Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội - Pdf 25


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT TRẦN MẠNH TOÀN
CÁC TÌNH TIẾT TĂNG NẶNG TRÁCH NHIỆM
HÌNH SỰ ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN
PHẠM TỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
nặng trách nhiệm hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội 42
2.2. Thực tiễn việc áp dụng các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối
với người chưa thành niên phạm tội trong quá trình tố tụng 49
2.2.1. Thực trạng các vụ án áp dụng các tình tiết tăng năng trách nhiệm
hình sự tại một số địa phương ở Việt Nam 49 2
2.2.2. Nghiên cứu thực tiễn việc áp dụng các tình tình tiết tăng nặng trách
nhiệm hình sự trong một số vụ án cụ thể 52
2.3. So sánh việc áp dụng các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối
với chưa thành niên phạm tội ở Việt Nam và một số quốc gia khác trên thế
giới 61
2.4. Đánh giá chung về việc áp dụng các tình tiết tăng nặng trách nhiệm
hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội ở nước ta hiện nay 69
Chương 3 - HOÀN THIỆN CHẾ ĐỊNH VỀ CÁC TÌNH TIẾT TĂNG NẶNG
TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ ĐỐI VỚI 72
3.1. Nhu cầu khách quan của việc hoàn thiện chế định về các tình tiết tăng
nặng trách nhiệm hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội trong
điều kiện hiện nay ở nước ta 72
3.2. Các giải pháp bảo đảm hiệu quả áp dụng các tình tiết tăng nặng trách
nhiệm hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội 77
3.2.1. Hoàn thiện các quy định pháp luật hình sự Việt Nam về việc áp
dụng các biện pháp tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với người chưa
thành niên phạm tội 77
3.2.2. Những đảm bảo về thủ tục tố tụng hình sự nhằm nâng cao hiệu quả
về việc áp dụng các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với người
chưa thành niên phạm tội 87
KẾT LUẬN 97
Danh mục tài liệu tham khảo 100

chống tội phạm, nhà nước đã xử lý nghiêm minh các hành vi phạm tội, tuy
nhiên đối với những đối tượng phạm tội là những trẻ em chưa đủ tuổi thành
niên với đặc điểm cơ bản là các đối tượng này chưa thể nhận biết một cách
đầy đủ những hành vi của mình và đặc biệt là chịu tác động, ảnh hưởng mạnh
bởi các đối tượng xung quanh, cũng như đang trong quá trình hoàn thành
nhân cách thì vấn đề xử lý các đối tượng này càng phải được đặt ra. Việc xử
lý trẻ em chưa thành niên phạm tội không chỉ đơn thuần chỉ mang tính chất
trừng phạt mà còn phải mang tính chất giáo dục và răn đe để tạo điều kiện cho
các em có thể hội nhập vào đời sống xã hội sau này. Chính vì vậy, xử lý các
đối tượng chưa thành niên phạm tội đòi hỏi làm sao phải vừa thể hiện được
tính nghiêm minh của pháp luật nhưng cũng phải kết hợp với tính nhân đạo và
giáo dục.
Nhận thấy rõ được tầm quan trọng của việc xét xử các đối tượng phạm
tội là người chưa thành niên Đảng và Nhà nước ta đã đưa ra quan điểm: "Vấn 5
đề không phải chỉ đơn giản là xử một vụ án, trừng phạt một tội phạm nào đó,
điều quan trọng là phải tìm ra mọi cách để làm giảm bớt những hoạt động phạm
pháp và tốt hơn hết là ngăn ngừa đừng để các việc sai trái ấy xảy ra". Nhà nước
đã đưa ra nhiều các nguyên tắc, biện pháp áp dụng đối với người chưa thành
niên chưa phạm tội ở Việt Nam mang tính chất nhân đạo và giảm nhẹ cho các
đối tượng này. Trong Bộ luật Hình sự năm 1999, Bộ luật Tố tụng Hình sự
năm 2003, Nhà nước đã quy định cụ thể về việc áp dụng các loại hình phạt
cũng như thủ tục áp dụng đối với đối tượng phạm tội là người chưa thành
niên, trong đó các quy định đề cho thấy tính nhân đạo, giảm nhẹ của nhà
nước. Trên thực tế xét xử các vụ án có đối tượng phạm tội chưa đủ tuổi thành
niên, các cơ quan tiến hành tố tụng đã dựa trên cơ sở quy định của pháp luật
để xét xử vừa đảm bảo được sự nghiêm minh của pháp luật nhưng cũng vừa
đảm bảo được quyền lợi cho những đối tượng này.

