Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về thủ tục tố tụng đối với người chưa thành niên phạm tội theo bộ luật tố tụng hình sự - Pdf 25

ĐẠI HỌ C QUỐ C GIA HÀ NỘ I
KHO A LUÂT

LÊ THỊ VÂN HÀ
MỘT SỐ VẤN ĐỂ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIÊN VÊ THỦ TỤC Tố TỤNG ĐỐI VỚI
NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI THEO BỘ LUẬT T ố TỤNG HÌNH sự.
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT HÌNH sự
MÃ SỐ: 60.38.40
LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS-TS TRẦN VĂN ĐỘ
O AI HỌC QuOC G ia h a , \c
ĨÍĨUNG ÌÁM ĨHONG ỉ in IHỰ ViỂN
v - u /

■ - -
f**■

-


HÀ NỘI - NĂM 2006
Ç îoi J tỉn ea rn đ ữ a n đ â ụ là . c ô ềtạ t r ìn h tig h te n , e ứ u e tu i rìèntẬ,
tô i, ^ á e ẳJố tíệ it đ ừ ờ e tr íc h d ẫ n t h m nhữtU Ậ, n ạ u Ầ n đ ã ũầ nq, ỉm .
3C Ú íụ iA n ê u tm n ụ . L u ù tt ú ủ n Là tr u n g , iluử L tìà c h ư a từ n ỊỊ. đ ư ờ e
e è n ụ . w ir m tụ . b ấ t Utj, cỗ ttạ . tr ìn h n à a k h ú a .
Lê T hị Vân Hà
PHẨN MỞ ĐẨU
MỤC LỤC

NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI 27
2.1. QUY ĐỊNH VỂ ĐỐI TƯỢNG CHỨNG MINH 28
2.1.1. T uổi, trìn h độ phá t triển về thể chất và tin h thần, mức độ nhận thức
về hành vi phạm tội của người chưa thành n iê n 30
2.1.2. Điều kiện sinh sống và giáo d ụ c

33
2.1.3. Có hay không có ngưòl thành niên xú i d ụ c

35
2.1.4. Nguyên nhân và điều kiện phạm tộ i
36
2.2. QUY ĐỊNH VÊ NGƯỜI TIẾN HÀNH Tố TỤNG 38
2.3. QUY ĐỊNH VỂ NGƯỜI THAM GIA Tố TỤNG 40
2.3.1.Việc tham gia tố tụng của gia đình, nhà trường và tổ chức xã hội. 41
2.3.2. Sự tham gia tố tụng của người bào chữa 42
2.3.3. Những ngưòi tham gia tố tụng kh ác 47
2.4. QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN Đối VỚI NGƯỜI
CHƯA THÀNH NIÊN 48
2.4.1. Việc bắt ngư ời 50
2.4.1,1 .Bắt người trong trường hợp khẩn cấp
50
2 .4 .1 .2 . B ắ t n g ư ờ i p h ạ m tộ i q u ả ta n g h o ặ c đ a n g b ị tr u y n ã .

52
2 .4 .1 3 . B ắ t b ị c a n , b ị c á o đ ể tạ m g i a m 53
2.4.2. Các biện pháp ngăn chặn kh á c

54
2.5. QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỂ GIAI ĐOẠN KHỞI Tố, ĐIỂU TRA, TRUY Tố,


