Hình phạt tù đối với người chưa thành niên phạm tội - lý luận và thực tiễn áp dụng - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

ĐỖ NGỌC THÙY HÌNH PHẠT TÙ
ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM
TỘI -
LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG

luËn v¨n th¹c sÜ luËt häc
Hµ néi - 2011
Hµ néi - 2011

MỤC LỤC
TRANG

Trang phụ bìa LỜI CAM ĐOAN Mục lục DANH MỤC CÁC BẢNG MỞ ĐẦU
1

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ HÌNH
PHẠT TÙ ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN

18
1.3.1.
Nguyên tắc thứ nhất
21
1.3.2.
Nguyên tắc thứ hai
22
1.3.3.
Nguyên tắc thứ ba
24
1.3.4.
Nguyên tắc thứ tư
27
1.3.5.
Nguyên tắc thứ năm
30 1.4.
Tìm hiểu hình thức xử lý người chưa thành niên phạm tội
của Liên hợp quốc và một số nước trên thế giới
31
1.4.1.
Các quy định quốc tế về tư pháp người chưa thành niên
31
1.4.1.1.
Can thiệp mà không sử dụng đến quá trình tố tụng tư
pháp và can thiệp trong quá trình tố tụng tư pháp
37
1.4.1.2.

Hình phạt cải tạo không giam giữ
61
2.1.3.
Hình phạt tù có thời hạn và thực tiễn áp dụng với người
chưa thành niên phạm tội
64
2.1.3.1.
Khái niệm, đặc điểm
64
2.1.3.2.
Hình phạt tù áp dụng đối với người chưa thành niên phạm
tội
67
2.2.
Thực tiễn áp dụng hình phạt tù đối với người chưa thành
niên phạm tội ở nước ta giai đoạn 2006 - 2010
73
2.3.
Nhận xét, đánh giá về quy định áp dụng hình phạt tù đối
79 với người chưa thành niên phạm tội và thực tế áp dụng
2.3.1.
Ưu điểm
79
2.3.2.
Hạn chế
81
2.3.3.

91

KẾT LUẬN
97

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
99
DANH MỤC CÁC BẢNG

Số hiệu
bảng
Tên bảng
Trang
2.1
Số người chưa thành niên phạm tội bị áp dụng các loại
hình phạt trên cả nước từ tháng 10 năm 2006 đến tháng
09 năm 2010
74
2.2
Số người chưa thành niên phạm tội bị áp dụng hình phạt
tù tại Toà án nhân dân thành phố Hà Nội từ tháng 10 năm
2006 đến tháng 9 năm 2010
74
2.3

quyền và lợi ích của trẻ em cũng như quy định trách nhiệm của cha mẹ, gia
đình và các tổ chức xã hội.
Tuy nhiên, hiện nay, một hiện tượng đang xảy ra phổ biến tại các
nước trên thế giới là tình hình tội phạm là người chưa thành niên ngày càng
gia tăng. Mỗi quốc gia đều giải quyết vấn đề người chưa thành niên phạm tội
theo những mức độ, cách thức khác nhau tùy thuộc vào những điều kiện, tập 2
quán, pháp luật của mỗi nước. Một hoạt động mà các nước trên toàn cầu đang
nỗ lực thực hiện là tìm mọi cách đảm bảo hệ thống tư pháp người chưa thành
niên tuân thủ theo đúng luật pháp quốc tế về quyền con người. Để đảm bảo
tính công bằng và nghiêm khắc của pháp luật hình sự cũng như yêu cầu bảo
vệ trẻ em một cách tốt nhất, thì vấn đề xử lý tội phạm là người chưa thành
niên luôn là yêu cầu cấp thiết đặt ra với mỗi quốc gia. Đặc biệt, vấn nạn người
chưa thành niên phạm tội nghiêm trọng, rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm
trọng ngày càng nhiều và có xu hướng gia tăng nhanh chóng. Việt Nam không
nằm ngoài tình trạng chung đó.
Bộ luật Hình sự Việt Nam năm 1999, sửa đổi bổ sung một số điều
năm 2009 đã dành một chương riêng quy định đối với người chưa thành niên
phạm tội, với mục đích phòng ngừa, ngăn chặn tình trạng phạm tội do người
chưa thành niên gây ra. Đồng thời, dung hòa chính sách bảo vệ và chăm sóc
trẻ em với tính công bằng và nghiêm minh của pháp luật hình sự. Việc thực
hiện chúng trong thực tiễn có hiệu quả là mục tiêu quan trọng nhất. Tuy
nhiên, những chính sách pháp luật đó được áp dụng như thế nào lại là vấn đề
không đơn giản, đặc biệt là việc quyết định hình phạt tù khi xét xử đối với
người chưa thành niên phạm tội. Bởi đối tượng bị xử lý là những người được
quan tâm đặc biệt và hình phạt tù, một loại hình phạt nghiêm khắc, tước đoạt
tự do luôn được quốc tế nhấn mạnh chỉ như là biện pháp cuối cùng. Đã có
một số công trình nghiên cứu về chính sách hình sự đối với người chưa thành