bản pháp luật nào quy định, hướng dẫn cụ thể về việc áp dụng các tình tiết
này đối với đối tượng phạm tội là người chưa thành niên.
Các nhà nghiên cứu tư pháp cũng đã đề cập rất nhiều đến các vấn đề
này trên sách báo, tạp chí (Tạp chí dân chủ và pháp luật, tạp chí luật học, tạp
chí Toà án nhân dân), tuy nhiên các bài viết trên vẫn chỉ đi vào những vấn đề
chung mà chưa đi sâu vào việc nghiên cứu vấn đề áp dụng những biện pháp
đó đối với một đối tượng cá biệt là đối tượng phạm tội chưa đủ tuổi thành
niên.
Trong các tài liệu giảng dạy, và sách chuyên khảo các nhà nghiên cứu
cũng mới chỉ đề cập vấn đề này ở góc độ chung nhất.
Bên cạnh đó một số đề tài nghiên cứu khoa học trước đó ở bậc thạc sỹ
liên quan đến vấn đề về việc áp dụng các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình
sự và vấn đề người chưa thành niên chưa thành niên cũng chưa đi sâu vào 7
phân tích vấn đề này, mà chỉ nghiên cứu những vấn đề trên ở những góc độ
khác như “Thủ tục về những vụ án hình sự mà bị can, bị cáo là người chưa
thành niên trong luật Tố tụng Hình sự Việt Nam - Luận văn thạc sỹ luật học”
của Nguyễn Thị Phượng; “Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự trong luật
hình sự Việt Nam”; “Trách nhiệm hình sự của người chưa thành niên phạm
tội trong luật hình sự Việt Nam”; v.v
Với tình hình nghiên cứu trên có thể khẳng định đề tài “Các tình tiết
tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội” là đề
tài nghiên cứu riêng, không bị trùng lặp với những đề tài đã được nghiên cứu
trước đó.
3. Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu của đề tài
3.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn và lý luận, đánh giá việc áp dụng các
biện pháp tăng nặng trách nhiệm hình sự trong các vụ án mà đối tượng phạm

Nghiên cứu thực trạng việc áp dụng các tình tiết tăng nặng trách nhiệm
hình sự trong giai đoạn xét xử người chưa thành niên phạm tội thông qua các
phiên toà và các bản án của Toà án ở một số các địa phương trong những năm
gần đây.
5. Phương pháp nghiên cứu
Trong luận văn chúng tôi đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu như:
phương pháp lịch sử, so sánh, tổng hợp, nghiên cứu tình hình thực tiễn hoạt
động áp dụng trong quá trình xét xử. Qua đó chúng tôi nghiên cứu rút ra
những thành tựu cũng như những tồn tại, hạn chế của thủ tục xét xử vụ án mà
bị cáo là người chưa thành niên nhằm tìm ra nguyên nhân của những tồn tại,
hạn chế đó. 9
Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, luận văn cũng đánh giá tình hình và từ
đó đề ra một số kiến nghị, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả xét xử vụ án mà
bị cáo là người chưa thành niên.
6. Những điểm mới của luận văn
Đề tài chúng tôi chọn là đề tài đầu tiên đi sâu vào nghiên cứu việc áp
dụng các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội chưa
đủ tuổi thành niên ở Việt Nam. Luận văn sẽ đưa ra được những điểm mới sau
đây:
- Phân tích được đặc điểm của việc áp dụng các tình tiết tăng nặng trách
nhiệm hình sự đối với người chưa thành niên theo quy định của pháp luật hiện
hành và thực tiễn việc áp dụng các tình tiết này trên thực tế xét xử.
- Xây dựng được cơ sở của việc áp dụng các tình tiết tăng nặng trách
nhiệm hình sự đối với người phạm tội chưa thành niên.
- Luận văn cũng nêu ra được những hạn chế bất cập của việc áp dụng
các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với người chưa thành niên
phạm tội từ đó đưa ra được những kiến nghị, giải pháp về việc phát triển, đổi

