TRƢỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
BỘ MÔN LUẬT TƯ PHÁP
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
Niên Khóa (2008 - 2012)
Đề Tài:
QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT HÌNH SỰ
VỀ NGƢỜI CHƢA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI
LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
Giáo viên hướng dẫn:
Sinh viên thực hiện:
NGUYỄN CHÍ HIẾU
Bộ môn: Luật Tƣ Pháp
NGUYỄN THỊ NGỌC HUYỀN
MSSV: 5086038
Lớp: Tƣ Pháp I - K34
Cần Thơ, Tháng 04/2012
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU ................................................................................................................................. 1
1. Lý do chọn đề tài ......................................................................................................................... 1
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài ................................................................................................... 2
2.1.1. Tội phạm chưa thành niên tăng dần theo từng năm và trẻ hóa đối tượng
phạm tội .................................................................................................................... 40
2.1.2. Vấn đề về nhân thân của người chưa thành niên phạm tội ................... 46
2.1.3 Tội phạm do người chưa thành niên thực hiện ngày càng nghiêm trọng ...
................................................................................................................................... 49
2.1.4. Xu hướng dùng hung khí nguy hiểm của người chưa thành niên phạm
tội .............................................................................................................................. 53
2.1.5. Xu hướng hoạt động theo băng nhóm của người chưa thành niên phạm
tội .............................................................................................................................. 54
2.2. Đánh giá tính hợp lý của quy định pháp luật hình sự đối với người chưa thành
niên phạm tội trong giai đoạn hiện nay ..................................................................... 56
2.2.1. Về vấn đề tuổi chịu trách nhiệm hình sự của người chưa thành niên ... 56
2.2.1.1. BLHS hiện hành mâu thuẩn trong vấn đề tuổi chịu trách nhiệm
hình sự của người chưa thành niên ........................................................................... 56
2.2.1.2. Tuổi chịu trách nhiệm hình sự trong BLHS hiện hành không còn
phù hợp với thực tế xã hội và tình hình người chưa thành niên phạm tội hiện nay . 57
2.2.2. Về vấn đề hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội .............. 61
2.2.2.1. Hình phạt tiền không phù hợp, không đảm bảo được mục đích
bảo vệ người chưa thành niên phạm tội .................................................................... 61
2.2.2.2. Hình phạt tù có thời hạn chưa hợp lý, không đảm bảo được mục
đích giáo dục, răn đe người chưa thành niên ........................................................... 61
2.2.3. Về vấn đề áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội . 66
2.2.3.1. Vấn đề áp dụng điều 47 BLHS 1999 khi quyết định hình phạt tù
có thời hạn đối với người chưa thành niên phạm tội ................................................ 66
2.2.3.2. Vấn đề tổng hợp hình phạt đối với người chưa thành niên phạm
tội............................................................................................................................... 69
CHƢƠNG III. HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT HÌNH SỰ ĐỐI VỚI
NGƢỜI CHƢA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI TRONG THỜI GIAN TỚI ....... 71
...........................................................................................................
...........................................................................................................
...........................................................................................................
...........................................................................................................
...........................................................................................................
...........................................................................................................
...........................................................................................................
...........................................................................................................
...........................................................................................................
...........................................................................................................
...........................................................................................................
...........................................................................................................
...........................................................................................................
...........................................................................................................
...........................................................................................................
NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN PHẢN BIỆN
...........................................................................................................
...........................................................................................................
...........................................................................................................
...........................................................................................................
...........................................................................................................
...........................................................................................................
...........................................................................................................
...........................................................................................................
...........................................................................................................
...........................................................................................................
...........................................................................................................
...........................................................................................................
hay cái tốt mà sa vào lối sống ăn chơi, buông thả…và dần trở thành tội phạm.
Hiện nay, tình trạng người chưa thành niên phạm tội ở Việt Nam cũng như ở
các quốc gia khác có xu hướng gia tăng. Thực tế này đã trở thành mối quan tâm, lo
ngại của đất nước ta nói riêng và của nhiều quốc gia khác trong khu vực cũng như
trên thế giới nói chung. Hành vi phạm tội của người chưa thành niên có tác hại to
lớn. Bởi vì, một mặt nó gây ra hậu quả nguy hiểm cho xã hội, mặt khác hành vi đó
còn hủy hoại nhân cách của một bộ phận thế hệ trẻ - thế hệ tiềm năng của đất nước.