thành niên phạm tội: Lý luận và thực tiễn áp dụng" năm 2010. Hình phạt tù
chưa được nghiên cứu chuyên sâu để giải đáp được những vướng mắc trong
việc áp dụng trong thực tiễn xét xử. Trong khi đó, trước yêu cầu của quốc tế
về việc bảo vệ quyền trẻ em, thực tiễn xét xử người chưa thành niên phạm tội
và việc áp dụng hình phạt tù với đối tượng đặc biệt này, việc có một công
trình nghiên cứu sâu về loại hình phạt nghiêm khắc nhất với người chưa thành
niên phạm tội là rất cần thiết. Đây là một trong những nhiệm vụ quan trọng
của người nghiên cứu và thực thi pháp luật hình sự. 4
3. Mục đích và phạm vi nghiên cứu
Mục đích của đề tài là nhằm tìm hiểu chính sách xử lý hình sự của
Đảng và Nhà nước ta đối với người chưa thành niên phạm tội, đặc biệt là việc
áp dụng hình phạt tù, hình thức tước bỏ tự do, biện pháp nghiêm khắc nhất,
đảm bảo dung hòa pháp luật hình sự với chính sách bảo vệ và chăm sóc trẻ
em. Đồng thời, tìm hiểu việc áp dụng những chính sách này trong thực tiễn.
Từ đó, đưa ra những đề xuất và kiến nghị cụ thể đến các biện pháp và sáng
kiến mang tính khả thi để góp phần hoàn thiện pháp luật, tìm ra các giải pháp
nhằm cải thiện tình hình hiện tại về người chưa thành niên phạm tội ở Hà Nội,
thủ đô nghìn năm tuổi của Việt Nam, một thành phố vì hòa bình.
Xuất phát từ mục đích nghiên cứu, luận văn có phạm vi nghiên cứu là
xem xét và giải quyết một số vấn đề xung quanh hình phạt tù, lý luận và thực
tiễn áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội, nội dung nghiên cứu cụ thể
là:
- Khái niệm, đặc điểm tâm, sinh lý của người chưa thành niên phạm tội.
- Các nguyên tắc xử lý người chưa thành niên phạm tội trong luật hình
sự Việt Nam.
- Các quy định quốc tế về tư pháp người chưa thành niên.
- Quy định áp dụng hình phạt tù đối với người chưa thành niên phạm

