CÁC BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN đối với NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM tội - Pdf 26

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
CÁC BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN ĐỐI VỚI
NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI
Chuyên ngành: Luật Dân sự
Mã số: 60 38 30
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2014
MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các từ viết tắt
Danh mục các bảng
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BIỆN PHÁP NGĂN
CHẶN ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN
7
1.1. Người chưa thành niên phạm tội và thủ tục giải quyết các vụ
án là người chưa thành niên trong tố tụng hình sự
7
1.1.1. Người chưa thành niên phạm tội 7
1.1.2. Thủ tục giải quyết các vụ án là người chưa thành niên trong
tố tụng hình sự
10
1.2.
1.2.1.
1.2.2.
1.2.3.
Biện pháp ngăn chặn áp dụng đối với người chưa thành niên

2.1.2. Giai đoạn từ sau khi ban hành Bộ luật tố tụng hình sự 1988
đến trước khi ban hành Bộ luật tố tụng hình sự 2003
27
2.2.
2.3.
Thực trạng pháp luật hiện hành quy định về các biện pháp
ngăn chặn đối với người chưa thành niên
Thực tiễn áp dụng các biện các biện pháp ngăn chặn đối với
người chưa thành niên phạm tội trên địa bàn tỉnh Hải Dương
28
39
2.3.1. Tình hình áp dụng biện pháp bắt người 39
2.3.2. Tình hình áp dụng biện pháp tạm giữ 42
2.3.3. Tình hình áp dụng biện pháp tạm giam 45
2.3.4. Tình hình áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú 47
2.3.5. Tình hình áp dụng biện pháp bảo lĩnh 49
2.3.6. Tình hình áp dụng biện pháp đặt tiền hoặc tài sản 52
2.4. Nhận xét, đánh giá về việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn
đối với người chưa thành niên phạm tội trên địa bàn tỉnh Hải
Dương
53
2.4.1. Những ưu điểm 53
2.4.2. Những hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế 56
Chương 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP
DỤNG CÁC BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN ĐỐI
VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM
TỘI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HẢI DƯƠNG
63
3.1. Cơ sở của các biện pháp ngăn chặn đối với người chưa
thành niên phạm tội

(2009-2013)
40
2.2 Số đối tượng bị áp dụng biện pháp tạm giữ trên địa bàn
tỉnh Hải Dương (2009- 2013)
43
2.3 Số đối tượng bị áp dụng biện pháp tạm giam tại tỉnh Hải
Dương (2009-2013)
45
2.4 Số đối tượng bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú
tại tỉnh Hải Dương (2009-2013)
48
2.5 Số đối tượng bị áp dụng biện pháp bảo lĩnh tại tỉnh Hải
Dương (2009-2013)
50
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam là một quốc gia luôn đi đầu trong vấn đề chăm sóc và bảo
vệ trẻ em. Bởi thế hệ trẻ là tương lai của đất nước, là lớp người kế tục sự
nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Nhà nước đã ban hành rất nhiều các văn
bản pháp luật nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của trẻ em như: Hiến
pháp năm 2013, Luật bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004, Bộ luật
hình sự (BLHS) năm 1999, Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2003…
Việt Nam cũng là một trong các quốc gia đầu tiên ở châu Á tham gia Công
ước về quyền trẻ em của Liên hợp quốc. Đảng và Nhà nước ta đã và đang tiến
hành nhiều biện pháp, hoạt động cụ thể để chăm sóc, giáo dục trẻ em, tạo
dựng một môi trường xã hội trong sạch, lành mạnh để các em phát triển toàn
diện. Trong đó, đặc biệt chú ý quan tâm đến vấn đề chăm sóc giáo dục thế hệ
trẻ và phòng ngừa, ngăn chặn người chưa thành niên phạm tội.
Bên cạnh những kết quả đạt được, chúng ta thấy tồn tại một thực trạng
đáng lo ngại trong cả nước nói chung cũng như ở địa bàn tỉnh Hải Dương nói