96
32.2.2. Sửa đổi, bổ sung các quy định của BLTTHS năm 2003

97
KẾT LUẬN 101
DANH MỰC CÁC KÝ H IỆ U VÀ CHỮ VIÊT TẮT
BLHS: Bộ lu ật hình sự;
B LT T H S : Bộ lu ật tố tụng hình sự;
TNHS: T rách nhiệm hình sự;
VK SN D TC : Viện kiểm sát nhản dán Tôì cao;
TA N DT C : Tòa án nhân dân tối cao;
C H XH C NV N : Cộng hòa xã hội chủ nghĩa V iệt Nam.
PH Ầ N M Ở Đ Ầ U
Ở đất nước ta, trong những năm gần đây tội phạm diễn biến phức tạp và
có xu hướng gia tăng, đặc biệt là ở lứa tuổi chưa thành niên. Có thể nói, tội
phạm đang trẻ hoá trên phạm vi toàn quốc, đó là một thí dụ về sự phát triển
lệch lạc của thế hệ hệ trẻ ra khỏi quy tắc thông thường trong cuộc sống. Sự
phạm tội ở lứa tuổi chưa thành niên hiện nay đang dần dần gặm nhấm, làm
thui chột đi một lượng thế hệ trẻ tương lai, đây là một vấn đề nhức nhối, đã trở
thành nỗi lo lắng của gia đình, xã hội và đất nước. Không những ở Việt Nam
mà cả thế giới, tội phạm chưa thành niên được coi là vấn đề toàn cầu. "Quy tắc
tối thiểu phổ biến của Liên hợp quốc về việc áp dụng luật đối với người chưa
thành niên" (tức Quy tắc Bắc Kinh) năm 1985; hướng dẫn RIYA D H năm
1990 của Liên hợp quốc về phòng ngừa tội phạm chưa thành niên.v.v là những
minh chứng toàn cầu về vấn đề này.
Tuy nhiên, do đặc trưng lứa tuổi và chưa phát triển đầy đủ về thể chất
cũng như tâm sinh lý mà ở người chưa thành niên tồn tại những đặc điểm
riêng biệt khác với người đã thành niên như


phạm tội đã tương đối hoàn thiện nhưng vẫn còn nhiều vấn đề gây tranh luận;
có những quy định chưa chặt chẽ, chưa đầy đủ, chưa đáp ứng với yêu cầu thực
tế nên tạo nhiều kẽ hở cho những vi phạm, xâm phạm đến quyền và lợi ích
hợp pháp của người chưa thành niên. Đứng trước những vấn đề như vậy, quy
định của pháp luật tố tụng hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội đặt
ra những vấn đề cần phải hoàn thiện, vì vậy cần thiết phải có những quy định
cụ thể, chặt chẽ, thống nhất hơn nữa trong BLTTHS về thủ tục tố tụng đối với
người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là người chưa thành niên.
Về mặt thực tiễn, việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án
những vụ án mà bị can, bị cáo là người chưa thành niên trong những năm qua
cho thấy khi áp dụng những quy định về thủ tục đặc biệt này còn bộc lộ những
2
điểm hạn chế, bất hợp lý. Điều này là do một phần chưa nắm vững và vận
dụng chính xác, triệt để quy định của pháp luật tố tụng liên quan đến việc giải
quyết vụ án mà người chưa thành niên phạm tội, một phần người tiến hành tố
tụng lạm quyền, không tôn trọng, coi nhẹ các quyền lợi của người bị bắt,
người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là người chưa thành niên.
Vì những lý do trên, tôi chọn đề tài "Một số vấn đề về lý luận và thực
tiễn về thủ tục tô' tụng đối với người chưa thành niên phạm tội theo BLTTHS"
làm luận văn thạc sỹ luật học của mình.
2. T ình hình nghiên cứu.
Ngoài các giáo trình luật tố tụng hình sự, các bình luận khoa học
BLTTHS, đã có một số công trình nghiên cứu về thủ tục tố tụng đối với người
chưa thành niên phạm tội. Các công trình này chủ yếu để cập đến thủ tục tố
tụng đối với người chưa thành niên như là một nội dung cần giải quyết (Bảo vệ
quyền trẻ em trong pháp luật Việt Nam - đặc san trong tạp chí Dân chủ và
pháp luật; luật hình sự, luật tố tụng hình sự và tội phạm học - Nhà xuất bản
chính trị Quốc gia năm 1 995.V .V đặc biệt tác giả Đỗ Thị Phượng đã có luận
văn Thạc sỹ Luật học nghiên cứu tương đối toàn diện về tố tụng đối với người
chưa thành niên phạm tội, nhưng được thực hiện trên cơ sở BLTTHS năm