Chúng ta thấy việc người chưa thành niên phạm tội hiện nay không chỉ tăng
về số lượng mà còn phổ biến cả về hình thức, từ những tệ nạn thông thường như: cờ
bạc, hút chích, trộm cắp, cướp giật cho đến vấn đề bạo lực học đường đang gây
nhức nhối trong xã hội hiện nay và nguy hại hơn cả là việc người chưa thành niên
phạm tội hình sự ngày càng phổ biến, thậm chí là các tội đặc biệt nghiêm trọng với
những thủ đoạn vô cùng nguy hiểm gây hậu quả to lớn.
Chính vì lẽ đó, mà trải qua các thời kỳ, nhà nước ta đã đặc biệt quan tâm đến
những người chưa thành niên này để hướng họ đến một lối sống có ích hơn. Để
thực hiện được mục tiêu giáo dục người chưa thành niên, không phải là nhiệm vụ
của cá nhân hay một tập thể nào đó mà là của cả một cộng đồng, một xã hội. Trong
GVHD: NGUYỄN CHÍ HIẾU
1
SVTH: NGUYỄN THỊ NGỌC HUYỀN
Quy định pháp luật hình sự về người chưa thành niên phạm tội. Lý luận và thực tiễn
đó có gia đình, có nhà trường và một vai trò hết sức quan trọng đó là vai trò của
pháp luật. Một khi người chưa thành niên phạm tội, vẫn phải chịu trách nhiệm hình
sự theo quy định của pháp luật, vì pháp luật có giá trị giáo dục, răn đe và có hiệu
hình sự trong thời điểm hiện tại và phân tích những hệ quả của pháp luật hình sự
GVHD: NGUYỄN CHÍ HIẾU
2
SVTH: NGUYỄN THỊ NGỌC HUYỀN
Quy định pháp luật hình sự về người chưa thành niên phạm tội. Lý luận và thực tiễn
sau các vụ án có tội phạm là người chưa thành niên trong thời gian qua. Sau khi
phân tích những vấn đề trên người viết sẽ đề ra những giải pháp thiết thực để hoàn
thiện quy định của pháp luật hình sự về người chưa thành niên phạm tội.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu để có được những thông tin cần thiết người viết
đã sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau để tiếp cận vấn đề như:
- Phương pháp phân tích số liệu thống kê, tổng hợp từ thực tế. Từ việc phân
tích những số liệu thống kê và tổng hợp, người viết có cơ sở để chứng minh những
vấn đề đã đưa ra.
- Tham khảo những ý kiến của những nhà nghiên cứu, của các luật gia thông
qua các phương tiện thông tin như sách, báo, tạp chí, website… để xử lý tổng hợp
những thông tin cần thiết nhằm phục vụ việc nghiên cứu từ đó phân tích, bình luận
và đưa ra ý kiến của bản thân để giải quyết vấn đề cần nghiên cứu.
5. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần lời nói đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, phần nội
dung chính của đề tài gồm 3 chương với kết cấu bao gồm:
Chƣơng 1: Lý luận chung về quy định pháp luật hình sự đối với người chưa thành
niên phạm tội.
Chƣơng 2: Đánh giá tính hợp lý của quy định pháp luật hình sự đối với người
chưa thành niên phạm tội trong thực tiễn.
GVHD: NGUYỄN CHÍ HIẾU
4
SVTH: NGUYỄN THỊ NGỌC HUYỀN
Quy định pháp luật hình sự về người chưa thành niên phạm tội. Lý luận và thực tiễn
CHƢƠNG 1
LÝ LUẬN CHUNG
VỀ QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT HÌNH SỰ
ĐỐI VỚI NGƢỜI CHƢA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI
Như chúng ta đã biết, trong đời sống xã hội, pháp luật có vai trò đặc biệt
quan trọng. Nó là phương tiện không thể thiếu bảo đảm cho sự tồn tại, vận hành
bình thường của xã hội nói chung và của nền đạo đức nói riêng. Pháp luật không chỉ
là một công cụ quản lý Nhà nước hữu hiệu, mà còn tạo môi trường thuận lợi cho sự
phát triển của ý thức đạo đức, làm lành mạnh hóa đời sống xã hội và góp phần bồi
đắp nên những giá trị mới trong cuộc sống. Đấy chính là vai trò không thể thiếu của
pháp luật trong xã hội của trước đây, của hiện tại cũng như tương lai.