11
Chương 1 - CHÍNH SÁCH HÌNH SỰ ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH
NIÊN PHẠM TỘI VÀ YÊU CẦU ÁP DỤNG CÁC TÌNH TIẾT TĂNG
NẶNG TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ

1.1. Khái niệm về tội phạm của người chưa thành niên
1.1.1. Khái niệm người chưa thành niên
Hiện nay, pháp luật của tất cả các quốc gia trên thế giới đều ghi nhận
độ tuổi thành niên, độ tuổi được pháp luật thừa nhận có khả năng tham gia
vào hầu hết các quan hệ pháp luật. Đối tượng công dân chưa đủ độ tuổi này
được coi là đối tượng chưa thành niên, cũng là chủ thể chưa đầy đủ của các
quan hệ pháp luật. Có thể hiểu, những người ở độ tuổi chưa thành niên là
những người chưa phát triển đầy đủ về nhân cách, chưa có được đầy đủ các
quyền lợi và nghĩa vụ của công dân. Pháp luật mỗi quốc gia đều quy định cụ
thể độ tuổi chưa thành niên.
Điều 1 Công ước Quốc tế về trẻ em chưa thành niên được Đại hội đồng
Liên hợp quốc thông qua ngày 20/11/1989 có ghi: “Trong phạm vi Công ước
này, trẻ em có nghĩa là người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp pháp luật áp dụng
đối với trẻ em có quy định tuổi chưa thành niên sớm hơn”. Bên cạnh Công
ước về quyền trẻ em thì quy tắc tối thiểu phổ biến về việc áp dụng pháp luật
đối với người chưa thành niên (Quy tắc Bắc Kinh) được Đại hội đồng Liên
hợp quốc thông qua ngày 14/12/1992 cũng là một văn bản pháp luật quốc tế
quan trọng đề cập đến khái niệm người chưa thành niên là người chưa đủ 18
tuổi.
Ở Việt Nam, độ tuổi chưa thành niên được xác định thống nhất trong
Hiến Pháp năm 1992 và một số các văn bản pháp luật cơ bản khác của nhà



