I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT
NGUYN VIT H
Kiểm sát việc giải quyết tin báo tố giác về
tội phạm trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam
(Trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh Phú Thọ)
LUN VN THC S LUT HC
H NI - 2017
I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT
NGUYN VIT H
Kiểm sát việc giải quyết tin báo tố giác về
tội phạm trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam
(Trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh Phú Thọ)
Chuyờn ngnh: Lut hỡnh s v t tng hỡnh s
Mó s: 60 38 01 04
LUN VN THC S LUT HC
Cỏn b hng dn khoa hc: PGS.TS NGUYN NGC CH
H NI - 2017
Khái quát về tin báo, tố giác về tội phạm trong pháp luật tố
tụng hình sự ........................................................................................ 8
1.1.1. Khái niệm tin báo, tố giác về tội phạm ................................................ 8
1.1.2. Vai trò của tin báo, tố giác về tội phạm ............................................. 15
1.2.
Kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm của Viện
kiểm sát nhân dân ............................................................................ 19
1.2.1. Khái niệm kiểm sát hoạt động tư pháp............................................... 19
1.2.2. Khái niệm kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm
của Viện kiểm sát nhân dân ............................................................... 25
1.2.3. Đặc điểm kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm
của Viện kiếm sát nhân dân ............................................................... 27
1.3.
Quy định về kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm của
Viện kiểm sát nhân dân trước Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 ......... 32
1.3.1. Giai đoạn từ năm 1945 đến trước năm 1988 ...................................... 32
1.3.2. Giai đoạn từ năm 1988 đến trước năm 2003 ...................................... 34
Kết luận chương 1 ......................................................................................... 37
Chương 2: QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ NĂM
2003 VỀ KIỂM SÁT VIỆC GIẢI QUYẾT TIN BÁO, TỐ
GIÁC VỀ TỘI PHẠM VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH TẠI
TỈNH PHÚ THỌ .............................................................................. 38
2.1.
3.1.
Những điểm mới về kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác về
tội phạm của Viện kiểm sát nhân dân trong Bộ luật tố tụng
hình sự năm 2015............................................................................... 84
3.2.
Một số giải pháp tiếp tục hoàn thiện Bộ luật tố tụng hình sự năm
2015 về kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm ............ 91
3.3.
Một số giải pháp về tổ chức, thực hiện nhằm nâng cao hiệu
quả công tác kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác về tội
phạm của Viện kiểm sát nhân dân.................................................. 92
3.3.1. Những kiến nghị về đảm bảo công tác nghiệp vụ .............................. 92
3.3.2. Tăng cường quan hệ phối hợp giữa Cơ quan điều tra và Viện
kiểm sát............................................................................................... 94
3.3.3. Kiến nghị bảo đảo điều kiện vật chất và nhân lực cho hoạt động
của ngành kiểm sát nhân dân ............................................................. 95
3.3.4. Tăng cường công tác tổ chức, chỉ đạo, điều hành về nghiệp vụ
kiểm sát giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm................................. 96
3.3.5. Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong kiểm sát việc
giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm ............................................... 98
Kết luận chương 3 ....................................................................................... 100
KẾT LUẬN .................................................................................................. 101
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................... 103
DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu
Tên bảng
Trang
Bảng 2.1: Số liệu thụ lý án hình sự trên địa bàn tỉnh Phú Thọ từ
năm 2011 đến 2016
57
Bảng 2.2: Kết quả điều tra, truy tố, xét xử các vụ án hình sự trên
địa bàn tỉnh Phú Thọ từ năm 2011 đến năm 2016
58
Bảng 2.3: Tổng số tin báo, tố giác về tội phạm Viện kiểm sát nhân
dân tỉnh Phú Thọ đã kiểm sát việc giải quyết
60
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Phú Thọ là một tỉnh trung du miền núi phía Bắc với dân số khoảng
1,3 triệu người, 13 đơn vị hành chính cấp huyện và 277 đơn vị hành chính
quyết vụ án hình sự.
