TÓM TẮT LUẬN VĂN CÁC BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI - Pdf 26

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

NGUYỄN THỊ THU HOÀI
CÁC BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN
ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM
TỘI
(trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn địa bàn
tỉnh Hải Dương)
Chuyên ngành : Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số : 60 38 01 04
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2015
Công trình được hoàn thành
tại Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trần Văn Luyện

Phản biện 1: GS.TS Đỗ Ngọc Quang

Phản biện 2: TS Lê Lan Chi

Luận văn được bảo vệ tại Hội đồng chấm luận văn, họp tại Khoa
Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội.
Vào hồi 13 giờ ngày 29 tháng 01 năm 2015.
Có thể tìm hiểu luận văn
tại Trung tâm thông tin - Thư viện Đại học Quốc gia Hà Nội
Trung tâm tư liệu - Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội
MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan

16
17
1.3. Bảo vệ quyền con người trong việc áp dụng các biện
pháp ngăn chặn đối với người chưa thành niên
19
1.3.1. Các tiêu chí quốc tế về quyền con người của người
chưa thành niên trong tố tụng hình sự
19
1.3. 2. Bảo vệ quyền của người chưa thành niên khi áp dụng
các biện pháp ngăn chặn
22
Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC
TIỄN ÁP DỤNG CÁC BIỆN PHÁP
NGĂN CHẶN ĐỐI VỚI NGƯỜI
CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI
25
2.1. Pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về các biện pháp
ngăn chặn đối với người chưa thành niên phạm tội
25
2.1.1. Giai đoạn từ sau Cách mạng tháng Tám đến trước khi
ban hành Bộ luật tố tụng hình sự 1988
25
2.1.2. Giai đoạn từ sau khi ban hành Bộ luật tố tụng hình sự
1988 đến trước khi ban hành Bộ luật tố tụng hình sự
2003
27
2.2.
2.3.
Thực trạng pháp luật hiện hành quy định về các biện
pháp ngăn chặn đối với người chưa thành niên

3.2.1. Hoàn thiện pháp luật quy định biện pháp ngăn chặn liên
quan đến người chưa thành niên phạm tội
66
3.2.2. Nâng cao chất lượng và kỹ năng áp dụng thực tiễn của
đội ngũ cán bộ có thẩm quyền áp dụng các biện pháp
ngăn chặn đối với người chưa thành niên phạm tội
74
3.2.3. Phát huy vai trò của người bào chữa, tổ chức luật sư
trong bảo vệ quyền lợi của người chưa thành niên bị áp
dụng các biện pháp ngăn chặn
76
3.2.4. Một số giải pháp khác 77
KẾT LUẬN 81
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 83
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam là một quốc gia luôn đi đầu trong vấn đề chăm sóc và bảo vệ
trẻ em. Đảng và Nhà nước ta đã và đang tiến hành nhiều biện pháp, hoạt
động cụ thể để chăm sóc, giáo dục trẻ em. Trong đó, đặc biệt chú ý quan tâm
đến vấn đề chăm sóc giáo dục thế hệ trẻ và phòng ngừa, ngăn chặn người
chưa thành niên phạm tội.
Bên cạnh những kết quả đạt được, chúng ta thấy tồn tại một thực trạng
đáng lo ngại đó là tình hình phạm tội do người chưa thành niên thực hiện với
tính chất và mức độ gây nguy hiểm cho xã hội ngày càng gia tăng. Đặc biệt
là các tội phạm liên quan đến ma túy, giết người, cướp của, hiếp dâm cùng
với việc sử dụng các loại vũ khí, hung khí nguy hiểm, tụ tập thành các băng
nhóm hoạt động theo kiểu xã hội đen, gây ra tình trạng bất ổn cho xã hội và
khó khăn cho công tác điều tra, xử lý.
Trong hệ thống các biện pháp cưỡng chế tố tụng hình sự (TTHS), các
biện pháp ngăn chặn chiếm vị trí đặc biệt quan trọng, giúp hoạt động TTHS