Nói chung pháp luật có vai trò quan trọng trong tất cả các lĩnh vực của đời
sống xã hội, nó ảnh hưởng trực tiếp đến mỗi chủ thể từ cá nhân đến tập thể trong
việc điều chỉnh hành vi của họ. Trong số các chủ thể ấy có một dạng chủ thể đặc
biệt cần phải được pháp luật bảo vệ cũng như có những chính sách riêng để điều
chỉnh hành vi của họ và để xử lý khi họ có hành vi phạm tội, chủ thể ấy chính là
Người chưa thành niên. Vậy, để biết được tại sao cần thiết phải có quy định pháp
luật đối với người chưa thành niên phạm tội, trước hết chúng ta cần hiểu khái quát
về người chưa thành niên.
1.1. Khái quát chung về ngƣời chƣa thành niên
15 – 16 tuổi, nữ từ 13 – 15 tuổi.
+ Giai đoạn cuối vị thành niên tương đương với lứa tuổi đầu thanh niên:
Nam từ 17 – 18 tuổi, nữ từ 16 – 18 tuổi.
- Theo chương trình sức khỏe sinh sản, sức khỏe tình dục vị thành niên –
thanh niên của khối Liên minh Châu Âu lấy độ tuổi từ 15 – 24 tuổi.
* Khái niệm ngƣời chƣa thành niên tại Việt Nam
Ở Việt Nam, độ tuổi người chưa thành niên được xác định thống nhất như
sau:
- Theo từ điển Bách khoa Việt Nam: Trong Pháp luật hình sự và dân sự, vị
thành niên được hiểu là người chưa đủ 18 tuổi.
- Hội Kế Hoạch Hóa Gia Đình Việt Nam xác định vị thành niên, thanh niên
là từ 10 đến 24 tuổi. Trong đó tuổi vị thành niên được chia làm 2 giai đoạn2:
+ Giai đoạn đầu từ 10 – 14 tuổi.
+ Giai đoạn sau từ 15 – 18 tuổi.
- Trong Bộ luật Hình sự năm 1999 được sửa đổi bổ sung năm 2009 (sau đây
gọi tắt là BLHS 1999), tại Điều 68 có quy định: “Người chưa thành niên từ đủ 14
tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự theo những quy định
của Chương này, đồng thời theo những quy định khác của Phần chung Bộ luật
không trái với những quy định của Chương này.”
- Trong Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003, tại chương XXXII: Thủ tục tố
tụng đối với người chưa thành niên, cũng đề cập 2 nhóm: Từ đủ 14 tuổi đến dưới 16
tuổi và từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi.
2
Khái niệm về người chưa thành niên tại Việt Nam – www.dantri.com.vn – [26-5-2009]
GVHD: NGUYỄN CHÍ HIẾU
6
1.1.2. Đặc điểm cơ bản về tâm – sinh lý của ngƣời chƣa thành niên
* Đặc điểm sinh lý của ngƣời chƣa thành niên
Trẻ em bước vào tuổi Vị thành niên bằng những dấu hiệu của tuổi dậy thì.
Tuổi dậy thì đối với nữ được tính từ khi xuất hiện kinh nguyệt lần đầu tiên (khoảng
13 – 14 tuổi), còn đối với nam kể từ khi xuất tinh lần đầu tiên (khoảng 14 – 15
tuổi). Các nhà Dân số học cho biết, ngày nay đối với toàn thế giới tuổi dậy thì đến
GVHD: NGUYỄN CHÍ HIẾU
7
SVTH: NGUYỄN THỊ NGỌC HUYỀN
Quy định pháp luật hình sự về người chưa thành niên phạm tội. Lý luận và thực tiễn
sớm hơn nhiều: nữ lên 10, nam 12 – 13, trường hợp cá biệt có thể đến sớm hơn
hoặc muộn hơn bình thường3.
Chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy được những sự thay đổi của người chưa
thành niên. Đầu tiên là sự phát triển về chiều cao của cơ thể, nhưng không phải cá
nhân nào cũng giống nhau bởi sự phát triển này còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố
như: yếu tố di truyền, chế độ ăn uống… Bước vào giai đoạn này cơ thể họ bắt đầu
có sự tiết mở ở ngực, chậu hông và đằng sau vai, đối với các em trai còn có sự tiết
mỡ ở các khối cơ.