nâng cao hiệu quả trong việc ngăn chặn người chưa thành niên phạm tội, phục
vụ đắc lực hoạt động điều tra.
Xuất phát từ những lý do trên, việc tác giả chọn đề tài "Các biện pháp
ngăn chặn đối với người chưa thành niên phạm tội (trên cơ sở nghiên cứu
thực tiễn địa bàn tỉnh Hải Dương)" làm đề tài luận văn thạc sĩ là vấn đề
mang tính cấp bách, thiết thực không những về mặt lý luận mà cả về mặt thực
tiễn đối với địa phương trong giai đoạn hiện nay.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Chế định các biện pháp ngăn chặn trong luật TTHS đã được nhiều nhà
khoa học trong nước quan tâm nghiên cứu. Tiến sĩ Nguyễn Văn Nguyên có
công trình "Các biện pháp ngăn chặn và những vấn đề nâng cao hiệu quả của
2
chúng" (Nhà xuất bản Công an nhân dân, Hà Nội, 1995); Nguyễn Mai Bộ có
công trình "Những biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự" (Nhà xuất bản
chính trị quốc gia, Hà Nội, 1997); Luận án tiến sĩ của Nguyễn Văn Điệp "Các
biện pháp ngăn chặn bắt, tạm giữ, tạm giam trong tố tụng hình sự Việt Nam.
Thực trạng, nguyên nhân và giải pháp"; Luận án tiến sĩ của Nguyễn Trọng
Phúc "Chế định các biện pháp ngăn chặn theo luật tố tụng hình sự Việt
Nam"… Ngoài ra, còn có một số bài viết đăng trên các tạp chí Công an nhân
dân, trật tự an toàn xã hội, tạp chí Tòa án nhân dân, tạp chí Dân chủ và pháp
luật, tạp chí Kiểm sát… cũng đề cập đến vấn đề này.
Trong các công trình nghiên cứu của, các học giả mới chỉ đề cập đến
vấn đề lý luận chung về các biện pháp ngăn chặn hoặc phân tích các quy định
của pháp luật thực định về các biện pháp đó. Các công trình khoa học mới chỉ
nghiên cứu một cách tổng thể trên phạm vi rộng mà chưa đề cập đến những
khó khăn vướng mắc và những giải pháp về việc áp dụng các biện pháp ngăn
chặn đối với người chưa thành niên phạm tội trên từng địa phương cụ thể và
với những đặc trưng riêng của từng tỉnh. Cho đến nay vẫn chưa có công trình
nào nghiên cứu về thực tiễn áp dụng ngăn chặn đối với người chưa thành niên
phạm tội ở tỉnh Hải Dương.

4.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu việc những vấn đề lý luận, quy định
của pháp luật TTHS và thực trạng áp dụng các biện pháp ngăn chặn đối với
người chưa thành niên là bị can, bị cáo.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Luận văn nghiên cứu quy định của BLTTHS Việt Nam về các biện
pháp ngăn chặn đối với người chưa thành niên là bị can, bị cáo.
4
- Về địa bàn khảo sát: Luận văn chỉ khảo sát thực trạng áp dụng các
biện pháp ngăn chặn áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội trên địa
bàn tỉnh Hải Dương.
- Về thời gian khảo sát: luận văn nghiên cứu thực tiễn áp dụng các
biện pháp ngăn chặn đối với người chưa thành niên phạm tội trong giai đoạn
2009- 2013.
5. Phương pháp luận và các phương pháp nghiên cứu
Đề tài được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận chủ nghĩa Mác -
Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật, quan điểm của Đảng
và Nhà nước ta về xây dựng nhà nước pháp quyền, về chính sách nhân đạo
đối với người chưa thành niên phạm tội, về vấn đề cải cách tư pháp, về công
tác đấu tranh phòng chống tội phạm và các tội phạm do người chưa thành
niên thực hiện.
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả đã sử dụng các phương pháp
cụ thể và đặc thù của khoa học Luật hình sự như: phương pháp phân tích và
tổng hợp; phương pháp so sánh, đối chiếu, phương pháp diễn dịch, phương
pháp quy nạp; nghiên cứu tâm lý lứa tuổi, phương pháp thống kê, điều tra xã
hội học để đánh giá, hệ thống hóa hoạt động áp dụng biện pháp ngăn chặn đối
với người chưa thành niên phạm tội.
6. Những điểm mới và đóng góp của luận văn
Kết quả nghiên cứu của luận văn có ý nghĩa làm rõ hơn về phương
diện lý luận và thực tiễn áp dụng các biện pháp ngăn chặn trong TTHS Việt