luật tố tụng hình sự, xã hội học pháp luật… Ngoài ra, tác giả còn sử dụng
phương pháp chuyên gia.
6. Ý nghĩa lý luận, thực tiễn và điểm mới về khoa học của luận
văn 6
Luận văn đã làm rõ khái niệm, bản chất pháp lý và hình thức áp dụng
hình phạt tù đối với người chưa thành niên phạm tội trên cơ sở xem xét những
quy định của luật pháp quốc tế, pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành, đồng
thời đưa ra các kiến nghị hoàn thiện các quy định của pháp luật hình sự Việt
Nam và việc áp dụng trong thực tiễn.
Ngoài ra, đối tượng áp dụng hình phạt tù được nghiên cứu trong luận
văn là người chưa thành niên phạm tội - một đối tượng đặc biệt. Vì vậy, để
góp phần nhân đạo hóa hơn nữa chính sách hình sự của Nhà nước ta, phù hợp
với các yêu cầu của thực tiễn xét xử và pháp luật hình sự của các nước cũng
như các quy định của quốc tế, tác giả kiến nghị sửa đổi một số quy định khi
áp dụng hình phạt tù đối với người chưa thành niên phạm tội.
Đây là công trình nghiên cứu sâu về loại hình phạt tù áp dụng cho
người chưa thành niên phạm tội, có ý nghĩa lý luận sâu sắc, là tài liệu tham
khảo trong công tác giảng dạy và cho cán bộ thực tiễn áp dụng hình phạt tù
đối với người chưa thành niên phạm tội.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về hình phạt tù đối với người
chưa thành niên phạm tội.
Chương 2: Quy định về hình phạt tù đối với người chưa thành niên
phạm tội trong luật hình sự Việt Nam và thực tiễn áp dụng.
Chương 3: Quan điểm, giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao

sự phát triển thể chất, tinh thần thông qua việc xác định độ tuổi. Kể cả khái
niệm trẻ em và khái niệm người chưa thành niên đều giới hạn là dưới 18 tuổi,
đồng thời đưa ra khả năng mở cho các quốc gia tuỳ điều kiện kinh tế - xã hội, 8
văn hóa truyền thống của mình có thể quy định độ tuổi đó sớm hơn. Nội dung
các quy tắc trên có tính đến sự đa dạng và cơ cấu pháp luật của các quốc gia,
phản ánh mục đích và tinh thần của tư pháp người chưa thành niên, đề ra
những nguyên tắc mong muốn và thông lệ đối với việc quản lý những người
chưa thành niên vi phạm pháp luật.
Theo đó, pháp luật Việt Nam cũng quy định độ tuổi đủ 18 tuổi là căn
cứ để xác định người đó đã thành niên. Điều 18 Bộ luật dân sự năm 2005 quy
định "Người từ đủ mười tám tuổi trở lên là người thành niên. Người chưa đủ
mười tám tuổi là người chưa thành niên". Điều 1 Luật Bảo vệ, chăm sóc và
giáo dục trẻ em Việt Nam quy định "Trẻ em quy định trong Luật này là công
dân dưới 16 tuổi". Vì vậy, người chưa thành niên được xác định là người dưới
18 tuổi.
1.1.2. Đặc điểm tâm, sinh lý người chưa thành niên
Sở dĩ Nhà nước ta có những chính sách riêng cho đối tượng phạm tội
là người chưa thành niên vì xuất phát từ tính đặc thù của đối tượng này.
Chủ thể của tội phạm là những người tuổi đời còn ít, kinh nghiệm
sống chưa nhiều, hiểu biết pháp luật và các chuẩn mực xã hội còn hạn chế.
Đặc biệt, đây là lứa tuổi đang có sự biến đổi mạnh mẽ về tâm, sinh lý và là
giai đoạn quan trọng của quá trình hình thành và phát triển nhân cách.
Người chưa thành niên đang ở giai đoạn dậy thì, xảy ra những biến
động mãnh liệt về tâm lý của mỗi con người, cũng là thời kỳ then chốt của
phát triển tâm lý. Đương nhiên, quá trình phát triển tâm lý có quan hệ chặt
chẽ với điều kiện kinh tế, xã hội, văn hóa mà những người chưa thành niên
đang sống và cũng liên quan đến quá trình phát dục, thành thục về sinh lý.