Nói tóm lại: Khi bước vào giai đoạn này cơ thể của người chưa thành niên có
nhiều thay đổi và phát triển rất phức tạp. Làm tác động đến hình dáng bên ngoài của
họ rất nhanh chóng, đôi khi sự phát triển quá nhanh làm bản thân họ trở nên lúng
túng. Vì thế họ cần được tư vấn để giúp cơ thể phát triển tốt và tránh những tác
nhân xấu ảnh hưởng để lại nhiều hậu quả cho họ sau này.
* Đặc điểm tâm lý của ngƣời chƣa thành niên
Quy định pháp luật hình sự về người chưa thành niên phạm tội. Lý luận và thực tiễn
Những người chưa thành niên ở độ tuổi này thường cần bạn bè và tin tưởng
bạn bè nhiều hơn là gia đình, cha mẹ. Vấn đề ở đây, không chỉ là cần có bạn, mà
còn phải được bạn thừa nhận.
- Xác định bản sắc riêng:
Tùy từng giai đoạn, thời kỳ và lứa tuổi, người chưa thành niên có những biểu
hiện khác nhau. Nhưng ở giai đoạn này, họ rất thích sáng tạo, rất muốn chọn lựa
cho mình một bản sắc riêng, độc đáo và siêu việt.
- Định hướng nghề nghiệp:
Ở độ tuổi này, đa phần những người chưa thành niên chưa thể xác định được
nghề nghiệp tương lai của mình, luôn luôn phân vân và gặp rắc rối trong việc lựa
chọn nghề nghiệp tương lai vì nhiều lý do từ gia đình, xã hội đặc biệt là điều kiện
kinh tế, hoàn cảnh gia đình.
Ngoài ra ở tuổi này cũng xuất hiện những phẩm chất tâm lý có ảnh hưởng
tiêu cực đến nhận thức tình cảm và ý chí của họ như: Tính hung bạo, tính e thẹn, dễ
cáo giận, nhút nhát… Nhiều người chưa thành niên tỏ ra bướng bỉnh trước sự tác
động của người lớn, chống đối và phản kháng, thậm chí thô bạo, ngang ngược, lầm
lì… Những đặc điểm đó là nguyên nhân dẫn đến nhiều hành vi mang tính bạo lực
của họ.
Tóm lại: Ở tuổi chưa thành niên, những tiền đề cơ bản của một nhân cách
hoàn chỉnh đang được tạo thành. Vì vậy sự biến đổi trong thời kỳ này là vô cùng
quan trọng cần phải được chú ý đến. Sự phát triển này có tính mạnh mẽ và nhảy vọt
nếu không chú ý đến quá trình giáo dục, phòng ngừa thì sự hình thành nhân cách đó
sẽ diễn ra một cách tự phát gây khó khăn trong công tác giáo dục, cho quan hệ giữa
trẻ em và người lớn nên có một số cá nhân vi phạm pháp luật và trở thành tội phạm.
1.1.3. Vai trò của ngƣời chƣa thành niên
Sinh ra và lớn lên cùng với sự chuyển biến mạnh mẽ trên mọi lĩnh vực của
đời sống kinh tế xã hội, người chưa thành niên ở nước ta vừa là những người chứng
nhiều lần.
Trong Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 của Ban chấp hành Trung ương Đảng
khóa X về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thanh niên thời kỳ đẩy
mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa cũng nêu rõ: “Thanh niên là rường cột của
nước nhà, là lực lượng xung kích trong xây dựng và bảo vệ tổ quốc, một trong
những nhân tố quyết định sự thành bại của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước, hội nhập quốc tế và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Thanh niên được đặt
ở vị trí trung tâm trong chiến lược bồi dưỡng, phát huy nhân tố và nguồn lực con
người. Chăm lo, phát triển thanh niên vừa là mục tiêu, vừa là động lực bảo đảm
cho sự ổn định và phát triển bền vững của đất nước”.5
Qua đó, chúng ta có thể thấy được tầm quan trọng của những người chưa
thành niên đối với gia đình nói riêng và đối với xã hội nói chung. Vai trò của họ thể
hiện ở mọi khía cạnh của đời sống, không những sẽ là những người đóng góp kinh
tế để làm giàu cho gia đình, là lực lượng lao động chính của xã hội trong tương lai,
là lớp kế thừa và tiếp nối truyền thống của đất nước, của dân tộc, là đội ngũ thanh
niên tiên tiến, đáng tin cậy của Đảng và Nhà nước trong công cuộc xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc mà họ còn là những công dân ưu tú góp phần xây dựng xã hội giàu
mạnh và xây dựng đất nước phồn vinh sánh vai với các cường quốc trên thế giới.