13
niên ngày 14/12/1990 thì người chưa thành niên được quan điểm là người từ
dưới 18 tuổi.
Người chưa thành niên là đối tượng chủ thể chưa đầy đủ theo quy định
của pháp luật Việt Nam hiện nay, do chưa đủ độ tuổi và chưa hoàn thiện đầy
đủ về thể chất cũng như khả năng nhận thức. Chính vì vậy, ở nước ta hiện nay
người chưa thành niên được Nhà nước và xã hội quan tâm bảo vệ, chăm sóc
và giáo dục để phát triển tốt nhất về thể chất và nhân cách, trở thành người có
ích cho xã hội.
1.1.2. Khái niệm tội phạm do người chưa thành niên gây ra
Tội phạm là một hiện tượng xã hội pháp lý gắn liền với sự ra đời của
nhà nước và pháp luật. Lịch sử hình thành và phát triển của nhà nước và pháp
luật nói chung cũng như của luật hình sự nói riêng đã từ lâu khẳng định một
cách xác đáng và có căn cứ luận điểm đúng đắn được thừa nhận chung này.
Khoản 1, Điều 8 Bộ luật Hình sự Việt Nam năm 1999 chỉ ra khái niệm
tội phạm:
“Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ
luật Hình sự, do người có đủ năng lực trách nhiệm pháp lý thực
hiện một cách cố ý và vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống
nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ
kinh tế, nền văn hoá, quốc phòng an ninh, trật tự, an toàn xã hội,
quyền, lợi ích hợp pháp khác của tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức
khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền và lợi ích hợp
pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự
pháp luật xã hội chủ nghĩa” [25]
Như vậy, có thể hiểu tội phạm là những hành vi nguy hiểm cho xã hội,
bị luật hình sự cấm, do người đủ năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện xâm
Một là, có hành vi phạm tội do người chưa thành niên thực hiện.
Hai là, người thực hiện hành vi phạm tội đã đủ tuổi chịu trách nhiệm
hình sự tương ứng với loại tội phạm và lỗi gây ra tội phạm.
Ba là, người đó thực tế phải chịu trách nhiệm hình sự sau khi các cơ
quan nhà nước có thẩm quyền cân nhắc cần thiết phải xử lý bằng hình sự mà
không thể áp dụng các biện pháp tư pháp hoặc cá biện pháp khác để quản lý,
giáo dục và phòng ngừa tội phạm.
Những điều kiện trên cũng cho thấy tầm quan trọng trong việc xác định
tội phạm do người chưa thành niên gây ra. Tội phạm do người chưa thành
niên gây ra bao giờ cũng gắn liền với người chưa thành niên có hành vi phạm
tội cụ thể nhưng không phải mọi trường hợp một người chưa thành niên thực
hiện hành vi phạm tội đều trở thành tội phạm.
Từ đó, có thể đưa ra khái niệm về tội phạm do người chưa thành niên
gây ra như sau: “Tội phạm do người chưa thành niên gây ra là những hành vi
nguy hiểm cho xã hội được thực hiện bởi người dưới 18 tuổi và người đó phải
chịu trách nhiệm hình sự tương ứng với hành vi và lỗi của mình theo phán xét
của cơ quan tiến hành tố tụng”.
Khái niệm tội phạm do người chưa thành niên gây ra và khái niệm
người chưa thành niên phạm tội có mối liên hệ chặt chẽ với nhau. Khái niệm
tội phạm do người chưa thành niên gây ra dùng đã chỉ tội phạm đã được thực
hiện bởi một dạng chủ thể đặc biệt là người chưa thành niên còn khái niệm
người chưa thành niên phạm tội muốn chỉ đến một đối tượng chủ thể đặc biệt
là người chưa thành niên thực hiện một hành vi phạm tội. 16
1.1.3. Những đặc điểm cơ bản về tâm sinh lý của người chưa thành
niên phạm tội
Trong luật hình sự Việt Nam, người chưa thành niên vừa là đối tượng
tác động của tội phạm và cũng là chủ thể của tội phạm. Với tư cách là chủ thể

niên có đủ những điều kiện để phát triển mạnh mẽ, toàn diện về thể chất cũng
như tinh thần trở thành những người có ích cho xã hội. Vì vậy, đối với trường
hợp người chưa thành niên phạm tội, ngoài trách nhiệm của bản thân họ, Nhà
nước và xã hội cũng có một phần trách nhiệm bởi việc quản lý giáo dục lứa
tuổi này còn có nhiều thiếu sót, do chưa ngăn ngừa được những ảnh hưởng
xấu của các tiêu cực xã hội xâm nhập vào.
Tóm lại, người chưa thành niên là người mà sự phát triển về thể chất có
sự không tương xứng với quá trình phát triển về nhân cách, năng lực trí tuệ,
nhân sinh quan và thế giới quan để hình thành toàn bộ các đặc điểm tâm sinh
lý của một người bước vào độ tuổi thành niên. Ở người chưa thành niên có
những biến đổi sâu sắc về mặt sinh học, có những mâu thuẫn sâu sắc trong sự
phát triển nhân cách. Sự phát triển về thể chất cũng như về các đặc điểm nhân
thân khác chịu sự tác động có tính quyết định của môi trường sống. Vì vậy,
luật hình sự Việt Nam không coi người chưa thành niên phạm tội có năng lực
trách nhiệm hình sự như người đã thành niên phạm tội. Trong mọi trường hợp
điều tra, truy tố và xét xử hành vi phạm tội của người chưa thành niên các cơ
quan tiến hành tố tụng phải xác định khả năng nhận thức và khả năng điều
chỉnh hành vi của họ, đồng thời cũng phải xác định được nguyên nhân và điều
kiện phạm tội.
Như vậy, có thể thấy đối tượng người chưa thành niên phạm tội có
nhiều những đặc điểm khác biệt về tâm sinh lý so với những đối tượng phạm
tội đã thành niên. Khả năng hiểu biết xã hội và pháp luật cũng như khả năng 18
làm chủ hành vi của mình có nhiều hạn chế hơn so với những người ở độ tuổi
thành niên. Những đặc điểm cơ bản về tâm sinh lý này có tác động ảnh hưởng
không nhỏ tới hành vi phạm tội của đối tượng phạm tội chưa thành niên. Một
yêu cầu đặt ra khi xử lý tội phạm do người chưa thành niên gây ra cần phải
tập trung phân tích đánh giá yếu tố tâm sinh lý của người chưa thành niên