lịch sử, thống
kê, phân tích, tổng hợp, so sánh, trao đổi chuyên gia Để hoàn thành luận
văn, tác giả khảo sát thực tiễn tố tụng đối với người chưa thành niên phạm tội
trên phạm vi toàn quốc.
5. Những điểm m ới của luận văn.
Đây là công trình nghiên cứu một cách có hệ thống, tổng hợp, toàn diện
thủ tục tố tụng đối với người chưa thành niên phạm tội theo quy định của
BLTTHS năm 2003. Luận văn không chỉ nghiên cứu những vấn đề lý luận
chung, phân tích các quy định của pháp luật (đặc biệt là BLTTHS năm 2003)
về thủ tục tố tụng đối với người chưa thành niên phạm tội mà còn phân tích
4
thực tiễn tố tụng, làm sáng tỏ những bất cập, hạn chế và đưa ra các giải pháp
nhằm hoàn thiện BLTTHS năm 2003 và nâng cao hiệu quả điều tra, truy tố,
xét xử.
6. C ơ cấu của luận văn:
Luận văn gồm 3 chương không kể lời nói đầu và phần kết luận.:
Chương 1: Nhận thức chung về người chưa thành niên phạm tội.
Chương 2: Quy định của pháp luật tố tụng hình sự nước ta đối với người
chưa thành niên phạm tội.
Chương 3: Thực tiễn tố tụng hình sự đối với người bị bắt, người bị tạm
giữ, bị can, bị cấo là người chưa thành niên và những giải pháp.
5
CHƯƠNG 1.
NHẬN THỨC CHUNG VỂ NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI.
1.1. KHÁI NIỆM THỦ TỤC Tố TỤNG Đối VỚI NGƯỜI BỊ BẮT, NGƯỜI BỊ TẠM
GIỮ, BỊ CAN, BỊ CÁO LÀ NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI.
1.1.1. K hái niệm người chưa thành niên và người chưa thành niên
phạm tộ i tron g pháp lu ật quốc tế.
Trẻ em phạm tội và trẻ em làm trái pháp luật được nhiều nước, nhiều tổ

thực hiện trong phạm vi khuôn khổ của tuyên ngôn thê giới vê quyền con

người, Công ước quốc tế về các quyền kinh tế - chính trị - văn hoá - xã hội,

Công ước về quyền trẻ em là phạm vi các quy tắc phổ biến của Liên Hợp

Quốc về việc áp dụng pháp luật đối với người chưa thành niên, cũng như các

văn kiện và tiêu c lì uẩn khác cố liên quan đến các quyền và lợ i ích, phúc lợ i

của các thanh niên ".
Mà Công ước Quyền trẻ em lại quy định trẻ em là tất
cả những ai dưới 18 tuổi. Như vậy là có quan điểm chung về độ tuổi người
chưa thành niên trong các công ước.
Quy tắc tối thiểu phổ biến của Liên Hợp Quốc về bảo vệ người chưa
thành niên bị tước quyền tự do được Liên Hợp Quốc thông qua ngày
14/12/1992 cũng đề cập đến khái niệm người chưa thành niên. Bên cạnh mục
đích xác định các quyền của người chưa thành niên bị tước quyền tự do thì
Quy tắc còn quy định cách đối xử với trẻ em khi chúng phạm pháp.
Tóm lại, các văn bản pháp luật quốc tế tuy có phạm vi nghiên cứu khác
nhau song cũng đưa ra quan điểm riêng về khái niệm người chưa thành niên
và người chưa thành niên phạm tội.
1.1.2. K h á i niệm người chưa thành niên phạm tộ i theo pháp luật
V iệt Nam.
"Người chưa thành niên phạm tội" là thuật ngữ được sử dụng trong ngành
luật hình sự và tố tụng hình sự. Mặc dù BLHS năm 1999,BLTTHS năm 2003
đã dành một chương riêng để quy định về "người chưa thành niên phạm tội"
nhưng lại không có một khái niệm pháp lý chính thức nào giải thích thế nào là
người chua thành niên phạm tội.
Có quan điểm thứ nhất cho rằng "khái niệm người chưa thành niên trong