5
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 cùa Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa X.
GVHD: NGUYỄN CHÍ HIẾU
10
SVTH: NGUYỄN THỊ NGỌC HUYỀN
phạm.
Thực tế cho thấy người chưa thành niên phạm tội còn rất non nớt về kiến
thức xã hội và ý thức pháp luật. Nhận thức và quan niệm về pháp luật đã không
được hình thành hoặc bị lệch lạc theo cách hiểu chủ quan của họ. Những yêu cầu
nghiêm ngặt của pháp luật đã trở nên lỏng lẻo, không mang tính chế ước cụ thể đối
với họ. Vì thế họ thường thờ ơ, lãnh đạm, coi thường pháp luật. Một biểu hiện khác
của sự lệch lạc trong nhận thức về pháp luật của người chưa thành niên phạm tội là
họ cho rằng những điều cấm đó chỉ quy định trong các văn bản pháp luật hoàn toàn
mang tính hình thức, còn hành động thì phải căn cứ vào nhu cầu cụ thể của cá nhân
mới thể hiện được cuộc sống. Cũng chính vì vậy, rất nhiều người chưa thành niên
thực hiện hành vi phạm tội đặc biệt nghiêm trọng nhưng lại không biết rằng mình
phạm tội, không thấy được tính chất nguy hiểm đối với xã hội của những hành vi do
GVHD: NGUYỄN CHÍ HIẾU
11
SVTH: NGUYỄN THỊ NGỌC HUYỀN
Quy định pháp luật hình sự về người chưa thành niên phạm tội. Lý luận và thực tiễn
mình gây ra. Họ luôn cho rằng hành vi của mình là hợp pháp, là tự vệ hoặc là để
bảo vệ quyền lợi hợp pháp của họ.
Chính vì những lẽ trên mà pháp luật hình sự cần dành những quy định riêng
đối với người chưa thành niên phạm tội.
1.2.1. Tuổi phạm tội của ngƣời chƣa thành niên theo quy định của pháp luật
Việt Nam
Ở Việt Nam, các nhà làm luật cũng đưa ra các điều luật để làm rõ khái niệm
người chưa thành niên phạm tội để phòng ngừa tội phạm bằng biện pháp tư pháp
Quy định pháp luật hình sự về người chưa thành niên phạm tội. Lý luận và thực tiễn
“1- Người từ 14 tuổi trở lên nhưng chưa đủ 16 tuổi phải trách nhiệm hình sự
về những tội phạm nghiêm trọng do cố ý.
2- Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội
phạm.”
Đến khi ra đời BLHS 1999 chế định về độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự của
người chưa thành niên phạm tội tiếp tục được quy định tại Điều 12 “Tuổi chịu trách
nhiệm hình sự” thuộc Chương III “TỘI PHẠM” cụ thể:
“1. Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội
phạm.
2. Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm
hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm
trọng.”
Việc quy định này là hợp lí bởi tuổi chịu trách nhiệm hình sự là một dấu hiệu
thuộc chủ thể tội phạm và vì vậy nó phải được quy định liền với các dấu hiệu khác
của tội phạm thuộc chương “Tội phạm”.
Ngoài ra, chế định độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự của người chưa thành
niên còn được BLHS 1999 quy định tại Điều 68 “Áp dụng Bộ luật hình sự đối với
người chưa thành niên phạm tội” thuộc Chương X “NHỮNG QUY ĐỊNH ĐỐI VỚI
NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI”.
“Người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội phải chịu
trách nhiệm hình sự theo những quy định của Chương này, đồng thời theo những
quy định khác của Phần chung Bộ luật không trái với những quy định của Chương
này.”