người chưa thành niên phạm tội trên từng địa phương cụ thể. Cho đến nay
vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu về thực tiễn áp dụng ngăn chặn đối
với người chưa thành niên phạm tội ở tỉnh Hải Dương.
Tình hình nghiên cứu trên cho thấy, vấn đề " Các biện pháp ngăn chặn
đối với người chưa thành nhiên phạm tội (trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn
địa bàn tỉnh Hải Dương)" cần tiếp tục được nghiên cứu, để có những giải
pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng các biện pháp ngăn chặn đối với
người chưa thành niên phạm tội không chỉ trên địa bàn tỉnh Hải Dương, mà
còn có thể tham khảo áp dụng trên toàn quốc.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn là nghiên cứu các quy định của pháp
luật về các biện pháp ngăn chặn và thực tiễn áp dụng đối với người chưa
thành niên phạm tội trên địa bàn tỉnh Hải Dương. Qua đó, phát hiện những
khó khăn, vướng mắc, thiếu sót trong quá trình thực hiện của các cơ quan
21 22
nhà nước có thẩm quyền, để đưa ra những giải pháp góp phần nâng cao hiệu
quả việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn đối với người chưa thành niên
phạm tội trên địa bàn tỉnh Hải Dương.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Từ mục đích nghiên cứu nêu trên, luận văn có những nhiệm vụ chủ yếu sau:
- Nghiên cứu làm rõ nhận thức chung về các biện pháp ngăn chặn và
những quy định trong BLTTHS về các biện pháp ngăn chặn đối với người
chưa thành niên phạm tội.
- Khảo sát, đánh giá việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn đối với
người chưa thành niên phạm tội trên địa bàn tỉnh Hải Dương.
- Đánh giá những kết quả đạt được, những tồn tại, thiếu sót, khó khăn, vướng
mắc khi thực hiện các quy định của BLTTHS về các biện pháp ngăn chặn đối
với người chưa thành niên phạm tội. Đồng thời đưa ra các giải pháp khắc phục
tồn tại đó và nâng cao hiệu quả áp dụng các biện pháp ngăn chặn trên thực tiễn.

hiện nay. Đề tài đã phân tích, đánh giá, tổng hợp thực tiễn áp dụng vác biện
pháp ngăn chặn đối với người chưa thành niên phạm tội trên địa bàn tỉnh Hải
Dương. Qua đó, tìm ra những ưu điểm, hạn chế, thiếu sót, khó khăn, vướng
mắc khi thực hiện. Đồng thời kiến nghị một số giải pháp nhằm nâng cao
hiệu quả áp dụng các biện pháp ngăn chặn đối với người chưa thành niên
phạm tội trên địa bàn tỉnh Hải Dương.
Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật
TTHS về việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn đối với người chưa thành
niên phạm tội. Qua đó, nâng cao hiệu quả đấu tranh, phòng chống tội phạm,
bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân nhất là đối với người chưa
thành niên.
Bên cạnh đó, luận văn sẽ là một tài liệu tham khảo cần thiết và bổ ích
dành cho không chỉ các nhà lập pháp, mà còn cho các nhà nghiên cứu, các
cán bộ giảng dạy pháp luật, các nghiên cứu sinh, học viện cao học và sinh
viên thuộc chuyên ngành tư pháp hình sự tại các cơ sở đào tạo luật. Kết quả
nghiên cứu của luận văn còn phục vụ cho việc trang bị những kiến thức
chuyên sâu cho các cán bộ thực tiễn đang công tác tại các Cơ quan điều tra,
Viện Kiểm sát, Tòa án trong quá trình áp dụng các biện pháp ngăn chặn đối
21 22
với người chưa thành niên phạm tội được chính xác, khách quan.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về biện pháp ngăn chặn đối với
người chưa thành niên.
Chương 2: Thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng các biện
pháp ngăn chặn đối với người chưa thành niên phạm tội
Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả việc áp dụng các biện
pháp ngăn chặn đối với người chưa thành niên phạm tội trên địa bàn tỉnh Hải
Dương.

