3
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Vấn đề chăm sóc, giáo dục thế hệ trẻ và phòng ngừa, ngăn chặn người
chưa thành niên phạm tội là một việc làm không chỉ có ở Việt Nam mà tất cả
các quốc gia trên thế giới cũng đặc biệt quan tâm, nghiên cứu và thực hiện. Bởi
thế hệ trẻ là tương lai của đất nước, là lớp người kế tục sự nghiệp xây dựng và
bảo vệ tổ quốc vì một ngày mai tươi sáng, "Trẻ em hôm nay, thế giới ngày mai".
Với vai trò quan trọng như vậy, nên trong Hiến pháp nước Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa (XHCN) Việt Nam 1992 (sửa đổi, bổ sung 2001) ghi nhận
"…Nhà nước, xã hội và gia đình chăm lo, chăm sóc, giáo dục trẻ em…". Thể
chế hóa điều đó có hệ thống các ngành luật, văn bản pháp luật, nghị quyết, chỉ
thị đề cập đến như Luật bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 1991, Luật
hình sự năm 1999, Luật tố tụng hình sự năm 2003, chương trình hành động
quốc gia 12/91... Nhìn lại một chặng đường dài đã qua, Nhà nước ta đã và
đang tiến hành rộng rãi việc chăm sóc giáo dục trẻ em, tạo dựng một môi
trường xã hội trong sạch, lành mạnh. Nhiều trường học, lớp học với những
mô hình đào tạo đa dạng, phong phú, kết hợp với việc học hỏi kinh nghiệm của
các quốc gia tiên tiến trên thế giới, chúng ta đã đạt được nhiều kết quả đáng
khích lệ. Tuy nhiên, trong phạm vi cả nước nói chung cũng như ở địa bàn tỉnh
Hà Tây nói riêng vẫn tồn tại một thực trạng rất lo ngại, đó là tình hình vi phạm
pháp luật, đặc biệt là tình hình phạm tội do người chưa thành niên thực hiện, với
tính chất, mức độ, hành vi nguy hiểm cho xã hội ngày càng tăng. Chẳng hạn, các
tội liên quan đến ma túy, giết người, cướp của, hiếp dâm, tống tiền... cùng với
việc sử dụng vũ khí nóng, tụ tập thành các băng ổ nhóm hoạt động theo kiểu
xã hội đen, gây nên tâm lý hoang mang lo sợ trong nhân dân và khó khăn cho
công tác điều tra, khám phá tội phạm của lực lượng Công an nhân dân. Nhất
là việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn người chưa thành niên phạm tội.
Nhà xuất bản Pháp lý (1990), Cuốn "Các biện pháp ngăn chặn trong luật tố
5
tụng hình sự Việt Nam" của Nguyễn Mai Bộ, Nhà xuất bản Công an nhân dân
(1997). Một số công trình khoa học như Luận án tiến sĩ của TS Trịnh Văn
Thanh và một số luận văn thạc sĩ như ThS. Trần Mạnh Hùng…cũng tập trung
phân tích các vấn đề liên quan đến các biện pháp ngăn chặn. Ngoài ra, còn có
một số công trình, bài viết đăng trên tạp chí Công an nhân dân, Tạp chí Kiểm
sát… đề cập đến; các bài viết này mới chỉ khai thác được một số khía cạnh về
cách thức, phương pháp áp dụng các biện pháp ngăn chặn. Các công trình
khoa học mới chỉ nghiên cứu một cách tổng thể trên phạm vi rộng mà chưa đề
cập đến những khó khăn vướng mắc và những giải pháp về việc áp dụng các
biện pháp ngăn chặn đối với người chưa thành niên phạm tội trên từng địa
phương cụ thể và với những đặc trưng riêng của từng tỉnh.
Thực tế, một số tài liệu có tính chất hướng dẫn như Pháp lệnh Tổ chức
điều tra hình sự năm 2004, Giáo trình "Chiến thuật điều tra hình sự" của Học
viện Cảnh sát nhân dân đã nêu rõ hơn về việc áp dụng này, song việc áp dụng
ở từng địa phương còn phụ thuộc nhiều vào các hướng dẫn cụ thể, ý kiến chỉ
đạo hoặc các tài liệu rút kinh nghiệm thông qua điều tra vụ án.
