LUẬN VĂN:
Áp dụng các biện pháp ngăn chặn đối
với người chưa thành niên phạm tội
trên địa bàn tỉnh Hà Tây của cơ quan
Cảnh sát điều tra
Mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Vấn đề chăm sóc, giáo dục thế hệ trẻ và phòng ngừa, ngăn chặn người chưa
thành niên phạm tội là một việc làm không chỉ có ở Việt Nam mà tất cả các quốc gia
trên thế giới cũng đặc biệt quan tâm, nghiên cứu và thực hiện. Bởi thế hệ trẻ là tương
lai của đất nước, là lớp người kế tục sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc vì một
ngày mai tươi sáng, "Trẻ em hôm nay, thế giới ngày mai".
Với vai trò quan trọng như vậy, nên trong Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa (XHCN) Việt Nam 1992 (sửa đổi, bổ sung 2001) ghi nhận "…Nhà nước,
xã hội và gia đình chăm lo, chăm sóc, giáo dục trẻ em…". Thể chế hóa điều đó có
hệ thống các ngành luật, văn bản pháp luật, nghị quyết, chỉ thị đề cập đến như Luật
bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 1991, Luật hình sự năm 1999, Luật tố tụng
hình sự năm 2003, chương trình hành động quốc gia 12/91... Nhìn lại một chặng
đường dài đã qua, Nhà nước ta đã và đang tiến hành rộng rãi việc chăm sóc giáo
dục trẻ em, tạo dựng một môi trường xã hội trong sạch, lành mạnh. Nhiều trường
học, lớp học với những mô hình đào tạo đa dạng, phong phú, kết hợp với việc học hỏi
kinh nghiệm của các quốc gia tiên tiến trên thế giới, chúng ta đã đạt được nhiều kết quả
đáng khích lệ. Tuy nhiên, trong phạm vi cả nước nói chung cũng như ở địa bàn tỉnh Hà
Tây nói riêng vẫn tồn tại một thực trạng rất lo ngại, đó là tình hình vi phạm pháp luật,
đặc biệt là tình hình phạm tội do người chưa thành niên thực hiện, với tính chất, mức
độ, hành vi nguy hiểm cho xã hội ngày càng tăng. Chẳng hạn, các tội liên quan đến ma
túy, giết người, cướp của, hiếp dâm, tống tiền... cùng với việc sử dụng vũ khí nóng, tụ
Đồng thời, trên cơ sở những thành tựu đạt được của các khoa học như Luật
quốc tế, Luật hình sự, Luật tố tụng hình sự, Xã hội học, khoa học Điều tra hình sự…
* Phương pháp nghiên cứu
Quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả đã kết hợp nhiều phương pháp: phân tích,
so sánh, tổng hợp, khảo sát thực tế, tham khảo ý kiến của các cán bộ làm công tác
nghiên cứu, đồng nghiệp hoạt động thực tiễn, tham khảo các tài liệu về tố tụng hình
sự của một số nước trên thế giới để đánh giá, hệ thống hóa hoạt động áp dụng biện
pháp ngăn chặn đối với người chưa thành niên phạm tội.
6. Những vấn đề mới của đề tài
Làm rõ những lý luận về việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn trong tố
tụng hình sự của Việt Nam hiện nay. Đề tài đã tổng hợp, đánh giá, tìm ra những ưu
điểm, hạn chế, nguyên nhân tồn tại, thiếu sót cũng như các kết quả đạt được trong
quá trình áp dụng các biện pháp ngăn chặn người chưa thành niên phạm tội trên địa
bàn tỉnh Hà Tây của cơ quan CSĐT. Đồng thời, đưa ra những giải pháp nhằm nâng
cao hiệu quả việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn đối với người chưa thành niên
phạm tội, theo quy định của BLTTHS và các chiến thuật, nghiệp vụ để bảo đảm các
biện pháp đó.
7. ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật tố
tụng hình sự về việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn đối với người chưa thành
niên phạm tội. Đồng thời nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng chống tội phạm, bảo
vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, nâng cao niềm tin của nhân dân với Đảng,
Nhà nước và lực lượng Cảnh sát nhân dân nói chung, cơ quan CSĐT tỉnh Hà Tây
nói riêng.
Ngoài ra, đề tài còn có thể dùng làm tài liệu tham khảo, nghiên cứu trong
các trường Công an nhân dân, các cán bộ nghiên cứu, cán bộ đang làm nhiệm vụ
trực tiếp đấu tranh phòng chống loại tội phạm này.
cưỡng chế nhưng đồng thời là một tổ chức quản lý kinh tế xã hội của toàn thể nhân
dân lao động. Bộ máy cưỡng chế hành chính của nhà nước XHCN Việt Nam là bộ
máy của giai cấp công nhân và nhân dân lao động tổ chức ra để trấn áp các phần tử
chống đối lại sự nghiệp đổi mới, giữ vững an ninh trật tự, tạo điều kiện thuận lợi
cho sự phát triển kinh tế xã hội đất nước. Hiến pháp nước Cộng hòa XHCN Việt
Nam đã qui định: "Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước của
dân, do dân và vì dân".
Thực hiện được điều đó, nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam có những biện
pháp cưỡng chế, có những bộ máy đặc biệt, để cưỡng chế tất cả các hành vi xâm hại
đến các quyền và lợi ích hợp pháp nói trên một cách kiên quyết và mạnh mẽ. Mỗi
ngành luật trong hệ thống pháp luật Việt Nam đều có tính cưỡng chế của nhà nước.
Song tính cưỡng chế trong tố tụng hình sự vẫn là nghiêm khắc nhất. Vậy cưỡng chế
trong tố tụng hình sự được hiểu như thế nào?
Có quan điểm cho rằng, trong điều kiện phát triển kinh tế theo cơ chế thị
trường hiện nay, cũng cần đặt vấn đề kinh tế để xem xét. Nếu cứ áp dụng các biện
pháp ngăn chặn như hiện nay (ví dụ tạm giam) thì số bị can, bị cáo ở các trại tam
giam sẽ tăng lên, gây quá tải trong nhà giam, nhà nước phải chi phí tốn kém cho các
hoạt động đi kèm như chế độ ăn, ở, sinh hoạt, chế độ tạm giữ, canh gác, cơ sở thiết
bị vật chất cũng tăng lên. Nên chăng cần có những biện pháp quản lý, giám sát nào
đó mà vẫn đạt được mục tiêu ngăn chặn tội phạm?
Có quan điểm lại cho rằng, phòng ngừa tội phạm cũng là biện pháp ngăn
chặn tội phạm trong tố tụng hình sự. Đây là quan điểm hình thức, từ ngữ, chưa thấy
rõ bản chất phòng ngừa từ xa của công tác phòng chống tội phạm. Hiện nay chúng
ta đang tổ chức cuộc "Vận động toàn dân tham gia quản lý, giáo dục, cảm hóa
những người lầm lỗi tại cộng đồng" và thực hiện "Chương trình quốc gia phòng
chống tội phạm". Vấn đề này thực hiện như thế nào?
Một số quan điểm khác lại lấp lửng, biến hóa, tùy tiện, đặc biệt trong hoạt
động tạm giữ hành chính và tố tụng. Quan điểm này đã được nhiều báo cáo tổng kết
như sau:
Các biện pháp ngăn chặn là các biện pháp cưỡng chế trong tố tụng hình sự
được áp dụng đối với bị can, bị cáo và người chưa bị khởi tố về hình sự để kịp thời
ngăn chặn tội phạm, ngăn ngừa họ tiếp tục phạm tội, cũng như không cho họ có
những hành động làm cản trở hoạt động điều tra, xét xử hoặc thi hành án hình sự.