18 tuổi chỉ có thể áp dụng trong trường hợp họ phạm tội nghiêm trọng do cố
ý, phạm tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.
Về việc giám sát bị cáo là người chưa thành niên: theo quy định tại
Điều 304 BLTTHS thì nếu xét thấy việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn
đối với người chưa thành niên là không cần thiết, Cơ quan điều tra, Viện
kiểm sát và Tòa án có thể ra quyết định giao bị can, bị cáo chưa thành niên
cho cha mẹ, người đỡ đầu của họ giám sát để đảm bảo sự có mặt của bị can,
bị cáo khi có giấy triệu tập của cơ quan THTT.
Về thi hành án phạt tù: Theo quy định thì không được áp
dụng chế độ tạm giữ người chưa thành niên như đối với người đã thành niên,
mà họ phải được giam giữ riêng, các chế độ với người chưa thành niên cũng
được ưu ái hơn.
1.2. BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN ÁP DỤNG ĐỐI VỚI NGƯỜI
CHƯA THÀNH NIÊN TRONG QUÁ TRÌNH GIẢI QUYẾT VỤ ÁN
HÌNH SỰ
1.2.1. Khái niệm về các biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình
sự
Biện pháp ngăn chặn là biện pháp cưỡng chế nhà nước mang tính
phòng ngừa do người có thẩm quyền được quy định trong BLTTHS áp dụng
21 22
đối với bị can, bị cáo, người phạm tội quả tang hoặc người bị nghi là phạm
tội nhằm ngăn chặn kịp thời hành vi phạm
1.2.2. Khái niệm biện pháp ngăn chặn đối với người chưa thành
niên phạm tội
Biện pháp ngăn chặn áp dụng đối với người chưa thành niên
phạm tội là biện pháp cưỡng chế trong TTHS do người có thẩm quyền áp
dụng đối với bị can, bị cáo, người bị truy nã hoặc đối với những người chưa
bị khởi tố (trong trường hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang) và từ đủ 14
tuổi đến dưới 18 tuổi nhằm ngăn chặn những hành vi nguy hiểm cho xã hội
của họ, ngăn ngừa họ tiếp tục phạm tội, trốn tránh pháp luật hoặc có hành

hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 20/11/1985; Hướng dẫn Riyadh,
được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 24/12/1990; Những quy
tắc tối thiểu, phổ biến của Liên hợp quốc về bảo vệ người chưa thành niên
bị tước quyền tự do, được Liên hợp quốc thông qua ngày 14/12/1990.
1.3.2. Bảo vệ quyền của người chưa thành niên khi áp dụng các
biện pháp ngăn chặn
Đảm bảo cho việc đấu tranh phòng ngừa, chống tội phạm có hiệu quả,
bảo đảm hoạt động của các cơ quan thực hiện tố tụng được thuận lợi, thể
hiện sự chuyên chính của Nhà nước xã hội chủ nghĩa (XHCN) trong việc
đấu tranh, phòng chống tội phạm.
Thể hiện sự nghiêm minh của Nhà nước trong việc ngăn chặn chống tội
phạm, không để cho người có hành vi phạm tội bỏ trốn, tiếp tục phạm tội hoặc
tiêu hủy tài liệu, chứng cứ, gây khó khăn cho hoạt động điều tra, xét xử tội phạm
Đảm bảo dân chủ, tôn trọng các quyền cơ bản của công dân được quy
định trong Hiến pháp.
Nâng cao nhận thức của nhân dân nói chung, các cơ quan bảo vệ pháp
luật nói riêng về sự cần thiết phải áp dụng các biện pháp này trong hoạt động
điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án.
Chương 2
THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG
CÁC BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN
ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI
21 22
2.1. PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ CÁC
BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN
PHẠM TỘI
2.1.1. Giai đoạn từ sau Cách mạng tháng Tám 1945 đến trước
khi ban hành bộ luật tố tụng hình sự 1988
Chúng ta có thể kể đến một số văn bản được ban hành trước khi có
BLTTHS 1988 có đề cập đến vấn đề các biện pháp ngăn chặn:

can, bị cáo, người bị tình nghi thực hiện tội phạm hoặc người phạm tội quả
tang hoặc đang có lệnh truy nã nhằm kịp thời ngăn chặn tội phạm, ngăn ngừa
họ phạm tội mới tạo điều kiện thuận lợi cho công tác điều tra, truy tố xét xử
và thi hành án hình sự.
BLTTHS 2003 quy định về bắt người bao gồm:
* Bắt bị can, bị cáo để tạm giam (Điều 80 BLTTHS)
* Bắt người trong trường hợp khẩn cấp (Điều 81 BLTTHS)
* Bắt người chưa thành niên phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã
2.2.2. Những quy định của pháp luật tố tụng hình sự về tạm giữ
người chưa thành niên phạm tội
Tạm giữ là biện pháp ngăn chặn trong TTHS do cơ quan và những
người có thẩm quyền áp dụng đối với người bị bắt trong trường hợp khẩn
cấp, phạm tội quả tang, người phạm tội tự thú, đầu thú hoặc đối với người bị
bắt theo lệnh truy nã.
Điều 86 BLTTHS 2003 quy định về biện pháp tạm giữ.
2.2.3. Những quy định của pháp luật tố tụng hình sự về biện pháp
tạm giam người chưa thành niên phạm tội
Tạm giam là biện pháp ngăn chặn trong TTHS do Cơ quan điều tra,
Viện kiểm sát, Tòa án áp dụng đối với bị can, bị cáo phạm tội rất nghiêm
trọng hoặc phạm tội đặc biệt nghiêm trọng hay bị can, bị cáo phạm tội ít
nghiêm trọng, phạm tội nghiêm trọng mà BLHS quy định hình phạt tù trên 2
năm và có căn cứ cho rằng người đó có thể trốn ra hoặc cản trở việc điều tra,
truy tố, xét xử hoặc có thể tiếp tục phạm tội.
BLTTHS 2003 quy định về biện pháp tạm giam:
- Đối tượng bị áp dụng biện pháp tạm giam được quy định tại khoản 1
21 22
Điều 88
- Thẩm quyền ra lệnh tạm giam: quy định tại Điều 80 BLTTHS
- Thủ tục tạm giam: Việc tạm giam phải có lệnh viết của người có thẩm
quyền, lệnh tạm giam phải ghi rõ ngày, tháng, năm, họ tên, chức vụ của

TTHS do Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án áp dụng đối với bị can, bị
cáo để đảm bảo sự có mặt của họ theo giấy triệu tập.
2.3. THỰC TIỄN ÁP DỤNG CÁC BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN
ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI TRÊN ĐỊA BÀN
TỈNH HẢI DƯƠNG
2.3.1. Tình hình áp dụng biện pháp bắt người
Bảng 2.1: Số đối tượng áp dụng biện pháp bắt tại tỉnh Hải Dương (2009-2013)
Năm
Tổng số đối
tượng đã bị
xử lý về hình
sự (1)
Tổng số
đối tượng
bị bắt
(2)
Tỷ lệ
(%)
(2)/(1)
Số đối tượng
chưa thành
niên bị xử lý
về hình sự (3)
Số đối tượng
chưa thành
niên bị bắt
(4)
Tỷ lệ
(%)
(4)/(3)

Tỷ lệ
(%)
(4)/(3)
2009 1359 236 17,36 93 16 17,20
2010 1416 342 24,15 100 23 23,00
2011 1504 421 27,99 144 47 32,63
2012 1790 530 29,60 103 28 27,18
2013 1618 474 29,29 72 15 20,83
21 22
Nguồn: Báo cáo tổng kết công tác kiểm sát - Viện kiểm sát nhân dân
tỉnh Hải Dương.
2.3.3. Tình hình áp dụng biện pháp tạm giam
Bảng 2.3. Số đối tượng bị áp dụng biện pháp tạm giam tại tỉnh Hải Dương
(2009-2013)
Năm
Tổng số đối
tượng đã bị
xử lý về hình
sự (1)
Tổng số
đối tượng
đã bị tạm
giam (2)
Tỷ lệ
(%)
(2)/(1)
Số đối tượng
chưa thành
niên bị xử lý
về hình sự (3)