độ thứ hai “ người chưa thành niên” bằng năng lực, nhận thức của mình thực
hiện những hành vi bị pháp luật cấm, tức là quy định “người chưa thành niên
phạm tội” ,thì tại thời điểm họ thực hiện hành vi phạm tội, pháp luật quy định
họ phải đang

độ tuổi từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi và tất nhiên là có năng
lực TNHS.
8
Pháp luật Việt Nam nói chung cũng như Luật hình sự và Luật tố tụng
hình sự nói riêng đều thể hiện thống nhất khái niệm người chưa thành niên là
để chỉ những người dưới 18 tuổi (còn gọi là người chưa đủ 18 tuổi). Trong độ
tuổi người chưa thành niên bao gồm trẻ em là những người chưa đủ 16 tuổi.
Trong luật hình sự và tố tụng hình sự, khái niệm người chưa thành niên phạm
tội để chỉ những người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi trở lên đến chưa đủ 18
tuổi thực hiện hành vi phạm tội và những người đó có năng lực TNHS. Nói
cách khác người chưa thành niên phạm tội là những người từ đủ 14 tuổi trở lên
đến chưa đủ 16 tuổi phạm tội rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội đặc biệt
nghiêm trọng, và những người từ đủ 16 tuổi trở lên những chưa đủ 18 tuổi
phạm các tội phạm khác.
Việc quy định vấn đề người chưa thành niên phạm tội trong luật hình sự
trước hết có ý nghĩa xác định ranh giới giữa tội phạm với không phải là tội
phạm. Một người chưa thành niên chưa đủ 14 tuổi thực hiện hành vi nguy
hiểm cho xã hội cho dù hậu quả đặc biệt nghiêm trọng hoặc người chưa thành
niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội ít nghiêm trọng, tội nghiêm trọng
hoặc rất nghiêm trọng do vô ý đều không phải chịu TNHS. Ngoài ra, quy định
vấn đề người chưa thành niên phạm tội trong luật hình sự còn có ý nghĩa thể
hiện nguyên tắc cá thể hoá TNHS, nguyên tắc bình đẳng trong luật hình sự,
làm cơ sở cho việc quyết định hình phạt bảo đảm mục đích giáo dục, cải tạo
người phạm tội. [35


niên nghĩa là người đang ở độ tuổi từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi ở thời điểm
các cơ quan có thẩm quyền tiến hành các hoạt động tố tụng hình sự đối với họ.
Do đó, khái niệm người chưa thành niên phạm tội và khái niệm người
bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là người chưa thành niên có những
điểm khác nhau xuất phát từ thời điểm phát sinh quan hệ pháp luật mà trong
đó người chưa thành niên là chủ thể. Quy định đối với người chưa thành niên
phạm tội trong BLHS chỉ áp dụng đối với đối tượng là người chưa thành niên
ở thời điểm họ thực hiện hành vi phạm tội. Còn những quy định thủ tục đối với
người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là người chưa thành niên trong
BLTTHS được áp dụng đối với đối tượng là người bị bắt, người bị tạm giữ, bị
can, bị cáo vào thời điểm mà họ là người chưa thành niên nên cần áp dụng các
biện pháp tố tụng có những điểm khác so với người đã thành niên. V í dụ: một
10
người vào thời điểm thực hiện tội phạm là người chưa thành niên nhưng khi họ
bị phát hiện và là người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo của vụ án đang
được giải quyết lại là người thành niên. Nếu áp đụng thủ tục đặc biệt này thì
sẽ không phù hợp trong các hoạt động tố tụng nữa mà áp dụng thủ tục tố tụng
bình thường tức là không bắt buộc phải có luật sư cũng như không nhất thiết
phải có hội thẩm là giáo viên, hoặc cán bộ đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí
Minh khi xét xử tại phiên toà Nhưng khi quyết định hình phạt họ vẫn được
quyền hưởng các quy định trong BLHS đối với người chưa thành niên. Như
vậy, vào thời điểm các thủ tục tố tụng hình sự được thực hiện đối với người bị
bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là người chưa thành niên, họ đang ở độ
tuổi từ đủ 14 đến dưới 18 tuổi. Do vậy, Điều 301 BLTTHS mới quy định:
''Thủ tục tố tụng đối với người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là người