Sự ra đời của thông tư liên tịch số 06/2013/TTLT-VKSNDTC-BCABQP-BNNPTNT-BTC hướng dẫn quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự
(BLTTHS) về tiếp nhận, giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm và kiến nghị
khởi tố... là một bước ngoặt quan trọng trong hành lang pháp lý nhằm giúp
các cơ quan thống nhất nhận thức, áp dụng pháp luật, nâng cao chất lượng
hiệu quả trong công tác tiếp nhận, giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm và
kiến nghị khởi tố, đảm bảo đúng quy định tại Điều 103 BLTTHS năm 2003.
Tuy nhiên, trong thời gian qua, xuất phát từ một số nguyên nhân chủ
quan và khách quan khác nhau, công tác kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tin
báo, tố giác về tội phạm của VKSND các cấp tỉnh Phú Thọ đã bộc lộ những khó
khăn, vướng mắc nhất định như: vẫn chưa quản lý chặt chẽ, đầy đủ các tin báo,
tố giác về tội phạm; tình trạng vi phạm pháp luật về tiếp nhận, giải quyết tin
báo, tố giác về tội phạm của CQĐT vẫn còn xẩy ra nhưng chưa khắc
phục một cách hiệu quả; chất lượng công tác kiểm sát còn hạn chế, các cơ
quan tiến hành tố tụng trên địa bàn vẫn còn lúng túng khi thực hiện, dẫn đến
quá trình phối hợp giải quyết, đôi khi không có sự thống nhất, tình hình tội
phạm ẩn còn nhiều, lượng tin tồn, tin quá hạn giải quyết vẫn chiếm tỷ lệ
không nhỏ. Điều này chưa phát huy tốt nhất vai trò của Viện kiểm sát (VKS)
trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình.
Từ những lý do nêu trên, tác giả quyết định lựa chọn đề tài "Kiểm sát
việc giải quyết tin báo tố giác về tội phạm trong pháp luật tố tụng hình sự
Việt Nam (trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh Phú Thọ )" làm đề tài luận văn
thạc sĩ Luật học.
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Công tác kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm là giai
2
đoạn tiền đề, đóng vai trò then chốt, quyết định việc khởi tố hay không khởi
Các bài viết này mới luận giải một số vấn đề mang tính lý luận căn bản về
giải quyết tin báo, tố giác và kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác của
VKSND và đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác kiểm sát việc giải
quyết tố giác, tin báo về tội phạm mà chưa đi sâu phân tích thực trạng, nguyên
nhân của thực trạng công tác này.
Qua nghiên cứu tình hình trên cho thấy chưa có công trình khoa học
nào nghiên cứu một cách có hệ thống dưới góc độ kiểm sát việc giải quyết tố
giác, tin báo về tội phạm đặc biệt là trên cơ sở một địa bàn cụ thể là tỉnh Phú
Thọ. Chính vì vậy, việc tác giả chọn vấn đề kiểm sát việc giải quyết tin báo,
tố giác về tội phạm trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam (trên cơ sở thực
tiễn địa bàn tỉnh Phú Thọ) làm đề tài luận văn thạc sĩ luật học có ý nghĩa lý
luận và thực tiễn quan trọng.
3. Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu của luận văn
3.1. Mục đích nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn
của hoạt động kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm và áp
dụng chúng trong thực tiễn tại tỉnh Phú Thọ. Từ đó luận văn đưa ra những
giải pháp nhằm hoàn thiện vấn đề trên theo pháp luật tố tụng hình sự
(TTHS) Việt Nam trong bối cảnh BLTTHS năm 2015, cũng như đề xuất
những giải pháp nâng cao hiệu quả của hoạt động này trong thực tiễn áp
dụng của VKSND tỉnh Phú Thọ.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Từ mục đích nghiên cứu nêu trên, luận văn có những nhiệm vụ chủ yếu sau:
- Tổng hợp các quan điểm của các tác giả về chức năng kiểm sát việc
giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm của VKSND, làm sáng tỏ một số vấn
đề chung như: Khái niệm tin báo, tố giác về tội phạm; phân biệt tin báo, tố
giác về tội phạm với các khiếu nại, tố cáo;
4
5
4. Phương pháp luận và các phương pháp nghiên cứu
Đề tài được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận chủ nghĩa duy vật
lịch sử và chủ nghĩa duy vật biện chứng Mác-xít, tư tưởng Hồ Chí Minh về
Nhà nước và pháp luật, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về xây dựng Nhà
nước pháp quyền, về chính sách hình sự, về vấn đề cải cách tư pháp được thể
hiện trong các Nghị quyết Đại hội Đảng VIII, IX, X và các Nghị quyết số
08-NQ/TW ngày 02/01/2002, Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 26/5/2005 về
Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 của Bộ Chính trị.