phần các đối tượng phạm tội không có được sự giáo dục tốt nhất. Theo một
con số thống kê cho thấy chỉ có khoảng 52,4% số đối tượng người chưa thành
niên phạm tội là được sự nuôi dưỡng và giáo dục của gia đình. Trong số các
đối tượng chưa thành niên phạm tội có đến 17% là trẻ lang thang vô gia cư, và
71,4% trong số đó ít được sự quan tâm giáo dục của gia đình. Ngoài các
nguyên nhân từ gia đình còn phải kể đến các nguyên từ xã hội. Hiện nay ở
nước ta vẫn còn thiếu những trung tâm cộng đồng để hỗ trợ người chưa thành
niên và gia đình vượt qua những điều kiện khó khăn cũng như thiếu các
chương trình xã hội cần thiết để bảo vệ người chưa thành niên cũng như góp
phần đưa những người chưa thành niên phạm tội tái hoà nhập xã hội, phòng
ngừa tái phạm, tái phạm nguy hiểm. Mặt khác, hiện nay công tác giáo dục,
phòng ngừa và hạn chế người chưa thành niên phạm tội vẫn còn rất yếu kém.
Công tác phòng chống tội phạm mới chỉ thiên về mặt chống và trừng trị các
hành vi phạm tội mà ít chú ý đến công tác phòng ngừa. Ngoài ra là hệ thống
văn bản pháp luật liên quan đến việc phòng chống tội phạm vẫn còn thiếu,
chưa đồng bộ và còn nhiều quy định chưa phù hợp, thiếu cơ chế phối hợp cụ
thể.
Tội phạm do người chưa thành niên gây ra ở nước ta hiện nay có một
số đặc điểm cơ bản. Các đối tượng phạm tội đa phần chưa nhận thức hết được
tính chất nguy cho xã hội do hành vi của mình gây ra hoặc nhận thức được
tính chất nguy hiểm do hành vi của mình gây ra nhưng khả năng kìm chế bản
thân kém, đây cũng là một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn đến việc 20
phạm tội của người chưa thành niên. Do khả năng nhận thức xã hội chưa đầy
đủ, các đối tượng chưa thành niên dễ bị rủ rê lôi kéo, nhất là trong những năm
trở lại đây khi nền văn hoá phương Tây ảnh hưởng mạnh vào xã hội Việt
Nam, các đối tượng chưa thành niên dễ bị ảnh hưởng bởi lối sống mới làm
tăng nguy cơ phạm tội. Ngoài ra một đặc điểm cơ bản khác là do thiếu sự giáo