chưa thành niên được áp dụng theo quy định của Chương này đồng thời theo

quy định khác của Bộ luật này không trá i với những quy định của Chương


1.1.4. K há i quát quy định của pháp lu ậ t quốc tế và m ột số nước về
thủ tục tô tụng đôi với người chưa thành niên phạm tộ i.
Một hoạt động mà các nước trên toàn cầu đang nỗ lực thực hiện là tìm
cách bảo đảm hệ thống tư pháp người chưa thành niên tuân thủ đúng pháp luật
quốc tế và quyền con người. Kể từ năm 1989,với tốc độ ngày càng cao, các
nước trên thế giới đã và đang đưa ra những nguyên tắc quốc tế và các luật và
chính sách quốc gia, và kết quả là các nước đã soạn thảo lại luật về tư pháp
người chưa thành niên. Các nước này gồm có Australia, Canada, Costa Rica,
Niu Dilân, Uganda. Ngày càng nhiều cán bộ xã hội, cán bộ làm công tác vể
quyển trẻ em, cán bộ trại giam, thẩm phán, luật sư, công an, những người làm
luật và cán bộ thực tập được đào tạo để áp dụng những nguyên tắc quốc tế đó.
Đầu tiên phải nói đến đó là Công ước về quyền trẻ em (Nghị quyết của
Đại hội đồng 44/25) mà 191 quốc gia đã tham gia làm thành viên, là thoả ước
chủ đạo chứa đựng tất cả các quyền mà các chính phủ đồng ý là trẻ em được
hưởng. Điều 37 của Công ước đã nêu cụ thể rằng không có trẻ em nào phải
chịu sự tra tấn, đối xử và trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hay làm mất phẩm
12
giá. Sẽ không áp dụng án tử hình hay tù chung thân mà không có khả năng
phóng thích. Đồng thời Cồng ước cũng quy định trẻ em không bị tước quyển
tự do một cách bất hợp pháp và tuỳ tiện. Nếu bị giam giữ, trẻ phải được cách
ly với người lớn, trừ trường hợp việc giam chung với người lớn được xem là vì
lợi ích tốt nhất cho trẻ. M ọi trẻ em bị tước quyền tự do phải được đối xử nhân
đạo với sự tôn trọng và theo một cách có tính tới những nhu cầu của trẻ. Tính
nhân đạo bao gồm quyền cho trẻ có kịp thời những hỗ trợ pháp lý và các trợ
giúp khác, như các dịch vụ về y tế và tâm lý. Điều 37 cũng quy định rằng việc
tước quyền tự do của trẻ em chỉ có thể được sử dụng như một biện pháp cuối
cùng và trong thời hạn thích hợp ngắn nhất.
Đại hội lần thứ sáu của Liên Hợp Quốc về phòng ngừa tội phạm và xử lý
người phạm tội, trong Nghị quyết số 4,đã kêu gọi triển khai những quy tắc tối
thiểu phổ biến cho việc thực hiện tư pháp người chưa thành niên. Với Nghị

pháp ngăn ngừa sớm với lưu ý đặc biệt tới trẻ em trong hoàn cảnh có nguy cơ
xã hội. Hướng dẫn Riyadh khuyến khích thực hiện luật pháp chuyên biệt về tư
pháp người chưa thành niên.
Bên cạnh Công ước, quy tắc, hướng dẫn của quốc tế thì các nước cụ thể
cũng quy định riêng cho mình những quy định về thủ tục tố tụng đối với người
chưa thành niên phạm tội trong các quy định của pháp luật quốc gia. Cụ thể
như