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả luận văn đã sử dụng các
phương pháp như: phương pháp phân tích và tổng hợp; phương pháp so sánh,
đối chiếu; phương pháp diễn dịch; phương pháp quy nạp; phương pháp thống
kê, điều tra xã hội học để tổng hợp các tri thức khoa học luật TTHS và luận
chứng các vấn đề tương ứng được nghiên cứu trong luận văn.
5. Những điểm mới và đóng góp của luận văn
Kết quả nghiên cứu của luận văn có ý nghĩa quan trọng về phương diện
lý luận và thực tiễn, trong đó giải quyết nhiều vấn đề quan trọng về lý luận và
thực tiễn liên quan chức năng của VKS trong TTHS Việt Nam. Những điểm
mới cơ bản của luận văn là:
- Tổng hợp các quan điểm khoa học trong nước về công tác kiểm sát
việc giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm của VKSND từ đó xây dựng khái
niệm về tin báo, tố giác về tội phạm tạo cơ sở áp dụng pháp luật thống nhất và
có căn cứ. Đồng thời luận văn chỉ ra những đặc điểm công tác kiểm sát việc
giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm của VKSND;
- Qua nghiên cứu thực tiễn kiểm sát việc giải quyết tin báo tố giác về tội
phạm của VKSND, luận văn đã đề xuất các định hướng và giải pháp hoàn thiện
pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện công tác kiểm sát này của VKSND.
Bên cạnh đó, luận văn sẽ là một tài liệu tham khảo cần thiết và bổ ích
dân, tố giác về tội phạm vừa là quyền, vừa là nghĩa vụ của công dân.
Theo Khoản 1 Điều 25 BLTTHS năm 2003: “Các tổ chức, công dân có
quyền và nghĩa vụ phát hiện, tố giác hành vi phạm tội; tham gia đấu tranh
phòng ngừa và chống tội phạm, góp phần bảo vệ lợi ích của Nhà nước,
quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức” [35, tr.5].
- Thứ ba, việc phát sinh quan hệ pháp luật: tố cáo hành vi vi phạm pháp
luật chỉ phát sinh sau khi công dân thực hiện quyền tố cáo, tố giác về tội phạm
thì phát sinh ngay sau khi công dân biết về tội phạm. Công dân có quyền
quyết định việc mình sẽ tố cáo hay không một hành vi vi phạm pháp luật
nhưng bắt buộc phải tố giác nếu đã biết rõ về một tội phạm qui định tại Điều
313 BLHS năm 1999 đang được chuẩn bị hoặc đã được thực hiện. Công dân
có thể bị truy cứu trách nhiệm HS về tội: “Không tố giác tội phạm” theo điều
314 BLHS, nếu biết mà không tố giác tội phạm.
Như vậy, trong TTHS, tố cáo hành vi phạm tội được hiểu là tố giác về
tội phạm. Đây chính là một trong những nội dung khái niệm tố giác, tin báo
về tội phạm.
Ở phương diện điều tra tội phạm, tố giác, tin báo về tội phạm là những
thông tin ban đầu, có ý nghĩa rất lớn cho các cơ quan pháp luật xem xét tính
10
chất nghiêm trọng hay không của sự việc đã được những chủ thể báo tin, tố
giác đến; tính chính xác và độ tin cậy của các thông tin đến đâu; có dấu hiệu
của tội phạm hay không… là căn cứ để CQĐT mở ra những hoạt động điều
tra, xác minh theo luật định.
