như hình phạt tử hình,
nhưng hình phạt tù chung thân cũng là loại hình phạt mang tính trừng trị nhiều hơn là
giáo dục, cải tạo người phạm tội. Vì vậy không được phép áp dụng hai loại hình phạt này
đối với họ. Trong trường hợp cần thiết phải áp dụng hình phạt, thì mức án mà người chưa
thành niên phạm tội chịu phải nhẹ hơn mức án có thể áp dụng đối với người đã thành
niên phạm một tội có cùng tính chất và mức độ nguy hiểm. Hình phạt được áp dụng cũng
cần phải phù hợp với đặc điểm nhân thân và yêu cầu của việc phòng ngừa tội phạm đối
với lứa tuổi đang trong quá trình phát triển và hình thành nhân cách này. Ngoài ra, thể
13
Nguyễn Đức Mai, Bình luận khoa học BLHS năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 (phần chung), Nxb. Chính trị
Quốc gia, Hà Nội, 2009, tr. 222.
14
Khoản 4, Điều 69, Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009.
15
Khoản 5, Điều 69, Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009.
GVHD: Nguyễn Thu Hương
13
SVTH: Trần Vân Quỳnh
CÁC BIỆN PHÁP TƯ PHÁP ÁP DỤNG ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI
QUY ĐỊNH TẠI ĐIỀU 70 BỘ LUẬT HÌNH SỰ
hiện nội dung nhân đạo, Bộ luật hình sự cũng quy định không áp dụng các hình phạt bổ
sung đối với người chưa thành niên phạm tội.
- Nguyên tắc thứ sáu – án đã tuyên đối với người chưa thành niên phạm tội khi
Khoản 6, Điều 69, Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009.
Mục 1.1.2, Nguyên tắc xử lí người chưa thành niên phạm tội, tr 12.
18
Khoản 4, Điều 69, Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009.
17
GVHD: Nguyễn Thu Hương
14
SVTH: Trần Vân Quỳnh
CÁC BIỆN PHÁP TƯ PHÁP ÁP DỤNG ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI
QUY ĐỊNH TẠI ĐIỀU 70 BỘ LUẬT HÌNH SỰ
pháp được hiểu là “các biện pháp được Bộ luật hình sự quy định, do cơ quan tư pháp áp
dụng đối với người có hành vi nguy hiểm cho xã hội, có tác dụng hỗ trợ hoặc thay thế
hình phạt”.19
Theo GS. Lê Cảm biện pháp tư pháp được hiểu đầy đủ hơn, đó là: “Biện pháp cưỡng
chế về hình sự của Nhà nước ít nghiêm khắc hơn hình phạt do pháp luật hình sự quy định
và được cơ quan tư pháp hình sự có thẩm quyền căn cứ vào giai đoạn tố tụng hình sự
tương ứng cụ thể áp dụng đối với người phạm tội nhằm hạn chế quyền, tự do của người
đó hoặc hỗ trợ hay thay thế cho hình phạt”.20 Như vậy qua hai khái niệm trên có thể hiểu
một cách tương đối cụ thể về biện pháp tư pháp với những dấu hiệu sau:
- Đây là một biện pháp thể hiện trách nhiệm hình sự của một cá nhân khi người đó
có hành vi phạm tội;
- Là một chế tài ít nghiêm khắc hơn so với hình phạt, do pháp luật hình sự quy định;
- Có thể áp dụng trong những giai đoạn tố tụng khác nhau;
SVTH: Trần Vân Quỳnh
CÁC BIỆN PHÁP TƯ PHÁP ÁP DỤNG ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI
QUY ĐỊNH TẠI ĐIỀU 70 BỘ LUẬT HÌNH SỰ
phường, thị trấn và biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng), cho nên người viết sẽ đưa
cách hiểu đơn giản về các biện pháp tư pháp áp dụng đối với người chưa thành niên phạm
tội quy định tại Điều 70 Bộ luật hình sự này. Cụ thể: đây là biện pháp thể hiện trách
nhiệm hình sự của một cá nhân khi người đó có hành vi phạm tội; là một chế tài ít
nghiêm khắc hơn so với hình phạt, do pháp luật hình sự quy định; các biện pháp tư pháp
áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội chỉ do duy nhất một chủ thể áp dụng , đó
là cơ quan có thẩm quyền xét xử vụ án hình sự - Tòa án; Là biện pháp mang tính thay thế
hình phạt.