Thủ tục tố tụng hình sự của Australia đối với người chưa thành niên có
quy định sự khác biệt so với người đã thành niên nhưng rất ít chỉ là thủ tục
mang tính chính thống hơn. Cụ thể: quy định về thủ tục tố tụng trước khi xét
xử đối với người chưa thành niên: "Thủ tục ở giai đoạn tiền xét xử đối với
người chưa thành niên và người đã thành niên nói chung là tương tự. cảnh sát
có quyền nêu câu hỏi, bắt giữ, khám xét và truy tố người chưa thành niên. Sự
khác biệt chủ yếu là những thủ tục áp dụng đối với người chưa thành niên
14
mang tính chính thống hơn những thủ tục đã áp dụng đối với người đã thành
niên"[23, tr.13]. về thủ tục xét xử đối với người chưa thành niên "việc xử lý
nghi can vị thành niên trong một chừng mực nào đó có sự khác biệt so với
nghi can đã thành niên. Ngôn ngữ sử dụng ở các toà án trẻ em hoặc toà án vị
thành niên mềm mỏng hơn, ít chính thống hơn so với các toà án xét xử người
đã thành niên. Trong một số trường hợp, người chưa thành niên có thể được
xét xử ở toà hình sự. Tất cả các tiểu bang của Australia, trẻ em trên độ tuổi
phải chịu trách nhiệm hình sự giống như đối với người đã thành niên. Ở một
số tiểu bang, trong trường hợp trẻ em trên độ tuổi phải chịu trách nhiệm hình
sự bị truy tố về tội giết người thì sẽ bị xét xử ở toà hình sự giống như người đã
thành niên. Ở một số tiểu bang, trong trường hợp trẻ em trên độ tuổi phải chịu
trách nhiệm hình sự bị truy tố về một tội phạm được xét xử bằng cáo trạng,
nếu có yêu cầu thì sẽ được bồi thẩm đoàn xét xử


Luật tố tụng hình sự Malaysia có quy định về Toà án thanh thiếu niên
”Trẻ em từ 10 đến 18 tuổi gọi là thanh thiếu niên. Luật về các Toà án thanh
thiếu niên có một số điều khoản quy định cách xét xử và các hình phạt đối với
một số thanh thiếu niên phạm tội’
Trong những vụ án xét xử một thanh thiếu niên trước một Toà án cấp cao
cùng với các thanh thiếu niên khác, Toà án cấp cao có thẩm quyền hữu hạn
khi ban hành án. Nếu có thể phạt em này dưới hình thức như giám quản, phạt
tiền hay đưa vào trường cải huấn, toà sẽ không ra án phạt tù. Đối với trường
hợp một thanh thiếu niên đã bị buộc tội theo luật hình sự hoặc luật ma tuý
* i .
• » • • •
^
nguy hiểm, toà sẽ không phạt tử hình" [23

tr.203].
Theo pháp luật Pakistan cụ thể là Luật hình sự quy định mức tuổi tối
thiểu chịu trách nhiệm hình sự là 7 tuổi. Bộ luật tố tụng hình sự Pakistan về
vấn đề bảo lãnh: " Tuy nhiên, đối với những trẻ em dưới 16 tuổi, phụ nữ hay
người ốm đau, bệnh tật mà phạm tội, toà có thể xét cho bảo lãnh." [23