động ảo và hành động phạm tội gần nhau hơn và khiến chúng bắt chước theo.
Người chưa thành niên còn "có xu hướng thiếu khả năng kiềm chế do
các quá trình hưng phấn của vỏ não mạnh và chiếm ưu thế, các quá trình ức
chế có điều kiện bị suy giảm" [11, tr. 91]. Do vậy, nhiều khi họ không làm chủ
được cảm xúc của mình, không kiềm chế được xúc động mạnh, dễ bị kích
động, dễ bị tức, cáu kỉnh, mất bình tĩnh… nên dễ phạm sai lầm. Ở lứa tuổi 10
này còn xuất hiện hiện tượng "khủng hoảng" về tâm lý. Sự khủng hoảng có
thể dẫn đến những "xung đột" nhất định. Những "khủng hoảng" và những
"xung đột" này nếu không được giải tỏa kịp thời, đúng đắn sẽ dẫn đến các
hành vi bạo động hoặc sống buông thả, bất cần.
Nhu cầu giao tiếp và mở rộng mối quan hệ bạn bè là một điểm đặc
trưng của lứa tuổi chưa thành niên. Trong hoàn cảnh giao tiếp tự do, rỗi rãi,
trong tiêu khiển, trong việc phát triển nhu cầu, sở thích… người chưa thành
niên hướng vào bạn bè nhiều hơn là hướng vào cha mẹ. Họ thích giao du bạn
bè, thích túm năm tụm ba. Nếu không có sự quản lý chặt chẽ của gia đình, nhà
trường thì họ dễ bỏ học, đi lang thang. Vì vậy, dễ có khả năng họ có những
hành vi phạm tội. Nhóm bạn xấu cũng xuất hiện từ đây. Đa số những người vi
phạm pháp luật ở độ tuổi chưa thành niên đều có hiện tượng bỏ học, đi lang
thang. Lứa tuổi này rất dễ bị lôi kéo bởi bạn bè xấu. Bởi ở lứa tuổi này, tính
tình có sự bộc lộ hết sức mạnh mẽ, rất không ổn định, rất dễ chuyển từ cực
này sang cự kia. Sở dĩ gọi là lưỡng cực trong tính nết của người chưa thành
niên là do họ có biểu hiện trong tính tình khẳng định và phủ định, tích cực và
tiêu cực, khẩn trương và buông lỏng, hoạt động và lập lờ, yêu và ghét, vui vẻ
và chán nản, hấp tấp và bình tĩnh, cáu bẳn và bình ổn Tính hai cực có nguồn
gốc ở cơ chế sinh lý, nhưng nó có nguyên nhân xã hội. Nếu phân tích theo cơ
chế sinh lý thì tính nết là kết quả của hoạt động phối hợp của vỏ đại não và
thần kinh giao cảm dưới lớp vỏ đó. Ở tuổi dậy thì chức năng nội tiết phát triển

Trong đặc điểm tâm, sinh lý của người chưa thành niên phạm tội thì
có hai khuynh hướng nổi bật liên quan tới việc thực hiện tội phạm và khả
năng giáo dục cải tạo họ. Họ dễ bị kích động, thúc đẩy vào việc thực hiện tội
phạm nhưng cũng dễ uốn nắn, cải tạo, giáo dục thành người có ích cho xã hội.
Những biểu hiện về nhận thức, tình cảm, hành động của lứa tuổi chưa
thành niên phạm tội là rất yếu kém. Để giáo dục, cải tạo những đối tượng này, 12
cần có sự quan tâm sát sao, tỷ mỷ của gia đình, nhà trường, các tổ chức đoàn
thể, chính quyền địa phương và của toàn xã hội. Trong đó sự giáo dục của gia
đình đóng một vai trò rất quan trọng. Bởi gia đình là môi trường tự nhiên cho
sự phát triển của người chưa thành niên. Trong gia đình, họ được học tập các
chuẩn mực và giá trị văn hóa. Gia đình có trách nhiệm đầu tiên trong việc
nuôi nấng, bảo vệ, giáo dục, chăm sóc người chưa thành niên.
1.2. KHÁI NIỆM NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI VÀ HÌNH
THỨC XỬ LÝ NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI
1.2.1. Khái niệm
Trong pháp luật hình sự Việt Nam, người chưa thành niên phạm tội
chỉ bao gồm những người đã đủ 14 tuổi nhưng chưa đủ 18 tuổi thực hiện hành
vi nguy hiểm cho xã hội được luật hình sự quy định là tội phạm. Điều 12 Bộ
luật Hình sự quy định:
1. Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự
về mọi tội phạm.
2. Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi phải
chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc
tội phạm đặc biệt nghiêm trọng [31].
Điều 68, Chương X: Những quy định đối với người chưa thành niên
phạm tội, Bộ luật Hình sự quy định: "Người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi
đến dưới 18 tuổi phạm tội phải chịu tránh nhiệm hình sự theo những quy định