Tình hình nghiên cứu trên cho thấy, vấn đề "Áp dụng các biện pháp
ngăn chặn đối với người chưa thành niên phạm tội trên địa bàn tỉnh Hà Tây
của cơ quan cảnh sát điều tr " cần tiếp tục được nghiên cứu, để làm tiêu chí, làm
cơ sở, kinh nghiệm áp dụng chung cho các tỉnh khác trong phạm vi cả nước.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích nghiên cứu của đề tài
Đánh giá thực trạng áp dụng các biện pháp ngăn chặn đối với người
chưa thành niên phạm tội trên địa bàn tỉnh Hà Tây của cơ quan Cảnh sát điều
tra (CSĐT) từ năm 2001 đến 6/2005, nhằm phát hiện những khó khăn vướng
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
* Phương pháp luận
7
Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa
Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh cũng như quan điểm của Đảng và Nhà
nước ta về công tác đấu tranh phòng chống tội phạm và các tội phạm do
người chưa thành niên phạm tội thực hiện cùng với chính sách hình sự của
Nhà nước đối với người chưa thành niên phạm tội.
Đồng thời, trên cơ sở những thành tựu đạt được của các khoa học như
Luật quốc tế, Luật hình sự, Luật tố tụng hình sự, Xã hội học, khoa học Điều
tra hình sự…
* Phương pháp nghiên cứu
Quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả đã kết hợp nhiều phương pháp: phân
tích, so sánh, tổng hợp, khảo sát thực tế, tham khảo ý kiến của các cán bộ làm
công tác nghiên cứu, đồng nghiệp hoạt động thực tiễn, tham khảo các tài liệu
về tố tụng hình sự của một số nước trên thế giới để đánh giá, hệ thống hóa hoạt
động áp dụng biện pháp ngăn chặn đối với người chưa thành niên phạm tội.
6. Những vấn đề mới của đề tài
Làm rõ những lý luận về việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn trong
tố tụng hình sự của Việt Nam hiện nay. Đề tài đã tổng hợp, đánh giá, tìm ra
những ưu điểm, hạn chế, nguyên nhân tồn tại, thiếu sót cũng như các kết quả
đạt được trong quá trình áp dụng các biện pháp ngăn chặn người chưa thành
niên phạm tội trên địa bàn tỉnh Hà Tây của cơ quan CSĐT. Đồng thời, đưa ra
những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả việc áp dụng các biện pháp ngăn
chặn đối với người chưa thành niên phạm tội, theo quy định của BLTTHS và
các chiến thuật, nghiệp vụ để bảo đảm các biện pháp đó.
7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
khách quan của lịch sử. Ở mỗi hình thái kinh tế - xã hội khác nhau, cũng đều
có kiểu nhà nước, kiểu pháp luật tương ứng. Cho dù ở bất kỳ nhà nước nào đi
chăng nữa, thì mối quan hệ giữa nhà nước và pháp luật luôn luôn khăng khít
và tác động qua lại lẫn nhau. Nhà nước dùng pháp luật để quản lý xã hội, để
duy trì xã hội trong vòng trật tự và ổn định. Còn pháp luật là sự thể hiện ý chí
của giai cấp thống trị, thể hiện bản chất giai cấp sâu sắc của nhà nước, Như
Mác - Ăngghen đã từng khẳng định: "Nó thực chất là bạo lực có tổ chức của
một giai cấp nhất định với giai cấp khác. Chính bạo lực có tổ chức của giai
cấp thống trị với giai cấp khác tạo nên bản chất của nhà nước, đó là một tính
chất của quyền lực chính trị nhằm trấn áp giai cấp bị thống trị". Những biện
pháp trấn áp của giai cấp thống trị với giai cấp khác, tầng lớp khác được thể
hiện bằng các biện pháp cưỡng chế của nhà nước.
Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam ngoài những đặc điểm chung
của nhà nước còn có sự khác biệt. Đó là nhà nước XHCN dưới sự lãnh đạo
của Đảng Cộng sản, là nhà nước của giai cấp công nhân và nhân dân lao
động. Để bảo vệ thành quả cách mạng đã giành được trong cuộc đấu tranh
giai cấp, xây dựng xã hội mới, Nhà nước XHCN Việt Nam một mặt là một tổ
chức chính trị hành chính, một cơ quan cưỡng chế nhưng đồng thời là một tổ
10
chức quản lý kinh tế xã hội của toàn thể nhân dân lao động. Bộ máy cưỡng
chế hành chính của nhà nước XHCN Việt Nam là bộ máy của giai cấp công
nhân và nhân dân lao động tổ chức ra để trấn áp các phần tử chống đối lại sự
nghiệp đổi mới, giữ vững an ninh trật tự, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát
triển kinh tế xã hội đất nước. Hiến pháp nước Cộng hòa XHCN Việt Nam đã
qui định: "Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước của
dân, do dân và vì dân".
Thực hiện được điều đó, nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam có những
cưỡng chế thay cho hoạt động điều tra thu thập chứng cứ.
Ngoài ra, còn có rất nhiều bài báo viết lên những thông tin về hoạt
động áp dụng các biện pháp ngăn chặn dưới dạng mượn dư luận để gây sức
ép hoặc coi áp dụng biện pháp ngăn chặn như là một hình thức trừng phạt
người có hành vi phạm tội... Cách hiểu đó, họ chưa thấy hết được mục đích,
căn cứ, đối tượng của việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn.
Theo Từ điển nghiệp vụ phổ thông ngành công an thì: "Các biện pháp
ngăn chặn trong phòng, chống tội phạm là biện pháp chủ động đối phó kịp
thời không để cho bọn phản cách mạng và bọn tội phạm khác thực hiện âm
mưu phạm tội của chúng". Khái niệm cho thấy, biện pháp ngăn chặn được thể
hiện chủ yếu là tính chủ động tấn công, phòng ngừa tội phạm mà chưa nêu ra
các chủ thể một cách rõ ràng, đối tượng bị áp dụng và những căn cứ nào dùng
để giải quyết vụ án hình sự.
Theo tác giả Phạm Thanh Bình, Nguyễn Vạn Nguyên:
Những biện pháp ngăn chặn là những biện pháp cưỡng chế
cần thiết trong tố tụng hình sự do các cơ quan điều tra, Viện kiểm
sát hoặc Tòa án áp dụng đối với bị can, bị cáo và trong một số
trường hợp được pháp luật quy định, có thể áp dụng đối với cả
những người chưa bị khởi tố (người bị bắt trong trường hợp quả
tang hoặc trong trường hợp khẩn cấp) nhằm ngăn chặn những hành
12
vi nguy hiểm cho xã hội, không cho họ tiếp tục phạm tội, trốn tránh
pháp luật hoặc có hành vi gây cản trở cho việc điều tra, truy tố, xét
xử và thi hành án.
Về nội dung, khái niệm này cơ bản là đầy đủ nhưng vẫn chưa hoàn chỉnh
vì khi bắt người phạm tội quả tang, không nhất thiết chỉ có Cơ quan điều tra
(CQĐT), Viện kiểm sát (VKS), Tòa án mà bất kỳ người nào trông thấy cũng có
+ Khi có căn cứ chứng tỏ bị can sẽ gây khó khăn cho việc điều tra
Mục đích của CQĐT là tái xác lập lại sự việc phạm tội đã xảy ra trong
thực tế một cách khách quan, chính xác, đầy đủ và toàn diện, làm cơ sở cho
việc giải quyết vụ án. Do vậy, các hoạt động điều tra để xác định người thực
hiện hành vi phạm tội là điều cần thiết. Song thực tế những người thực hiện
hành vi phạm tội lại tìm mọi cách để cản trở quá trình xác định sự thật của vụ
án. BLTTHS quy định căn cứ này cho phép CQĐT được tiến hành áp dụng
các biện pháp ngăn chặn đối với những đối tượng là bị can, có biểu hiện ra
bên ngoài như họ có thể bỏ trốn, tiêu hủy chứng cứ, thông cung, mua chuộc,
khống chế, đe dọa người làm chứng, người bị hại. Đây cơ sở, căn cứ để áp
dụng các biện pháp ngăn chặn.