tr.211]
Việt Nam quy định độ tuổi tối thiểu phải chịu TNHS là đủ 14,điều này thể
hiện chính sách nhân đạo, quan tâm đến trẻ em hơn nước Pakistan.
Pháp luật Inđônêxia coi lời khai có tuyên thệ là nguồn chứng cứ hợp
pháp nhưng BLTTHS Inđonêxia quy định rằng một đứa trẻ dưới 15 tuổi chưa
lập gia đình có thể làm nhân chứng và khai báo mà không cần tuyên thệ [23,
16
tr. 240]. Quy định điều này nghĩa là Inđônêxia đã căn cứ trên đặc điểm tâm
sinh lý của lứa tuổi chưa thành niên để quy định.
BLTTHS Ấn độ quy định về vấn đề bảo lĩnh "Khi có bảo lĩnh, Toà án có


w
Ĩ!?IIN_S ĩ ÂM THÒNG
丁丨
N Ĩ H U

ị.N


-,•■1 *" *
17
\M x
/.销
tham gia phiên toà phải có đại diện hợp pháp của người chưa thành
niên Ngoài ra Điều 396 quy định có sự khác biệt đó là tách riêng vụ án người
chưa thành niên từ khi điều tra sơ bộ trong vụ án người chưa thành niên phạm
tội cùng người đã thành niên.
Nghiên cứu pháp luật của nước Hoa Kỳ quy định về việc xét xử như sau
"Tuổi tối đa nước Mỹ coi một kẻ phạm tội là vị thành niên là trong khoảng từ
16 đến 21 tuỳ thuộc vào phạm vi quyền hạn ở những khu vực nhất định, căn
cứ vào hình thức phạm tội và mức độ lỗi. Vì thế, có luật cho phép (và trong
một số vụ việc uỷ thác) xét xử với một trẻ vị thành niên như người trưởng
thành nếu phạm tội giết người hay những tội đặc biệt nghiêm trọng khác. Nói
chung, trong hệ thống xét xử tội phạm vị thành niên, bị can được xét xử nhẹ
hơn nhiều so với người trưởng thành mặc dù về hình thức có ít quyển tố tụng
hơn. Trong những trường hợp phạm tội cần xét xử, đòi hỏi quan toà cần phải
ra những quyết định khách quan theo tiêu chuẩn gần giống áp dụng đối với xét
xử hình sự Tình trạng tiền xét xử của cô ta/ cậu ta phụ thuộc vào duy nhất
quyết định của quan toà rằng việc tại ngoại có sự giám sát trước khi xét xử có
thể ngăn chặn sự bỏ trốn hay đảm bảo cho cộng đồng trước những nguy

triển mạnh mẽ về thể lực và tâm sinh lý, đang

trong giai đoạn hình thành và
phát triển nhân cách. Khi các em phạm tội, do chưa phát triển đầy đủ, các em
thường hay quên, hoặc sự nhớ về sự việc phạm tội thường lộn xộn không theo
trật tự logic, do đó rất dễ nhầm lẫn và dễ quên hoặc khai báo lộn xộn không
chuẩn. Thông thường sau khi bắt mà tiến hành lấy lời khai ngay thì thường các
lời khai khá chi tiết và chính xác vì lúc này các em có trạng thái tâm lý hoang
mang, lo sợ và chưa kịp đối phó nên khai báo đầy đủ.
- Quá trình phát triển sinh lý đã ảnh hưởng đến tính cách của người
chưa thành niên, làm cho họ dễ xúc động, khi thì trầm tư, lúc thì sôi nổi. Nên
bị phát hiện ra mình phạm tội thì các em rất sợ hãi nhất là sau khi khởi tố bị
can, thông thường các em rất lo sợ sẽ phải chịu hình phạt nặng, do đó hiện
tượng tâm lý này đã kìm hãm lời khai trung thực của các em. Bên cạnh đó, các
em do tuổi đời còn nhỏ vì vậy tư duy nông cạn, sự hiểu biết pháp luật còn mơ
19

Trích đoạn Thực tiễn chứng minh Thực tiễn tham gia tố tụng của gia đình, nhà trường và Thực tiễn sự tham gia của người bào chữa vào quá trình tố tụng MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG TỐ TỤNG ĐỐI VÓ Sửa đổi, bổ sung các quy định của BLTTHS năm 2003
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status