1.2.2. Hình thức xử lý người chưa thành niên phạm tội
Người chưa thành niên phạm tội, tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm
của họ, có thể bị xử lý bằng các biện pháp chính thức là hành chính hoặc hình
sự hoặc các biện pháp không chính thức.
1.2.2.1. Nguyên tắc xử lý 14
Một nguyên tắc tối cao trong việc xử lý người chưa thành niên phạm
tội là phải luôn quan tâm, bảo đảm lợi ích tốt nhất cho các em.
Theo quy định của Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính (tại các điều 7,
23, 24, 26) thì người chưa thành niên từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi vi phạm hành
chính chỉ bị phạt cảnh cáo; người chưa thành niên từ đủ 16 tuổi trở lên vi
phạm hành chính thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà có thể bị phạt
cảnh cáo hoặc phạt tiền với mức phạt không quá một phần hai mức phạt đối
với người thành niên hoặc bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị
trấn, đưa vào trường giáo dưỡng hoặc đưa vào cơ sở chữa bệnh.
Việc xử lý người chưa thành niên phạm tội phải đáp ứng được mục
đích chính là giáo dục, giúp đỡ các em sửa chữa sai lầm và trở thành người có
ích cho xã hội. Tinh thần này được thể hiện từ trong Luật Bảo vệ, chăm sóc
và giáo dục trẻ em năm 2004 (Điều 58) và Bộ luật Hình sự năm 1999 (Điều
69). Theo đó, việc xử lý người chưa thành niên vi phạm nói chung và phạm
tội nói riêng chủ yếu nhằm giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển
lành mạnh và trở thành công dân có ích cho xã hội. Các em được gia đình,
nhà trường và xã hội giáo dục, giúp đỡ để sửa chữa sai lầm, có ý thức tôn
trọng pháp luật, tôn trọng quy tắc của đời sống xã hội và sống có trách nhiệm
với bản thân, gia đình và xã hội. Việc tổ chức giáo dục trẻ em vi phạm pháp
luật chủ yếu được thực hiện tại cộng đồng hoặc đưa vào trường giáo dưỡng.
Việc truy cứu trách nhiệm hình sự người chưa thành niên phạm tội và
áp dụng hình phạt đối với họ được thực hiện chỉ trong trường hợp cần thiết và

tính giáo dục, phòng ngừa. Cụ thể:
1. Người chưa thành niên từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm
hình sự về mọi tội phạm; người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 16
tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng (tức tội
phạm có mức cao nhất của khung hình phạt do luật định là từ trên 7 năm đến 16
15 năm tù) do cố ý và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng (tức tội phạm có mức
cao nhất của khung hình phạt do luật định là trên 15 năm tù, tù chung thân
hoặc tử hình).
2. Không áp dụng hình phạt tù chung thân và tử hình đối với người
chưa thành niên phạm tội. Nếu trong khung hình phạt được áp dụng có quy
định hình phạt tù chung thân hoặc tử hình, thì mức hình phạt tù có thời hạn
cao nhất được áp dụng là không quá 18 năm (đối với người chưa thành niên
từ đủ 16 tuổi trở lên khi phạm tội) hoặc 12 năm (đối với người chưa thành
niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi khi phạm tội).
3. Mức phạt tù có thời hạn áp dụng đối với người chưa thành niên
phạm tội cũng nhẹ hơn so với người đã thành niên. Cụ thể là mức phạt tù có
thời hạn cao nhất được áp dụng là không quá ba phần tư (đối với người chưa
thành niên từ đủ 16 tuổi trở lên khi phạm tội) hoặc một phần hai (đối với
người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi khi phạm tội) mức phạt
tù mà điều luật quy định.
4. Thời hạn cải tạo không giam giữ đối với người chưa thành niên
phạm tội không quá một phần hai thời hạn mà điều luật quy định và người
chưa thành niên bị phạt cải tạo không giam giữ không bị khấu trừ thu nhập.
5. Không áp dụng hình phạt tiền đối với người chưa thành niên phạm
tội ở độ tuổi từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi. Phạt tiền là hình phạt chính chỉ áp
dụng đối với người chưa thành niên phạm tội từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi,
nếu các em có thu nhập hoặc có tài sản riêng. Mức phạt tiền không quá một