1.2.2. Các đặc điểm của biện pháp tƣ pháp áp dụng đối với ngƣời chƣa thành
niên phạm tội quy định tại Điều 70 Bộ luật hình sự
Xuất phát từ khái niệm đã nêu trên và phân tích các quy định có liên quan trong Bộ
luật hình sự có thể thấy được một số đặc điểm của biện pháp tư pháp áp dụng đối với
người chưa thành niên phạm tội như sau:
Thứ nhất, biện pháp tư pháp áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội là
những biện pháp cưỡng chế về hình sự của Nhà nước ít nghiêm khắc hơn hình phạt, do
Bộ luật hình sự quy định. Bộ luật hình sự quy định “Hình phạt là biện pháp cưỡng chế
nghiêm khắc nhất của Nhà nước nhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích hợp pháp của
người phạm tội”22 cho nên so sánh về mức độ nghiêm khắc của hình phạt với các biện
pháp tư pháp áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội thì các biện pháp tư pháp
áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội có mức độ nghiêm khắc ít hơn hình phạt
vì hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước .
Thứ hai, cũng với tính chất là một dạng của trách nhiệm hình sự và là một hình thức
để thực hiện trách nhiệm hình sự, các biện pháp áp dụng đối với người chưa thành niên
Như vậy, khi người chưa thành niên phạm tội được cơ quan tiến hành tố tụng quyết định
áp dụng một trong hai biện pháp tư pháp quy định tại Điều 70 Bộ luật hình sự hiện hành
(biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng hoặc biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn)
thì người chưa thành niên phạm tội sẽ không bị coi là có án tích.
Thứ năm, các biện pháp tư pháp áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội chỉ
do duy nhất một chủ thể áp dụng, đó là cơ quan có thẩm quyền xét xử vụ án hình sự - Tòa
án. Theo khoản 1 Điều 70 Bộ luật hình sự hiện hành quy định: “Đối với người chưa
thành niên phạm tội, Tòa án có thể quyết định áp dụng một trong các biện pháp tư pháp
có tính giáo, dục phòng ngừa sau đây: a. Giáo dục tại xã phường thị trấn; b. Đưa vào
trường giáo dưỡng”. Từ quy định này có thể thấy cơ quan duy nhất có thẩm quyền quyết
định áp dụng các biện pháp tư pháp đối với người chưa thành niên phạm tội chỉ có thể là
Tòa án.
Cuối cùng, các biện pháp tư pháp áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội
có tính độc lập tương đối và có tính cưỡng chế cần thiết, vì ở một chừng mực nào đó các
biện pháp tư pháp áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội quy định tại Điều 70
Bộ luật hình sự còn cao hơn so với việc áp dụng hình phạt bổ sung, vì ngay cả hình phạt
bổ sung còn không được áp dụng độc lập mà phải áp dụng kèm theo hình phạt chính.23
1.3. SƠ LƢỢC LỊCH SỬ CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM QUY ĐỊNH VỀ CÁC
BIỆN PHÁP TƢ PHÁP ÁP DỤNG ĐỐI VỚI NGƢỜI CHƢA THÀNH NIÊN
PHẠM TỘI QUY ĐỊNH TẠI ĐIỀU 70 BỘ LUẬT HÌNH SỰ
1.3.1. Giai đoạn trƣớc khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985
Trước những năm đầu thế kỷ XX thì vấn đề về xử lí người chưa thành niên phạm tội
bằng các biện pháp giáo dục, phòng ngừa chỉ xuất hiện một cách mờ nhạt chưa được quy
định trong một văn bản cụ thể nào.
Đến năm 1912, các biện pháp giáo dục, phòng ngừa (trong giai đoạn này còn được
gọi là biện pháp giáo hóa) đã được quy định trong Bộ Hình luật canh cải ra đời áp dụng
23
Trịnh Tiến Việt, Hoàn thiện các quy định của phần chung Bộ luật hình sự trước yêu cầu đổi mới đất nước, Nxb.
Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2012, tr.304.