+ Khi có căn cứ chứng tỏ bị can, bị cáo tiếp tục phạm tội
Cơ sở để áp dụng căn cứ này là những biểu hiện ra bên ngoài của bị
can thông qua các dấu hiệu về nhân thân của đối tượng trước khi áp dụng biện
pháp ngăn chặn, đặc điểm nhân thân của đối tượng chẳng hạn như phần tử
phản cách mạng, những tên lưu manh côn đồ hung hãn, những kẻ chuyên
sống bằng con đường phạm tội... Hành vi của các đối tượng này thường thể
hiện là các hành vi đe dọa người làm chứng, người tố giác tội phạm... Và
nguy cơ của sự đe dọa, trả thù đó có khả năng xảy ra. Trong thực tiễn, điều tra
viên phải đánh giá một cách khách quan, phải có tài liệu chứng minh điều đó,
để hạn chế đến mức thấp nhất sự thiếu vô tư, không dám tin tưởng vào trình
độ, chuyên môn của mình mà ra các quyết định áp dụng một cách tràn lan.
Trường hợp nào thấy cần thiết áp dụng thì tiến hành và ngược lại, đó là sự thể
14
hiện bản lĩnh nghiệp vụ dám tin tưởng, dám chịu trách nhiệm trước các quyết
định của mình khi áp dụng biện pháp ngăn chặn.
- Căn cứ hủy bỏ hay thay thế biện pháp ngăn chặn
•
Yêu cầu giải quyết vụ án.
•
Thái độ chấp hành của bị can đối với biện pháp ngăn chặn đang
được áp dụng.
Đảm bảo được các điều kiện này, CQĐT sẽ tiến hành thay thế biện
pháp ngăn chặn. Cho phép CQĐT tạo điều kiện thuận lợi hơn trong việc sử
dụng chiến thuật tác động lên thái độ, tâm lý, ý thức của bị can khi tiến hành
điều tra vụ án.
1.1.3. Ý nghĩa, tầm quan trọng của việc áp dụng các biện pháp
ngăn chặn của cơ quan Cảnh sát điều tra
Các biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự là những biện pháp
cưỡng chế của Nhà nước thể hiện tính mệnh lệnh quyền uy trong phương
pháp điều chỉnh của luật tố tụng hình sự. Áp dụng đúng đắn các biện pháp
ngăn chặn có ý nghĩa rất lớn trong quá trình giải quyết vụ án hình sự. Cụ thể:
- Áp dụng đúng đắn biện pháp ngăn chặn sẽ đảm bảo cho quá trình
giải quyết vụ án hình sự khách quan, toàn diện, không có sự oan sai xảy ra.
- Áp dụng các biện pháp ngăn chặn là đảm bảo quan trọng trong việc
tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Các quy định về căn cứ áp
dụng biện pháp ngăn chặn là nhằm đạt được mục tiêu ngăn chặn và phòng
chống tội phạm. Tuy nhiên, không phải vì thế mà cơ quan tiến hành tố tụng áp
dụng một cách tùy tiện, thiếu căn cứ. Do đó, đòi hỏi cơ quan tiến hành tố tụng
phải tiến hành đúng trình tự, thủ tục và phải thận trọng trong hoạt động này.
16
+ Chỉ được áp dụng các biện pháp ngăn chặn khi đã có đầy đủ các căn
cứ do pháp luật quy định.
Trong Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự và BLTTHS đã quy định: Tổ
chức CQĐT, quyền và nghĩa vụ của điều tra viên, thủ trưởng, phó thủ trưởng
CQĐT, trong hoạt động áp dụng các biện pháp ngăn chặn, các quyết định phải
do người có thẩm quyền ký, người thi hành lệnh phải thực hiện các yêu cầu về
thủ tục đã được quy định để tránh những sai phạm, việc bỏ qua không tuân thủ
một quy định nào đó do luật quy định đều là sự xa rời, vi phạm nguyên tắc pháp
chế XHCN.