Qua đó ta thấy, từ khi ban hành Bộ luật Hình sự 1985 cho đến khi ban hành
BLHS 1999 chế định về độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự của người chưa thành
niên phạm tội theo quy định của pháp luật Việt Nam vẫn là từ đủ 14 tuổi. Những
đủ 14 tuổi trở lên nhưng chưa đủ 16 tuổi được quy định tại khoản 2 Điều 12 BLHS
với nội dung họ phải chịu trách nhiệm hình sự về các tội rất nghiêm trọng do cố ý
hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng (không phụ thuộc nó được thực hiện bởi lỗi cố
ý hay vô ý). So sánh hai quy định trên đây thì thấy luật hình sự hiện hành đã mở
rộng phạm vi áp dụng trách nhiệm hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội
ở lứa tuổi từ đủ 14 tuổi trở lên nhưng chưa đủ 16 tuổi. Giờ đây từ sau khi BLHS
1999 có hiệu lực pháp luật, nếu một người từ đủ 14 tuổi trở lên nhưng chưa đủ 16
tuổi thực hiện một tội phạm đặc biệt nghiêm trọng mặc dù với lỗi vô ý vẫn không
được loại trừ trách nhiệm hình sự.
1.2.2. Nguyên tắc xử lý đối với ngƣời chƣa thành niên phạm tội
Pháp luật hình sự Việt Nam đã đặt ra những nguyên tắc riêng khi xử lý hành
vi phạm tội của người chưa thành niên. Ở đây người viết tập trung phân tích những
nguyên tắc xử lý được quy định trong BLHS 1999. Những nguyên tắc cơ bản ấy
được quy định tại Điều 69 BLHS “Nguyên tắc xử lý đối với người chưa thành niên
phạm tội”
* Nguyên tắc thứ nhất: “Việc xử lí người chưa thành niên phạm tội chủ
yếu nhằm giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh và trở
thành công dân có ích cho xã hội.
Trong mọi trường hợp điều tra, truy tố, xét xử hành vi phạm tội của người
chưa thành niên, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải xác định khả năng
nhận thức của họ về tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nguyên
GVHD: NGUYỄN CHÍ HIẾU
14
SVTH: NGUYỄN THỊ NGỌC HUYỀN
Quy định pháp luật hình sự về người chưa thành niên phạm tội. Lý luận và thực tiễn
nhân thân khác của người chưa thành niên chịu chi phối bởi những quy định, bởi
nền giáo dục, đào tạo của gia đình, nhà trường, xã hội. Nguyên nhân và điều kiện
dẫn đến người chưa thành niên phạm tội phần lớn do môi trường sống của họ tạo ra.
Vì vậy, khi điều tra, truy tố, xét xử hành vi phạm tội của người chưa thành niên, các
cơ quan có thẩm quyền không những phải xác định năng lực trách nhiệm hình sự
GVHD: NGUYỄN CHÍ HIẾU
15
SVTH: NGUYỄN THỊ NGỌC HUYỀN
Quy định pháp luật hình sự về người chưa thành niên phạm tội. Lý luận và thực tiễn
của họ mà còn phải xác định nguyên nhân, điều kiện phạm tội từ đó để đưa ra giải
pháp thích hợp, nhằm cải tạo, giáo dục người chưa thành niên phạm tội có hiệu quả.
Nguyên tắc này cũng phù hợp với yêu cầu tại Điều 40 Công ước Quốc tế về
quyền trẻ em6.
* Nguyên tắc thứ hai: “Người chưa thành niên phạm tội có thể được miễn
trách nhiệm hình sự, nếu người đó phạm tội ít nghiêm trọng hoặc tội nghiêm trọng,
gây hại không lớn, có nhiều tình tiết giảm nhẹ và được gia đình hoặc cơ quan, tổ
chức nhận giám sát, giáo dục”. (Khoản 2 Điều 69 BLHS 1999)
Theo nguyên tắc này, người chưa thành niên phạm tội được miễn trách
nhiệm hình sự khoan hồng hơn so với quy định về miễn trách nhiệm hình sự đối
với người đã thành niên.
Xuất phát từ mục đích xử lý tội phạm chưa thành niên là nhằm giáo dục,
giúp đỡ họ có cơ hội sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh và trở thành công dân
tốt cho xã hội. Vì vậy đối với người chưa thành niên phạm tội có thể miễn trách
nhiệm hình sự và đưa về gia đình hoặc cơ quan, tổ chức nhận giám sát, giáo dục
Quy định pháp luật hình sự về người chưa thành niên phạm tội. Lý luận và thực tiễn
- Hậu quả của tội phạm không lớn.