(2)/(1)
Số đối tượng
chưa thành
niên bị xử lý
về hình sự
(3)
Số đối tượng
chưa thành
niên bị cấm đi
khỏi nơi
cư trú (4)
Tỷ lệ
(%)
(4)/(3)
2009 1359 425 31,27 93 43 46,23
2010 1416 476 33,61 100 45 45,00
2011 1504 523 34,77 144 75 52,08
2012 1790 629 35,13 103 56 54,36
2013 1618 611 37,76 72 39 54,16
Nguồn: Báo cáo công tác kiểm sát - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương.
2.3.5. Tình hình áp dụng biện pháp bảo lĩnh
Bảng 2.5: Số đối tượng bị áp dụng biện pháp bảo lĩnh
tại tỉnh Hải Dương (2009-2013)
Năm
Tổng số
đối tượng
bị xử lý về
hình sự
(1)
Tổng số đối

hướng dẫn về việc đặt tiền để đảm bảo theo quy định tại Điều 93 BLTTHS.
Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng biện pháp này trong 5 năm qua trên địa
bàn tỉnh Hải Dương rất ít khi được sử dụng vì còn nhiều vướng mắc và chưa
cụ thể trong các quy định của pháp luật.
2.4. Nhận xét, đánh giá về việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn
đối với người chưa thành niên phạm tội trên địa bàn tỉnh Hải Dương
2.4.1. Những ưu điểm
Đội ngũ cán bộ công chức có thẩm quyền áp dụng các biện pháp ngăn
chặn trên địa bàn tỉnh Hải Dương đã từng bước nâng cao trình độ chuyên
nghiệp vụ, nắm vững kiến thức pháp luật khi áp dụng các biện pháp ngăn
chặn đối với người chưa thành niên phạm tội. Ngoài ra, còn có sự phối hợp
chặt chẽ giữa các cơ quan THTT, trên cơ sở tuân thủ pháp luật, hạn chế sự
phối hợp mang tính chất thỏa thuận. Do đó, đã hạn chế được sai phạm,
quyền lợi của người chưa thành niên được đảm bảo.
Những năm gần đây việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn đối với đối
tượng đặc biệt này đã đi dần sát và đúng tinh thần của BLTTHS, chỉ áp dụng
các biện pháp ngăn chặn tước tự do đối với người chưa thành niên phạm tội
21 22
khi thật cần thiết, còn trong những trường hợp có thể áp dụng các biện pháp
như bảo lĩnh và cấm đi khỏi nơi cư trú mà vẫn đảm bảo được tiến trình điều
tra, truy tố, xét xử thì người chưa thành niên vẫn được ưu tiên áp dụng các
biện pháp ngăn chặn không tước tự do.
2.4.2. Những hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế
* Những hạn chế
Trên thực tế, nhiều trường hợp áp dụng các biện pháp ngăn chặn đối với
người chưa thành niên còn lúng túng, có lúc trở nên sai phạm, không tuân
thủ những quy định của pháp luật. Việc quá tải ở nhà tạm giữ, việc xử lý
hành chính và tạm giữ tố tụng còn lẫn lộn nên không phân hóa được đối
tượng, thậm chí còn trường hợp tạm giữ chung người chưa thành niên với
đối tượng đã thành niên.

Điều 303: Bắt, tạm giữ, tạm giam
1. Chỉ áp dụng biện pháp tạm giam đối với bị can, bị cáo là người
chưa thành niên khi việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn khác không có
hiệu quả.
2. Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi có thể bị bắt, tạm giữ,
tạm giam nếu phạm tội đặc biệt nghiêm trọng. phạm tội rất nghiêm trọng do
cố ý và thuộc một trong các trường hợp sau:
a/ Không có nơi cư trú rõ ràng hoặc không xác định được
chính xác nhân thân của bị can;
b/ Có thể bỏ trốn;
c/ Có thể tiếp tục phạm tội hoặc đã bị áp dụng biện pháp ngăn
chặn khác nhưng bỏ trốn;
d/ Có thể mua chuộc, cưỡng ép, xúi giục người khác khai báo
gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật; tiêu hủy, giả mạo chứng cứ, tài liệu vụ
án hoặc có hành vi khác cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử.
3. Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi có thể bị bắt, tạm giữ,
tạm giam nếu phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, phạm tội rất nghiêm trọng, tội
nghiêm trọng, ít nghiêm trọng do cố ý và thuộc một trong các trường hợp
quy định tại các điểm a, b, c, d khoản 1 Điều 303 Bộ luật này.
21 22
4. Trong thời hạn 24 giờ, cơ quan ra lệnh bắt, tạm giữ, tạm
giam người chưa thành niên phải thông báo cho người đại diện theo pháp
luật của họ biết, kể từ khi bắt, tạm giữ, tạm giam
* Đối với biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú
Chúng tôi đồng ý với quan điểm cần sửa đổi Điều 91 BLTTHS
2003 về cấm đi khỏi nơi cứ trú theo hướng:
- Quy định cấm đi khỏi nơi cư trú là biện pháp ngăn chặn thay cho
việc áp dụng biện pháp tạm giam, do vậy đối tượng áp dụng biện pháp này là
với bị can, bị cáo bị can, bị cáo có nơi cư trú, căn cước lai lịch rõ ràng và
trong trường hợp xét thấy có thể không cần áp dụng biện pháp tạm giam