Ví dụ: Tại khoản 1 Điều 81 BLTTHS quy định về các căn cứ để bắt
người trong trường hợp khẩn cấp, khoản 1 Điều 88 quy định về các căn cứ để
áp dụng biện pháp tạm giam, Điều 303 quy định về bắt, tạm giữ, tạm giam
người chưa thành niên… Cho nên việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn đòi
hỏi phải đúng trình tự, thủ tục, thẩm quyền và do luật định.
+ CQĐT cần phải chấp hành tốt các quy định có liên quan đến việc áp
dụng các biện pháp ngăn chặn, phối hợp với các cơ quan tổ chức xã hội khác
cùng tham gia vào việc áp dụng để đảm bảo các biện pháp ngăn chặn có hiệu
quả như việc giao trách nhiệm cho chính quyền địa phương bảo quản tài sản
của bị can nếu bị can bị bắt giam hoặc tham gia quản lý đối tượng khi họ bị áp
dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú…
Trong hoạt động áp dụng các biện pháp ngăn chặn, CQĐT, người tiến
hành tố tụng vi phạm pháp luật, gây ra thiệt hại phải chịu trách nhiệm bồi thường
nhằm bảo đảm quyền lợi của công dân đồng thời thông qua đó gắn trách nhiệm
đối với người tiến hành tố tụng trong việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn.
- Nguyên tắc tôn trọng và bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của
công dân
18
Bắt người là biện pháp ngăn chặn có vị trí quan trọng trong quá trình
điều tra, xử lý vụ án hình sự. Đây là biện pháp có tính chất cưỡng chế nghiêm
khắc của nhà nước, nhằm tước bỏ quyền tự do thân thể của một người và hạn
chế một số quyền, lợi ích hợp pháp của họ. Do vậy, việc bắt người trong pháp
luật tố tụng hình sự của Nhà nước ta từ trước cho đến nay luôn luôn được xây
dựng theo hướng kế thừa có chọn lọc và từng bước hoàn thiện.
BLTTHS 2003 quy định về bắt người bao gồm: Bắt bị can, bị cáo để
tạm giam, bắt người trong trường hợp khẩn cấp và bắt người trong trường hợp
phạm tội quả tang, bắt người đang bị truy nã.
* Việc bắt bị can để tạm giam
Tại Điều 79 BLTTHS năm 2003 qui định các biện pháp và căn cứ áp
dụng các biện pháp ngăn chặn, Điều 80 quy định về việc bắt bị can, bị cáo để
tạm giam.
Trong hoạt động điều tra vụ án hình sự, để xác định được đối tượng
cần bắt tạm giam, nhằm tước bỏ điều kiện thực hiện phạm tội, gây khó khăn,
cản trở cho hoạt động điều tra, do tính chất mức độ nguy hiểm của chính bị
can, đòi hỏi CQĐT phải áp dụng một biện pháp ngăn chặn nghiêm khắc đó là
bắt bị can để tạm giam.
Đối tượng bị bắt phải là bị can của vụ án, qua công tác điều tra, đã xác
định được người thực hiện hành vi phạm tội, có đầy đủ các yếu tố cấu thành
tội phạm và đã bị CQĐT ra quyết định khởi tố bị can. Tuy nhiên, không phải
bất kỳ bị can nào cũng bị bắt để tạm giam.
Theo quy định tại điều 88 BLTTHS 2003, việc bắt bị can, bị cáo để
tạm giam được áp dụng trong những trường hợp sau:
- Bị can, bị cáo phạm tội rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng.
20
- Bị can, bị cáo phạm tội nghiêm trọng, ít nghiêm trọng mà BLHS qui
người chứng kiến cùng nghe, người thi hành lệnh bắt, người bị bắt và người
chứng kiến cùng ký vào biên bản; nếu có ý kiến thắc mắc thì có quyền ghi vào
biên bản.
Việc bắt bị can để tạm giam tại nơi cư trú phải có đại diện chính
quyền địa phương nơi người đó cư trú, hoặc làm việc và người láng giềng
chứng kiến. Bắt bị can tạm giam không được bắt vào ban đêm (thời gian ban
đêm được tính từ 10h đêm hôm trước đến 6h sáng hôm sau) trừ những trường
hợp được quy định tại Điều 81 và Điều 82 BLTTHS.