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN
ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN
1.1. NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI VÀ THỦ TỤC GIẢI
QUYẾT CÁC VỤ ÁN LÀ NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN
1.1.1. Người chưa thành niên phạm tội
Người chưa thành niên là những người còn non nớt về thể chất và tinh
thần, song họ chính là chủ nhân tương lai của đất nước nên cần được quan
tâm chăm sóc đặc biệt. Trong lứa tuổi của mình, việc phạm sai lầm của những
người chưa thành niên là hoàn toàn dễ hiểu vì họ chưa phát triển đầy đủ cả về
thể chất và nhân cách, cho nên việc đấu tranh phòng chống tội phạm ở người
chưa thành niên cũng cần có căn cứ trên cơ sở đặc điểm tâm lý người chưa
thành niên.
Điều 1 Công ước quốc tế về quyền trẻ em được Đại hội đồng Liên hợp
quốc thông qua ngày 20/11/1989 có ghi: "Trong phạm vi Công ước này, trẻ
em có nghĩa là người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp luật áp dụng đối với trẻ em
có quy định tuổi thành niên sớm hơn" [33].
Ở Việt Nam, độ tuổi người chưa thành niên được xác định thống nhất
trong Hiến pháp sửa đổi năm 2013, BLHS năm 1999, BLTTHS năm 2003, Bộ
luật lao động, Bộ luật dân sự, Luật xử lý vi phạm hành chính và một số văn
bản quy phạm pháp luật khác. Tất cả các văn bản pháp luật đó đều quy định
tuổi của người chưa thành niên là dưới 18 tuổi và quy định riêng những chế
định pháp luật đối với người chưa thành niên trong từng lĩnh vực cụ thể.
Dưới góc độ là chủ thể của tội phạm thì tuổi của người chưa thành
niên phạm tội được giới hạn hẹp hơn so với tuổi của người chưa thành niên
trong các ngành luật khác, đó là từ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi. Theo Điều 68
7
BLHS 1999 quy định: “Người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi
phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của chương này, đồng thời theo
những quy định khác của Phần chung Bộ luật không trái với những quy định
của chương này” [41]. Như vậy một câu hỏi được đặt ra ở đây là tại sao pháp