- Quy định trách nhiệm của người được bảo lĩnh: bị can, bị cáo
phải làm giấy cam đoan, có mặt đúng thời gian, địa điểm triệu tập; không bỏ
trốn hoặc tiếp tục phạm tội; không can thiệp dưới bất kỳ hình thức nào với
nhân chứng khi họ khai báo; không được tiêu hủy hoặc làm sai lệch chứng
cứ hoặc thông cung hoặc thực hiện các hành vi khác gây cản trở hoạt động
điều tra, truy tố, xét xử.
- Thời hạn áp dụng biện pháp bảo lĩnh không được quá thời hạn điều
tra, quyết định việc truy tố hoặc chuẩn bị xét xử quy định tại Bộ luật này. Trường
hợp bị cáo không bị bắt tạm giam sau khi tuyên án và bị áp dụng biện pháp
bảo lĩnh thì thời hạn áp dụng biện pháp bảo lĩnh cho đến khi người bị kết án
phải chấp hành hình phạt tù theo quy định của pháp luật.
* Đối với biện pháp ngăn chặn đặt tiền hoặc tài sản để bảo đảm
Đề nghị cần sửa đổi Điều 93 theo hướng:
- Cần quy định các trường hợp không được áp dụng biện pháp đặt
tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm gồm: các đối tượng xâm phạm an ninh
quốc gia, các tội phá hoại hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến
tranh; bị can, bị cáo phạm tội theo khung hình phạt có mức cao nhất là chung
thân, tử hình; về nhân thân không áp dụng đối với người tái phạm nguy
hiểm, phạm tội có tính chất côn đồ, có tính chuyên nghiệp, không có nơi cư
trú rõ ràng…
- Thời hạn áp dụng biện pháp đặt tiền để bảo đảm không được quá
thời hạn điều tra, quyết định việc truy tố hoặc chuẩn bị xét xử quy định tại Bộ luật
21 22
này. Trường hợp bị cáo không bị bắt tạm giam sau khi tuyên án và bị áp dụng
biện pháp đặt tiền hoặc sổ tiết kiệm tiền gửi, kim khí quý, đá quý để bảo đảm
thì thời hạn áp dụng biện pháp này cho đến khi người bị kết án phải chấp hành
hình phạt tù theo quy định của pháp luật.
- Quy định rõ thẩm quyền quyết định biện pháp đặt tiền hoặc tài
sản có giá trị để bảo đảm gồm có: Viện kiểm sát quyết định cho bị can đặt
tiền trong giai đoạn điều tra, truy tố; Tòa án quyết định cho bị can đặt tiền