người phạm tội chưa thành niên, theo xu hướng chung hiện nay thì nội dung
của chính sách hình sự liên quan đến cả hai lĩnh vực: Lĩnh vực luật nội dung
(luật Hình sự) và lĩnh vực luật thủ tục (luật Tố tụng hình sự). Tuy nhiên, để có
thể thừa nhận người chưa thành niên là người phạm tội thì phải có bản án kết
tội đã có hiệu lực pháp luật của Toà án. Mà bản án của Toà án là kết quả của
toàn bộ hoạt động tố tụng hình sự của các cơ quan tiến hành tố tụng trong việc
điều tra, truy tố, xét xử người chưa thành niên. Những hoạt động này liên
quan trực tiếp đến các quyền và lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên là
bị can, bị cáo trong vụ án và đến tính khách quan, tính pháp lý của bản án. Do
vậy chính sách hình sự còn có nội dung thứ hai là những nguyên tắc, tư tưởng
chỉ đạo, quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị can, bị cáo là người chưa thành
niên. Điều này thể hiện ở chương XXXII Bộ luật Tố tụng hình sự một chương
quy định về thủ tục tố tụng hình sự bổ sung áp dụng đối với đối tượng này.
Tuy nhiên, dựa trên các quy định đối với người chưa thành niên phạm tội ở
Chương X Bộ luật Hình sự 1999, chúng ta có thể hiểu khái niệm trách nhiệm
hình sự đối với người chưa thành niên.
Xuất phát từ cơ sở lý luận của chính sách hình sự được ghi nhận trong
Công ước về quyền trẻ em năm 1989 “Trẻ em, do còn non nớt về thể chất và
trí tuệ cần được bảo vệ, chăm sóc đặc biệt, kể cả sự bảo vệ thích hợp về mặt
pháp lý trước cũng như sau khi ra đời”. Đồng thời, Hiến pháp Việt Nam năm
1992 quy định tại Điều 71: “Công dân có quyền bất khả xâm phạm về thân 22
thể, được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khoẻ, danh dự và nhân
phẩm…”[26] . Bộ luật Hình sự hiện hành xây dựng một chương riêng quy
định đường lối xử lý đối với người chưa thành niên phạm tội. Quy định này
dựa trên cơ sở phân tích về tâm, sinh lý đối với người chưa thành niên. Đây là
đối tượng chưa phát triển đầy đủ về thể chất cũng như về tâm, sinh lý, họ bị
hạn chế về trình độ nhận thức cũng như về kinh nghiệm sống, thiếu những

xử lý và áp dụng biện pháp hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội,
những người tiến hành tố tụng phải cân nhắc thận trọng để bảo đảm được mục
đích giáo dục, uốn nắn, răn đe các hành vi lệch lạc, làm cho họ thấy rõ những
sai phạm của mình và tự giác sửa chữa với sự giúp đỡ của gia đình, nhà
trường và xã hội. Nguyên tắc này đòi hỏi người tiến hành tố tụng trong vụ án
hình sự mà bị can, bị cáo là người chưa thành niên phải thấy được rằng việc
xử lý hình sự là vì sự phát triển lành mạnh của người chưa thành niên và mức
độ xử lý phải đảm bảo sự phát triển lành mạnh của người đó. Điều này thể
hiện rõ trong các quy định từ Điều 69 đến Điều 77 của BLHS 1999.
Điều 69 Bộ luật Hình sự quy định:
“Nguyên tắc xử lý đối với người chưa thành niên phạm tội
1. Việc xử lý người chưa thành niên phạm tội chủ yếu nhằm mục
đích giáo dục giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển mạnh và trở
thành công dân có ích cho xã hội.
Trong mọi trường hợp điều tra, truy tố, xét xử hành vi phạm tội của
người chưa thành niên, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải
xác định khả năng nhận thức của họ về tính chất nguy hiểm cho xã
hội của hành vi phạm tội, nguyên nhân và điều kiện phạm tội gây
ra.
2. Người chưa thành niên phạm tội có thể được miễn trách nhiệm 24
hình sự, nếu người đó phạm một tội ít nghiêm trọng hoặc tội
nghiêm trọng, gây thiệt hại không lớn, có nhiều tình tiết giảm nhẹ
và được gia đình hoặc cơ quan, tổ chức nhận giám sát, giáo dục.
3. Việc truy cứu trách nhiệm hình sự người chưa thành niên phạm
tội là áp dụng hình phạt đối với họ được thực hiện chỉ trong trường
hợp cần thiết và phải căn cứ vào tính chất của hành vi phạm tội,
vào những đặc điểm về nhân thân và yêu cầu về việc phòng ngừa


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status