sự là đủ 14 tuổi. Cũng trong BLHS, Điều 68 ghi nhận việc áp dụng BLHS đối
với người chưa thành niên phạm tội đó là người từ đủ 14 tuổi dưới 18 tuổi.
Điều này có nghĩa rằng, ở độ tuổi từ đủ 14 đến dưới 18 tuổi có thể phải gánh
chịu hậu quả pháp lý bất lợi mà nhà nước áp dụng đối với hành vi nguy hiểm
do các đối tượng này gây ra.
Như vậy, tiêu chí để xác định trách nhiệm hình sự đối với người chưa
thành niên bao gồm:
- Có hành vi phạm tội do người chưa thành niên thực hiện.
- Người thực hiện hành vi phạm tội đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình
sự tương ứng với loại tội phạmvà lỗi của người đó.
- Các cơ quan có thẩm quyền đã cân nhắc tính cần thiết phải xử lý
bằng hình sự mà không thể áp dụng các biện pháp tư pháp hoặc các biện pháp
khác để quản lý, giáo dục và phòng ngừa tội phạm đối với người phạm tội.
Chỉ khi nào hội tụ đủ ba điều kiện trên thì người chưa thành niên mới
phải chịu trách nhiệm hình sự bằng hình phạt do Tòa án tuyên. Người chưa
thành niên thực hiện tội phạm ngoài những dấu hiệu và yếu tố pháp lý còn
được xác định bằng sự nhận định, cân nhắc cụ thể của cơ quan có thẩm quyền
để quyết định truy cứu trách nhiệm hình sự và áp dụng hình phạt đối với họ.
Tóm lại, trên cơ sở lập luận trên có thể đưa ra định nghĩa khoa học về
người chưa thành niên phạm tội như sau: Người chưa thành niên phạm tội là
người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi, có năng lực trách nhiệm hình sự chưa
9
đầy đủ do sự hạn chế bởi các đặc điểm về tâm, sinh lý và đã có lỗi trong việc
thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự cấm.
1.1.2. Thủ tục giải quyết các vụ án là người chưa thành niên trong
tố tụng hình sự
Người chưa thành niên phạm tội theo quy định của Luật hình sự phải
chịu trách nhiệm hình sự, do vậy cần phải có thủ tục tố tụng áp dụng. Thông
thường, theo quy định của pháp luật, thủ tục TTHS đối với tội phạm nói
chung và người chưa thành niên phạm tội nói riêng bao gồm các thủ tục điều

đặc biệt nghiêm trọng.
Về việc giám sát bị cáo là người chưa thành niên: theo quy định tại
Điều 304 BLTTHS thì nếu xét thấy việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn đối
với người chưa thành niên là không cần thiết, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát
và Tòa án có thể ra quyết định giao bị can, bị cáo chưa thành niên cho cha mẹ,
người đỡ đầu của họ giám sát để đảm bảo sự có mặt của bị can, bị cáo khi có
giấy triệu tập của cơ quan THTT. Những người được giao nhiệm vụ giám sát
có nghĩa vụ giám sát chặt chẽ người chưa thành niên, theo dõi tư cách, đạo
đức và giáo dục người đó.
Về thi hành án phạt tù: Theo quy định thì không được áp dụng chế độ
tạm giữ người chưa thành niên như đối với người đã thành niên, mà họ phải
được giam giữ riêng, các chế độ với người chưa thành niên cũng được ưu ái
hơn. Pháp luật quy định về chế độ học văn hóa, đào tạo nghề nghiệp… để
giúp đỡ các em bổ túc trình độ văn hóa, tạo dựng nghề nghiệp đảm bảo khi ra
trường các em có nghề nghiệp ổn định. Điều này cũng có ý nghĩa trong công
tác phòng chống tội phạm ở tuổi vị thành niên.
11
1.2. BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN ÁP DỤNG ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA
THÀNH NIÊN TRONG QUÁ TRÌNH GIẢI QUYẾT VỤ ÁN HÌNH SỰ
1.2.1. Khái niệm về các biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự
Trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, các cơ quan THTT được áp
dụng nhiều biện pháp trong đó có các biện pháp ngăn chặn. Các biện pháp
ngăn chặn là một trong những chế định pháp lý quan trọng được quy định tại
Chương VI BLTTHS năm 2003. Việc nhận thức thống nhất, đồng thời quy
định và áp dụng đúng đắn các biện pháp ngăn chặn là bảo đảm cần thiết cho
việc thực hiện tốt các nhiệm vụ của TTHS để phát hiện chính xác, nhanh
chóng và xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội
phạm, không làm oan người vô tội.
Trong lịch sử pháp luật TTHS Việt Nam, mặc dù chưa có quy phạm
định nghĩa về khái niệm biện pháp ngăn chặn, nhưng các biện pháp ngăn chặn