1.1.2. Căn cứ áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn của cơ
quan Cảnh sát điều tra
- Căn cứ áp dụng biện pháp ngăn chặn
Theo quy định tại Điều 79 BLTTHS 2003, căn cứ áp dụng các biện pháp
ngăn chặn trong hoạt động điều tra vụ án bao gồm ba căn cứ sau:
+ Để kịp thời ngăn chặn tội phạm
Có nghĩa là không để cho tội phạm xảy ra, chặn đứng được hành vi chuẩn bị
phạm tội, không cho nó diễn ra trong thực tế hoặc buộc những hành vi phạm tội phải
dừng lại, không để cho người phạm tội thực hiện hành vi đến cùng. Căn cứ này cho
chúng ta thấy sự ràng buộc kết nối giữa BLTTHS với lý luận về tội phạm trong luật
hình sự là rất chặt chẽ. Bởi trong các giai đoạn thực hiện tội phạm thì có giai đoạn
chuẩn bị và trách nhiệm hình sự cũng được đặt ra ở một số tội phạm nhất định.
BLTTHS quy định việc bắt người trong trường hợp khẩn cấp là một chế định tương
ứng với việc xác định giai đoạn chuẩn bị thực hiện tội phạm trong luật hình sự. Đó
chính là tính logíc phù hợp giữa luật nội dung với luật hình thức. Trong hoạt động
điều tra, vận dụng căn cứ này vào việc bắt khẩn cấp, quy định tại điểm a khoản 1điều
81 BLTTHS có ý nghĩa rất quan trọng.
+ Khi có căn cứ chứng tỏ bị can sẽ gây khó khăn cho việc điều tra
Mục đích của CQĐT là tái xác lập lại sự việc phạm tội đã xảy ra trong thực
tế một cách khách quan, chính xác, đầy đủ và toàn diện, làm cơ sở cho việc giải
quyết vụ án. Do vậy, các hoạt động điều tra để xác định người thực hiện hành vi
phạm tội là điều cần thiết. Song thực tế những người thực hiện hành vi phạm tội lại
tìm mọi cách để cản trở quá trình xác định sự thật của vụ án. BLTTHS quy định căn
Thứ nhất, khi vụ án bị đình chỉ
khi cơ quan tiến hành tố tụng có tài liệu, chứng cứ, chứng tỏ có căn cứ quy
định tại Điều 107 BLTTHS những trường hợp không khởi tố vụ án hình sự hoặc
trường hợp người bị hại có đơn yêu cầu không khởi tố vụ án hình sự theo quy định
tại Điều 105 BLTTHS hoặc đã hết thời hạn điều tra mà vẫn không chứng minh
được bị can đã thực hiện tội phạm Điều 164 BLTTHS.
Thứ hai, khi CQĐT thấy việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn không còn
cần thiết nữa
Là việc CQĐT xem xét những yêu cầu phục vụ cho việc điều tra như thu
thập tài liệu đã đầy đủ, ý thức khai báo, thái độ thành khẩn của bị can… thì CQĐT
sẽ ra quyết định hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn.
+ Thay thế biện pháp ngăn chặn
là việc CQĐT áp dụng biện pháp ngăn chặn khác thay thế cho biện pháp
ngăn chặn đang được áp dụng (Có thể ít nghiêm khắc hơn nhưng cũng có thể sẽ
nghiêm khắc hơn).
Thay thế biện pháp ngăn chặn phải thỏa mãn những điều kiện sau:
Yêu cầu giải quyết vụ án.
Thái độ chấp hành của bị can đối với biện pháp ngăn chặn đang được áp
dụng.
Đảm bảo được các điều kiện này, CQĐT sẽ tiến hành thay thế biện pháp
ngăn chặn. Cho phép CQĐT tạo điều kiện thuận lợi hơn trong việc sử dụng chiến
thuật tác động lên thái độ, tâm lý, ý thức của bị can khi tiến hành điều tra vụ án.