người có những hiểu biết cần thiết về tâm lý học, khoa học giáo dục cũng như
về hoạt động đấu tranh phòng, chống tội phạm của người chưa thành niên,
đồng thời, thành phần Hội đồng xét xử bắt buộc phải có một Hội thẩm là giáo
viên hoặc cán bộ Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh (Điều 302 và 307). 18
Thứ tư, để bảo đảm bí mật đời tư cho người chưa thành niên, Bộ luật
Tố tụng hình sự quy định trong trường hợp cần thiết thì Tòa án có thể xét xử
kín vụ án người chưa thành niên phạm tội.
Xử lý không chính thức
Đối với những hành vi vi phạm pháp luật của người chưa thành niên
thì ngoài các biện pháp xử lý mang tính quyền lực nhà nước là xử lý vi phạm
hành chính và xử lý hình sự (hay còn gọi là biện pháp xử lý chính thức) như
đó nêu trên, còn có các biện pháp xử lý khác không mang tính quyền lực nhà
nước (hay còn gọi là biện pháp xử lý không chính thức) như: hoà giải, xử lý
kỷ luật của nhà trường,… Các biện pháp xử lý này được áp dụng trong những
trường hợp để giải quyết những vi phạm nhỏ nhặt, các tranh chấp, mâu thuẫn
xảy ra trong cuộc sống hàng ngày.
1.3. CÁC NGUYÊN TẮC XỬ LÝ NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI
Các nguyên tắc xử lý người chưa thành niên phạm tội xuất phát từ quá
trình nhận thức của các nhà làm luật về đối tượng này và từ các chính sách
chung của pháp luật hình sự. Các nguyên tắc đó là tư tưởng chỉ đạo, cơ bản,
định hướng cho toàn bộ hoạt động tư pháp của cơ quan nhà nước và những
người có thẩm quyền trong vấn đề xử lý người chưa thành niên phạm tội.
Việc thực hiện đúng các nguyên tắc này không chỉ có ý nghĩa pháp lý mà còn
đảm bảo đúng các nguyên tắc nói chung của luật hình sự như nguyên tắc pháp
chế, nguyên tắc công bằng và nguyên tắc nhân đạo xã hội chủ nghĩa.
Lịch sử phát triển pháp luật từ sau Cách mạng tháng Tám tới nay, điều
dễ nhận thấy là cùng với sự quan tâm đặc biệt đến thế hệ trẻ, pháp luật nói

biệt đối với những người chưa thành niên phạm tội, nhà làm luật xuất phát từ
những căn cứ sau đây:
Một là, thừa nhận người chưa thành niên là một nhóm nhân khẩu-xã
hội đặc thù, cần phải được sự bảo trợ của pháp luật nói chung và pháp luật
hình sự nói riêng. Sự bảo trợ đặc biệt này không chỉ khi người chưa thành

Trích đoạn Hỡnh phạt tiền Hỡnh phạt cải tạo khụng giam giữ Khỏi niệm, đặc điểm Hỡnh phạt tự ỏp dụng đối với người chưa thành niờn phạm tộ THỰC TIỄN ÁP DỤNG HèNH PHẠT TÙ ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIấN PHẠM TỘI Ở NƯỚC TA GIAI ĐOẠN 2006
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status