pháp cưỡng chế hạn chế tự do của bị cáo với mục đích ngăn ngừa sự trốn
tránh việc điều tra, xét xử". Tác giả đã đúng khi cho rằng các biện pháp ngăn
chặn là những cưỡng chế hạn chế tự do của bị cáo, nhưng có sự nhầm lẫn giữ
mục đích và căn cứ áp dụng chúng.
Những khái niệm khoa học trên về biện pháp ngăn chặn của các nhà
luật học nước ngoài có những quan điểm khác nhau. Tuy nhiên, chúng đã
phản ánh được khái quát những đối tượng nghiên cứu mà chúng ta cần tham
khảo, tiếp thu như: quan niệm về bản chất pháp lý của biện pháp ngăn chặn;
sự cưỡng chế nhưng mang tính chất phòng ngừa, quyền lựa chọn biện pháp
ngăn chặn trong TTHS.
Trong khoa học luật TTHS Việt Nam cũng có những khái niệm khác
nhau về biện pháp ngăn chặn. Theo Từ điển Luật học giải thích biện pháp
ngăn chặn là:
Biện pháp cưỡng chế về mặt tố tụng hình sự áp dụng khi có
13
đủ căn cứ đối với bị can, bị cáo hoặc người chưa bị khởi tố trong
trường hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang để ngăn chặn hành vi
nguy hiểm cho xã hội của họ, ngăn ngừa họ tiếp tục phạm tội, trốn
tránh pháp luật hoặc có hành động gây cản trở cho việc điều tra,
truy tố, xét xử và thi hành án [58, tr.69].
Từ điển đã xác định đúng đối tượng và mục đích áp dụng các biện
pháp ngăn chặn, nhưng không chỉ ra chủ thể có quyền áp dụng chúng.
Tiến sĩ Nguyễn Văn Điệp cho rằng:
Biện pháp ngăn chặn là biện pháp cưỡng chế cần thiết về
mặt tố tụng hình sự, do các cơ quan và những người có thẩm quyền
theo quy định của pháp luật áp dụng đối với bị can, bị cáo hoặc
người chưa bị khởi tố khi có căn cứ do Bộ luật tố tụng hình sự quy
định nhằm ngăn chặn tội phạm, bảo đảm cho việc điều tra, truy tố,
xét xử và thi hành án. Các biện pháp ngăn chặn bao gồm: bắt người,
tạm giữ, tạm giam, cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài

trở thành người có ích cho xã hội, mà còn mục đích giáo dục người khác tôn
trọng pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm, trong khi đó các
biện pháp ngăn chặn chỉ có mục đích phòng ngừa và tạo điều kiện để làm rõ
tội phạm và xử lý người phạm tội.
Đối tượng bị áp dụng biện pháp ngăn chặn là bị can, bị cáo, người
phạm tội quả tang hoặc người mà các cơ quan THTT có tài liệu, chứng cứ
nghi là họ phạm tội. Khi áp dụng các biện pháp ngăn chặn, các cơ quan có
thẩm quyền chỉ được tiến hành trong phạm vi giới hạn cũng như thủ tục mà
pháp luật TTHS quy định. Thẩm quyền áp dụng biện pháp ngăn chặn là
những người THTT có thẩm quyền thuộc Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát,
Tòa án hoặc người có chức vụ trong các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến
hành một số biện pháp điều tra, công dân tham gia vào việc bắt người phạm
15
tội quả tang. Mọi hành vi áp dụng biện pháp ngăn chặn không đúng đối
tượng, thẩm quyền, căn cứ, cũng như thủ tục đều bị coi là vi phạm pháp luật
vó thể bị xử lý theo quy định của pháp luật.
Từ những sự phân tích ở trên, có thể đưa ra khái niệm biện pháp ngăn
chặn như sau: Biện pháp ngăn chặn là biện pháp cưỡng chế nhà nước mang
tính phòng ngừa do người có thẩm quyền được quy định trong BLTTHS áp
dụng đối với bị can, bị cáo, người phạm tội quả tang hoặc người bị nghi là
phạm tội nhằm ngăn chặn kịp thời hành vi phạm
1.2.2. Khái niệm biện pháp ngăn chặn đối với người chưa thành
niên phạm tội
Để tạo điều kiện thuận lợi cho việc đấu tranh phòng, chống tội phạm,
pháp luật TTHS của Nhà nước ta quy định nhiều biện pháp cưỡng chế khác
nhau. Những biện pháp cưỡng chế trong TTHS có nội dung tương đối rộng và
cụ thể, chia thành ba nhóm:
- Nhóm 1: những biện pháp ngăn chặn tội phạm như: bắt, tạm giữ, tạm
giam, cấm đi khỏi nơi cứ trú, bảo lĩnh và đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để
đảm bảo.

áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội như sau: Biện pháp ngăn
chặn áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội là biện pháp cưỡng chế
trong TTHS do người có thẩm quyền áp dụng đối với bị can, bị cáo, người bị
truy nã hoặc đối với những người chưa bị khởi tố (trong trường hợp khẩn cấp
hoặc phạm tội quả tang) và từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi nhằm ngăn chặn
những hành vi nguy hiểm cho xã hội của họ, ngăn ngừa họ tiếp tục phạm tội,
trốn tránh pháp luật hoặc có hành động cản trở cho việc điều tra, truy tố, xét
xử và thi hành án hình sự.
1.2.3. Đặc điểm áp dụng các biện pháp ngăn chặn đối với người
chưa thành niên
Dựa trên khái niệm biện pháp ngăn chặn đối với người chưa thành
17
niên phạm tội, chúng ta có thể rút ra được một số đặc điểm khi áp dụng các
biện pháp này đối với người chưa thành niên như sau:
- Biện pháp ngăn chặn là biện pháp cưỡng chế trong TTHS bao gồm 6
biện pháp: bắt, tạm giữ, tạm giam, cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền
hoặc tài sản để đảm bảo nhằm cho phép lựa chọn tối ưu trong từng trường
hợp cụ thể, đáp ứng yêu cầu của hoạt động TTHS cũng như lợi ích của những
người tham gia tố tụng.
- Do người có thẩm quyền áp dụng: chủ thể không chỉ là Cơ quan điều
tra, Viện kiểm sát, và Tòa án mà một số chủ thể khác cũng có quyền áp dụng
biện pháp ngăn chặn như người chỉ huy đồn biên phòng, chỉ huy máy bay, tàu
biển…, chủ thể áp dụng là căn cứ phân biệt biện pháp ngăn chặn trong TTHS
và biện pháp ngăn chặn trong hành chính.
- Đối tượng bị áp dụng là bị can, bị cáo và cũng có thể là người chưa
bị khởi tố về hình sự.
- Mục đích chung nhất của biện pháp ngăn chặn là ngăn chặn hành vi
tiếp tục phạm tội, trốn tránh pháp luật hoặc cản trở việc điều tra, truy tố, xét
xử, thi hành án hình sự.
Do phạm vi trách nhiệm hình sự của người chưa thành niên hẹp hơn

không bắt buộc của công ước này (Nghị định thư về “sử dụng trẻ em trong
xung đột vũ trang”, Nghị định thư về “buôn bán trẻ em, mại dâm trẻ em và
văn hóa phẩm khiêu dâm”, đều được Việt Nam phê chuẩn ngày 20/12/2001);
Những quy tắc tối thiểu của Liên hợp quốc về áp dụng pháp luật đối với
Người chưa thành niên còn gọi là Quy tắc Bắc Kinh, được Đại hội đồng Liên
hợp quốc thông qua ngày 20/11/1985; Hướng dẫn Riyadh, được Đại hội đồng
Liên hợp quốc thông qua ngày 24/12/1990; Những quy tắc tối thiểu, phổ biến
của Liên hợp quốc về bảo vệ người chưa thành niên bị tước quyền tự do, được
Liên hợp quốc thông qua ngày 14/12/1990.
19

Trích đoạn Những quy định của pháp luật tố tụng hình sự về biện pháp bảo lĩnh người chưa thành niên phạm tộ Tình hình áp dụng biện pháp bắt ngườ Tình hình áp dụng biện pháp tạm giữ Tình hình áp dụng biện pháp tạm giam
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status