1.1.3. ý nghĩa, tầm quan trọng của việc áp dụng các biện pháp ngăn
chặn của cơ quan Cảnh sát điều tra
Các biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự là những biện pháp cưỡng
chế của Nhà nước thể hiện tính mệnh lệnh quyền uy trong phương pháp điều chỉnh
của luật tố tụng hình sự. áp dụng đúng đắn các biện pháp ngăn chặn có ý nghĩa rất
Bắt người là biện pháp ngăn chặn có vị trí quan trọng trong quá trình điều
tra, xử lý vụ án hình sự. Đây là biện pháp có tính chất cưỡng chế nghiêm khắc của
nhà nước, nhằm tước bỏ quyền tự do thân thể của một người và hạn chế một số
quyền, lợi ích hợp pháp của họ. Do vậy, việc bắt người trong pháp luật tố tụng hình
sự của Nhà nước ta từ trước cho đến nay luôn luôn được xây dựng theo hướng kế
thừa có chọn lọc và từng bước hoàn thiện.
BLTTHS 2003 quy định về bắt người bao gồm: Bắt bị can, bị cáo để tạm
giam, bắt người trong trường hợp khẩn cấp và bắt người trong trường hợp phạm tội
quả tang, bắt người đang bị truy nã.
* Việc bắt bị can để tạm giam
Tại Điều 79 BLTTHS năm 2003 qui định các biện pháp và căn cứ áp dụng
các biện pháp ngăn chặn, Điều 80 quy định về việc bắt bị can, bị cáo để tạm giam.
Trong hoạt động điều tra vụ án hình sự, để xác định được đối tượng cần bắt
tạm giam, nhằm tước bỏ điều kiện thực hiện phạm tội, gây khó khăn, cản trở cho
hoạt động điều tra, do tính chất mức độ nguy hiểm của chính bị can, đòi hỏi CQĐT
phải áp dụng một biện pháp ngăn chặn nghiêm khắc đó là bắt bị can để tạm giam.
Đối tượng bị bắt phải là bị can của vụ án, qua công tác điều tra, đã xác định
được người thực hiện hành vi phạm tội, có đầy đủ các yếu tố cấu thành tội phạm và
đã bị CQĐT ra quyết định khởi tố bị can. Tuy nhiên, không phải bất kỳ bị can nào
cũng bị bắt để tạm giam.
Theo quy định tại điều 88 BLTTHS 2003, việc bắt bị can, bị cáo để tạm
giam được áp dụng trong những trường hợp sau:
- Bị can, bị cáo phạm tội rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng.
- Bị can, bị cáo phạm tội nghiêm trọng, ít nghiêm trọng mà BLHS qui định
hình phạt tù trên 2 năm và có căn cứ cho rằng người đó có thể trốn hay cản trở việc
điều tra, truy tố, xét xử hoặc có thể tiếp tục phạm tội.
Đối với bị can, bị cáo là phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi,
là người già yếu, người bị bệnh nặng mà nơi cư trú rõ ràng thì không tạm giam mà
* Việc bắt người trong trường hợp khẩn cấp
Tại khoản 1 Điều 81 BLTTHS quy định trong những trường hợp sau đây thì
được bắt khẩn cấp:
- Khi có căn cứ cho rằng người đó đang chuẩn bị thực hiện tội phạm rất
nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.
- Khi người bị hại hoặc người có mặt tại nơi xảy ra tội phạm chính mắt
trông thấy và xác nhận đúng là người đã thực hiện tội phạm mà xét thấy cần ngăn
chặn ngay việc người đó bỏ trốn.
- Khi thấy có dấu vết tội phạm ở người hay tại chỗ ở của người bị nghi thực
hiện tội phạm mà xét thấy cần ngăn chặn người đó bỏ trốn hoặc tiêu hủy chứng cứ.