các cơ quan THTT. Nếu phát hiện thấy có sự vi phạm pháp luật, luật sư, người
bào chữa sẽ có những yêu cầu, kiến nghị, đề xuất kịp thời để bảo vệ tốt quyền và
lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên, hạn chế oan sai ngay từ đầu.
Tuy nhiên, cũng còn nhiều luật sư, người bào chữa chưa có đủ lập luận,
luận cứ bào chữa chưa thuyết phục, chưa đưa ra được những căn cứ để bác
bỏ quan điểm của những người THTT.
Hạn chế đó xuất phát từ nhiều nguyên nhân: do trình độ của luật sư,
người bào chữa còn nhiều hạn chế; do quy định của pháp luật vẫn chưa thực
sự chặt chẽ; do nhận thức pháp luật của một số người THTT về mở rộng
tranh tụng là không đầy đủ.
Muốn phát huy vai trò của luật sư, người bào chữa trong việc thực thi
các biện pháp ngăn chặn đối với người chưa thành niên phạm tội thì đòi hỏi
phải có sự sửa đổi, bổ sung kịp thời một số quy định trong BLTTHS hiện
hành. Bên cạnh đó, tăng cường đội ngũ luật sư cả về số lượng cũng như trình
độ chuyên môn nghiệp vụ, không ngừng học hỏi cập nhật kiến thức pháp
luật thường xuyên. Ngoài ra, các cơ quan THTT cũng tạo điều kiện để luật
sư, người bào chữa có thể tiếp cận vụ án ngay từ đầu, góp phần bảo vệ tốt
hơn nữa quyền lợi củ người chưa thành niên.
3.2.4. Một số giải pháp khác
* Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về các biện pháp ngăn
chặn thông qua các phương tiện thông tin đại chúng
Báo chí, đài phát thanh, truyền hình chính là tiếng nói của Đảng, Nhà
nước và nhân dân. Nó có vai trò và ảnh hưởng sâu sắc tới đời sống xã hội
hiện nay. Đội ngũ phóng viên các báo, đài là những người có kinh nghiệm
thực tế, có thể đi sâu, đi sát mọi vấn đề. Qua đó, họ có thể phát hiện việc áp
21 22
dụng các biện pháp ngăn chặn đối với người chưa thành niên trong các vụ án có
đúng không? Thông qua các bài báo đưa tin, họ giúp các cơ quan THTT xem
xét, điều chỉnh các quyết định, kể cả các quyết định không đúng pháp luật.
Các báo chí, đài phát thanh, truyền hình nên có chuyên mục phổ biến

một số tồn tại thiếu sót, ảnh hưởng đến quá trình tố tụng, đến quyền và lợi
ích hợp pháp của người chưa thành niên, đến uy tín của các cơ quan tố tụng.
Những tồn tại này do rất nhiều nguyên nhân, song chủ yếu là do nhận thức
của những người THTT. Trước yêu cầu đổi mới toàn diện của đất nước nói
chung và diễn biến phức tạp của tình hình tội phạm trên địa bàn tỉnh nói
riêng, đòi hỏi phải không ngừng nâng cao kiến thức pháp luật và nghiệp vụ
của người có thẩm quyền áp dụng các biện pháp ngăn chặn, để khắc phục
những nguyên nhân, tồn tại trong quá trình áp dụng. Đồng thời tìm ra những
hạn chế, thiếu sót để kiến nghị hoàn thiện pháp luật và nâng cao trong thực
tiễn hiệu quả áp dụng các biện pháp ngăn chặn.
Luận văn đã nghiên cứu và làm rõ thực trạng áp dụng các biện pháp
ngăn chặn đối với người chưa thành niên phạm tội từ thực tiễn tỉnh Hải
Dương, chỉ ra những vướng mắc, hạn chế trong quá trình áp dụng những
biện pháp này trong những năm gần đây và nguyên nhân của nó.
Trên cơ sở đó, chúng tôi đã cố gắng đưa ra một số giải pháp nâng cao
hiệu quả của việc áp dụng các quy định của pháp luật TTHS về các biện pháp
ngăn chặn đối với người chưa thành niên phạm tội như hoàn thiện pháp luật;
nâng cao chất lượng và kỹ năng thực tiễn áp dụng đội ngũ cán bộ có thẩm
quyền THTT; phát huy vai trò của người bào chữa, luật sư trong hoạt động
bảo vệ người chưa thành niên bị áp dụng các biện pháp ngăn chặn; phát huy
vai trò của các phương tiện thông tin đại chúng, sự giám sát của nhân dân trong
thực thi các biện pháp ngăn chặn đối với người chưa thành niên phạm tội.
21 22


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status