- Có nhiều tình tiết giảm nhẹ.
- Được gia đình hoặc cơ quan, tổ chức nhận giám sát, giáo dục.
* Nguyên tắc thứ ba: “Việc truy cứu trách nhiệm hình sự người chưa
thành niên phạm tội và áp dụng hình phạt đối với họ được thực hiện chỉ trong
trường hợp cần thiết và phải căn cứ vào tính chất của hành vi phạm tội, vào những
đặc điểm về nhân thân và yêu cầu của việc phòng ngừa tội phạm”.(Khoản 3 Điều
69 BLHS 1999)
Khi xử lý đối với người chưa thành niên phạm tội được tiến hành theo những
nguyên tắc đặc biệt, trên tinh thần lấy giáo dục, phòng ngừa là chính, chỉ đưa những
người này ra xét xử và áp dụng hình phạt đối với họ trong những trường hợp thật
cần thiết và phải căn cứ vào tính chất mức độ nghiêm trọng của hành vi, những đặc
điểm về nhân thân và yêu cầu của việc đấu tranh phòng ngừa tội phạm.
Cùng với nguyên tắc thứ nhất, nguyên tắc thứ ba đặt yêu cầu và giới hạn
phạm vi những trường hợp cần truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người chưa
thành niên phạm tội. Pháp luật Việt Nam không đặt vấn đề truy cứu trách nhiệm
hình sự đối với mọi trường hợp người chưa thành niên phạm tội mà chỉ tiến hành
việc làm này trong những trường hợp “cần thiết”. Sự “cần thiết” hay “không cần
thiết” ở đây xác định dựa trên cơ sở căn cứ vào:
- Tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội đã thực hiện. Nếu
hành vi phạm tội của người chưa thành niên có tính chất không lớn thì không cần
thiết phải truy cứu trách nhiệm hình sự đối với họ.
- Đặc điểm nhân thân người chưa thành niên phạm tội. Nếu người chưa
thành niên lần đầu phạm tội, có nhân thân tốt thì cần thiết phải cân nhắc việc có
truy cứu trách nhiệm hình sự đối với họ hay không.
- Yêu cầu cụ thể của việc phòng ngừa tội phạm đối với bản thân người chưa
thành niên phạm tội và đối với người khác trong xã hội.
với người chưa thành niên phạm tội.
Khi áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội cần hạn chế
áp dụng hình phạt tù. Khi xử phạt tù có thời hạn, Toà án cho người chưa thành
niên phạm tội được hưởng mức án nhẹ hơn mức án áp dụng đối với người đã thành
niên phạm tội tương ứng.
Không áp dụng hình phạt tiền đối với người chưa thành niên phạm tội ở độ
tuổi từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với người chưa thành niên phạm tội”.
(Khoản 5 Điều 69 BLHS 1999)
Việc truy cứu trách nhiệm hình sự và áp dụng hình phạt đối với người chưa
thành niên phạm tội chỉ thực hiện trong trường hợp thực sự cần thiết và phải xem
xét đến khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của họ, nguyên nhân và điều
kiện phạm tội. Một số loại hình phạt đặc biệt nghiêm khắc trong BLHS mang nặng
tính trừng trị hơn giáo dục như hình phạt tù chung thân hoặc tử hình thì không
được áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội. Việc áp dụng các hình phạt
này không đạt được mục đích “giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh
và trở thành công dân có ích cho xã hội” (Khoản 1 Điều 69 BLHS).
Cũng với lập luận trên, đối với người chưa thành niên phạm tội khi buộc
phải áp dụng hình phạt tù thì mức án dành cho họ phải thấp hơn so với người đã
thành niên.
GVHD: NGUYỄN CHÍ HIẾU
18
SVTH: NGUYỄN THỊ NGỌC HUYỀN
Quy định pháp luật hình sự về người chưa thành niên phạm tội. Lý luận và thực tiễn
Hầu hết người chưa thành niên ở độ tuổi từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi không có
tội trong trường hợp biện pháp xử lý đối với họ là hình phạt. Tuy nhiên, phạm tội
mới trong thời gian mang án tích không phải là căn cứ để xác định tái phạm, tái
phạm nguy hiểm trong trường hợp người phạm tội dưới 16 tuổi.
GVHD: NGUYỄN CHÍ HIẾU
19
SVTH: NGUYỄN THỊ NGỌC HUYỀN