Những người có quyền ra lệnh bắt khẩn cấp:
Được quy định tại khoản 2 Điều 81 BLTTHS gồm: Thủ trưởng, Phó thủ
trưởng CQĐT các cấp; Người chỉ huy đơn vị quân đội độc lập cấp trung đoàn và
tương đương, người chỉ huy đồn biên phòng ở hải đảo và biên giới, người chỉ huy
tàu bay, tàu biển khi tàu bay, tàu biển đã rời khỏi sân bay, bến cảng.
Thủ tục bắt người trong trường hợp khẩn cấp:
Cũng được áp dụng như thủ tục bắt bị can để tạm giam nhưng có một số
điểm khác:
+ Lệnh bắt người trong trường hợp khẩn cấp không cần có sự phê chuẩn của
VKS cùng cấp trước khi thi hành, sau khi bắt người, việc bắt người phải được báo
cáo cho VKS cùng cấp bằng văn bản kèm theo tài liệu có liên quan đến việc bắt khẩn
cấp để xét phê chuẩn. Trong thời gian 12h kể từ khi nhận được đề nghị xét phê chuẩn
và tài liệu liên quan đến việc bắt khẩn cấp, VKS phải ra quyết định phê chuẩn hoặc
quyết định không phê chuẩn. Nếu VKS quyết định không phê chuẩn thì người ra
lệnh bắt phải trả tự do ngay cho người bị bắt.
+ Trường hợp bắt khẩn cấp được bắt người vào bất kỳ lúc nào không kể ban
ngày hay ban đêm (khoản 3 Điều 80 BLTTHS)
* Việc bắt người phạm tội quả tang hay đang bị truy nã
lập biên bản và giải ngay người bị bắt đến CQĐT có thẩm quyền.
* Việc bắt một số đối tượng đặc biệt
Việc bắt người là đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp, ngoài việc
tuân theo Điều 80, 81, 82 BLTTHS, còn phải đảm bảo một số thủ tục được quy định
ở các văn bản khác (Điều 99 Hiến pháp 1992, Điều 58 Luật tổ chức Quốc hội
25/12/2001, Điều 44 Luật tổ chức Hội đồng nhân dân 26/11/2003).
1.1.5.2. Những quy định của pháp luật tố tụng hình sự về biện pháp tạm
giữ
Tạm giữ là một biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự do cơ quan có
thẩm quyền áp dụng đối với người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp hoặc phạm tội
quả tang.
- Đối tượng bị tạm giữ: Là những người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp
hay phạm tội quả tang, người phạm tội tự thú, đầu thú hay đối với người bị bắt theo
quyết định truy nã. Tuy nhiên, không phải tất cả các trường hợp trên đều bị tạm giữ
mà chỉ khi cần có đủ thời gian đề CQĐT có thẩm quyền kiểm tra, xác minh tính
chất, mức độ, hành vi phạm tội, nơi cư trú, những tình tiết trong lời khai của người
bị bắt… Thì mới áp dụng biện pháp tạm giữ để đảm bảo cho hoạt động điều tra.
- Thẩm quyền ra lệnh tạm giữ: Theo khoản 2 Điều 86 BLTTHS quy định
những người có quyền tại khoản 2 Điều 81 BLTTHS và chỉ huy trưởng vùng cảnh
sát biển có quyền ra quyết định tạm giữ.