* Việc bắt người trong trường hợp khẩn cấp
Tại khoản 1 Điều 81 BLTTHS quy định trong những trường hợp sau
đây thì được bắt khẩn cấp:
- Khi có căn cứ cho rằng người đó đang chuẩn bị thực hiện tội phạm
rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.
- Khi người bị hại hoặc người có mặt tại nơi xảy ra tội phạm chính
mắt trông thấy và xác nhận đúng là người đã thực hiện tội phạm mà xét thấy
cần ngăn chặn ngay việc người đó bỏ trốn.
- Khi thấy có dấu vết tội phạm ở người hay tại chỗ ở của người bị nghi
thực hiện tội phạm mà xét thấy cần ngăn chặn người đó bỏ trốn hoặc tiêu hủy
chứng cứ.
Những người có quyền ra lệnh bắt khẩn cấp:
Được quy định tại khoản 2 Điều 81 BLTTHS gồm: Thủ trưởng, Phó thủ
trưởng CQĐT các cấp; Người chỉ huy đơn vị quân đội độc lập cấp trung đoàn
và tương đương, người chỉ huy đồn biên phòng ở hải đảo và biên giới, người
chỉ huy tàu bay, tàu biển khi tàu bay, tàu biển đã rời khỏi sân bay, bến cảng.
Thủ tục bắt người trong trường hợp khẩn cấp:
22
Cũng được áp dụng như thủ tục bắt bị can để tạm giam nhưng có một
+ Đang bị đuổi bắt:
Là trường hợp người phạm tội bị phát hiện khi đang di chuyển khỏi
nơi thực hiện tội phạm và những người tham gia vào việc bắt giữ đang dượt
đuổi. Trong quá trình này có sự giám sát liên tục và không bị gián đoạn về thời
gian.
- Bắt người đang bị truy nã:
Là bắt những người mà cơ quan có thẩm quyền đã ra quyết định truy
nã bao gồm đối tượng gây án bỏ trốn, trốn trại cải tạo, trại tạm giam, nhà tạm
giữ hoặc trốn trong khi đang dẫn giải, trốn thi hành án. Đặc điểm nổi bật là
đối tượng đã bị các cơ quan có thẩm quyền xác định được nhưng họ trốn tránh
gây cản trở cho công tác điều tra, truy tố hay thi hành bản án hình sự. Tuy
nhiên, có trường hợp hành vi lẩn trốn của họ là hành vi được mô tả trong tội
trốn khỏi nơi giam giữ.
Thẩm quyền, thủ tục bắt người phạm tội quả tang hay đang bị truy
nã:
Bất kỳ người nào cũng có quyền bắt, tước vũ khí và giải ngay người bị
bắt đến cơ quan công an, VKS hay Ủy ban nhân dân nơi gần nhất, các cơ
quan này phải lập biên bản và giải ngay người bị bắt đến CQĐT có thẩm
quyền.
* Việc bắt một số đối tượng đặc biệt
Việc bắt người là đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp,
ngoài việc tuân theo Điều 80, 81, 82 BLTTHS, còn phải đảm bảo một số thủ
tục được quy định ở các văn bản khác (Điều 99 Hiến pháp 1992, Điều 58 Luật
tổ chức Quốc hội 25/12/2001, Điều 44 Luật tổ chức Hội đồng nhân dân
26/11/2003).
24
1.1.5.2. Những quy định của pháp luật tố tụng hình sự về biện pháp
trường hợp khẩn cấp, người ra quyết định tạm giữ có thể gia hạn tạm giữ
nhưng không quá 3 ngày. Trong trường hợp đặc biệt, người ra quyết định tạm
giữ có thể gia hạn tạm giữ lần hai nhưng cũng không quá 3 ngày. Mọi trường
hợp gia hạn tạm giữ đều phải được VKS cùng cấp phê chuẩn. Trong thời hạn
12 giờ kể từ khi nhận được đề nghị gia hạn và tài liệu liên quan đến việc tạm
giữ, VKS phải ra quyết định phê chuẩn hay không phê chuẩn.
Trong thời hạn tạm giữ, nếu không đủ căn cứ khởi tố bị can thì phải
trả tự do ngay cho người bị tạm giữ. Thời hạn bị tạm giữ được trừ vào thời
hạn tạm giam. Một ngày tạm giữ được tính bằng một ngày tạm giam.
1.1.5.3. Những quy định của pháp luật tố tụng hình sự về biện pháp
tạm giam
Tạm giam là biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự do CQĐT,
VKS, Tòa án áp dụng đối với bị can, bị cáo phạm tội đặc biệt nghiêm trọng,
phạm tội rất nghiêm trọng hoặc bị can, bị cáo phạm tội nghiêm trọng, phạm
tội ít nghiêm trọng mà BLHS quy định hình phạt tù trên 2 năm và có căn cứ
để cho rằng người đó có thể bỏ trốn hay cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử
hoặc tiếp tục phạm tội.
Đây là biện pháp ngăn chặn nghiêm khắc nhất so với các biện pháp
ngăn chặn khác. Biện pháp này tước bỏ quyền tự do thân thể đồng thời còn hạn
chế một số quyền khác như quyền ứng cử, quyền bầu cử…của người bị áp dụng.
Đối tượng bị áp dụng biện pháp tạm giam (được qui định tại Điều 88
BLTTHS 2003, đã trình bày cụ thể ở phần bắt bị can, bị cáo).
- Thẩm quyền ra lệnh tạm giam: Những người có thẩm quyền ra lệnh
tạm giam được quy định tại Điều 80 BLTTHS có quyền ra lệnh tạm giam.
Lệnh tạm giam của những người được quy định tại điểm d khoản 1 Điều 80
BLTTHS phải được VKS cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành. Trong thời
hạn 3 ngày kể từ ngày nhận được lệnh tạm giam, đề nghị xét phê chuẩn và hồ
27
với tội ít nghiêm trọng, gia hạn tạm giam lần thứ nhất đối với tội nghiêm trọng,
tội rất nghiêm trọng và tội đặc biệt nghiêm trọng (điểm a khoản 3 Điều 120
BLTTHS).
Trong trường hợp gia hạn tạm giam lần thứ nhất quy định tại điểm a
khoản 2 điều 120 BLTTHS đã hết mà vẫn chưa thể kết thúc điều tra và không
có căn cứ để hủy bỏ hoặc thay đổi biện pháp tạm giam thì VKSND cấp
huyện, VKS quân sự khu vực có thể gia hạn tạm giam lần thứ hai đối với tội
nghiêm trọng. VKSND cấp tỉnh, VKS quân sự quân khu có thể gia hạn tạm
giam lần thứ hai đối với tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng và
tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.
Trong trường hợp vụ án được thụ lý để điều tra ở cấp Trung ương thì
việc gia hạn tạm giam thuộc thẩm quyền của VKSNDTC, VKS quân sự Trung
ương.
Đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, trong trường hợp thời hạn gia
hạn lần thứ hai quy định tại điểm b khoản 3 Điều 120 BLTTHS đã hết mà vụ
án có nhiều tình tiết phức tạp và không có căn cứ để thay đổi hoặc hủy bỏ
biện pháp tạm giam thì Viện trưởng VKSNDTC có thể gia hạn lần thứ ba.
Trong trường hợp cần thiết, đối với tội xâm phạm an ninh quốc gia thì
Viện trưởng VKSNDTC có quyền gia hạn thêm một lần nữa nhưng không
quá 4 tháng.
Như vậy, thời hạn tạm giam tối đa là: Đối với tội ít nghiêm trọng là
3 tháng, đối với tội phạm nghiêm trọng là 6 tháng, đối với tội phạm rất
nghiêm tọng là 9 tháng, đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là 16 tháng,
đối với tội xâm phạm an ninh quốc gia là 20 tháng.
Trong khi tạm giam, nếu xét thấy không cần thiết phải tiếp tục tạm
giam thì CQĐT phải kịp thời đề nghị VKS hủy bỏ tạm giam để trả tự do cho
người bị tạm giam hoặc xét cần thì áp dụng biện pháp ngăn chặn khác.