- Thủ tục tạm giữ: Tại khoản 3 Điều 86 BLTTHS qui định: Trong thời hạn
12 giờ kể từ khi ra quyết định tạm giữ quyết định tạm giữ phải được gửi cho VKS
cùng cấp. Nếu xét thấy việc tạm giữ không có căn cứ hoặc không cần thiết thì VKS
ra quyết định hủy bỏ quyết định tạm giữ và phải trả tự do ngay cho người bị tạm
giữ. Việc tạm giữ phải có lệnh viết tay của cơ quan có thẩm quyền, quyết định này
phải ghi rõ lý do tạm giữ, ngày hết hạn tạm giữ và phải giao cho người bị tạm giữ
một bản, người bị tạm giữ có quyền được biết lý do về việc bị tạm giữ, có quyền
được trình bày lời khai, đưa ra yêu cầu, khiếu nại về việc tạm giữ và được giải thích
giam của những người được quy định tại điểm d khoản 1 Điều 80 BLTTHS phải
được VKS cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành. Trong thời hạn 3 ngày kể từ ngày
nhận được lệnh tạm giam, đề nghị xét phê chuẩn và hồ sơ, tài liệu liên quan đến
việc tạm giam, VKS phải ra quyết định phê chuẩn hoặc quyết định không phê
chuẩn. VKS phải hoàn trả hồ sơ cho CQĐT ngay sau khi kết thúc việc xét phê
chuẩn.
- Thủ tục tạm giam: Việc tạm giam phải có lệnh viết của người có thẩm
quyền. Sau khi ra lệnh tạm giam, cơ quan ra lệnh tạm giam phải báo ngay cho gia
đình người bị tạm giam biết.
- Thời hạn tạm giam: (Điều 120 BLTTHS) thời hạn tạm giam bị can để điều
tra không quá 2 tháng đối với tội ít nghiêm trọng, không quá 3 tháng đối với tội
phạm nghiêm trọng, không quá 4 tháng đối với tội rất nghiêm trọng và đặc biệt
nghiêm trọng.
Trường hợp vụ án có nhiều tình tiết phức tạp, xét cần phải có thời gian dài hơn
cho việc điều tra và không có căn cứ để thay thế hay hủy bỏ biện pháp tạm giam thì
chậm nhất là 10 ngày trước khi hết hạn tạm giam, CQĐT phải có văn bản để nghị VKS
gia hạn tạm giam. Việc gia hạn tạm giam được quy định như sau:
+ Đối với tội phạm ít nghiêm trọng có thể được gia hạn tạm giam một lần
không quá 1 tháng.
+ Đối với tội phạm nghiêm trọng được gia hạn tạm giam hai lần, lần thứ
nhất không quá 2 tháng, lần thứ hai không quá 1 tháng.
+ Đối với tội phạm rất nghiêm trọng được gia hạn tạm giam hai lần, lần thứ
nhất không quá 3 tháng, lần thứ hai không quá 2 tháng.
+ Đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng có thể được gia hạn tạm giam 3
lần, mỗi lần không quá 4 tháng.
Thẩm quyền gia hạn tạm giam của VKS được quy định như sau: VKSND cấp
huyện, VKS quân sự khu vực có quyền gia hạn đối với tội phạm ít nghiêm trọng,
gia hạn tạm giam lần thứ nhất đối với tội nghiêm trọng, rất nghiêm trọng. Trong
giam, tạm giữ khác với chế độ đối với người đang chấp hành hình phạt.
Nơi tạm giam, tạm giữ, chế độ sinh hoạt, nhận quà, liên hệ với gia đình và
các chế độ khác được thực hiện theo đúng những quy định của chính phủ. Hiện nay
chúng ta đang áp dụng "Quy chế tạm giữ, tạm giam" theo Nghị định số
89/1998/NĐ-CP ngày 07/01/1998.
Các biện pháp bảo hộ đối với thân nhân và tài sản đối với người bị tạm giữ,
tạm giam: Nếu người bị tạm giữ, tam giam đang có con chưa thành niên dưới 14
tuổi và thân nhân là người bị tàn tật, già yếu không có người chăm sóc thì cơ quan
ra lệnh tạm giữ, tạm giam, giao những người đó cho người thân thích hoặc chính
quyền sở tại chăm nom. Trường hợp người bị tạm giam, tạm giữ có nhà hoặc tài sản
khác mà không có người trông nom thì cơ quan ra lệnh tạm giữ, tạm giam phải áp