Theo quy định tại điều 101 BLTTHS năm 2003 quy định “Công dân
có thể tố giác tội phạm với CQĐT, Viện kiểm sát, Tòa án hoặc với các cơ
quan khác, tổ chức. Nếu tố giác bằng miệng thì cơ quan, tổ chức tiếp nhận
phải lập biên bản và có chữ ký của người tố giác…” [35, tr.37]. Như vậy, tại
đã ban hành Thông tư liên tịch số 06/2013/TTLT-VKSTC-BCA-BNNPTNTBTC-BQP ngày 02/8/2013 hướng dẫn thi hành quy định của BLTTHS về tiếp
nhận, giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm và kiến nghị khởi tố (sau đây gọi
tắt là Thông tư số 06) giải thích cụm từ này.
Theo đó:
Tố giác về tội phạm là những thông tin về hành vi có dấu
hiệu tội phạm do cá nhân có danh tính, địa chỉ rõ ràng cung cấp cho
cơ quan, cá nhân có trách nhiệm tiếp nhận, giải quyết.
Tin báo về tội phạm là những thông tin về hành vi có dấu
hiệu tội phạm trên các phương tiện thông tin đại chúng hoặc do cơ
quan, tổ chức cung cấp cho cơ quan, cá nhân có trách nhiệm tiếp
nhận, giải quyết [67, tr.1].
Mọi cá nhân đều có quyền tố giác về tội phạm, mọi cơ quan, tổ chức
đều có quyền thông tin cho với các cơ quan, cá nhân có thẩm quyền. Đây đều
là cơ sở xác minh có hay không có dấu hiệu tội phạm để từ đó khởi tố hay
không khởi tố vụ án hình sự.
Như vậy, trong khái niệm tin báo, tố giác về tội phạm đều đã chỉ ra, tin
báo, tố giác đều là những thông tin về hành vi có dấu hiệu tội phạm, do các
chủ thể khác nhau (cá nhân hay cơ quan, tổ chức) cung cấp cho cơ quan, cá
nhân có trách nhiệm tiếp nhận, giải quyết.
12
Trên cơ sở phân tích trên đây, có thể rút ra các định nghía tin báo và tố
giác về tội phạm như sau:
Tin báo về tội phạm là việc các cơ quan, tổ chức cung cấp hoặc các
phương tiện thông tin đại chúng thông tin về vụ việc có dấu hiệu tội phạm xảy
ra cho cơ quan có thẩm quyền giải quyết theo qui định của pháp luật tố tụng
hình sự.
Tố giác về tội phạm được hiểu là việc cá nhân trực tiếp phát hiện người
06/2013/TTLT-BCA-BQP-BTC-BNN&PTNT-VKSNDTC
ngày
02/8/2013
hướng dẫn thi hành quy định của Bộ luật TTHS năm 2003 về tiếp nhận, giải
quyết tin báo, tố giác về tội phạm và kiến nghị khởi tố ở Điều 3: “Kiến nghị
khởi tố là việc các cơ quan nhà nước khi thực hiện nhiệm vụ của mình phát
hiện sự việc có dấu hiệu tội phạm và có văn bản kiến nghị Cơ quan điều tra
xem xét khởi tố vụ án hình sự” [67, tr.1]. Đến BLTTHS 2015, Khoản 3, Điều
144 quy định: “Kiến nghị khởi tố là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền
kiến nghị bằng văn bản và gửi kèm theo chứng cứ, tài liệu liên quan cho Cơ
quan điều tra, Viện kiểm sát có thẩm quyền xem xét, xử lý vụ việc có dấu
hiệu tội phạm” [39, tr.123]. Như vậy, kiến nghị khởi tố là quyền của cơ quan
nhà nước, thể hiện bằng văn bản kiến nghị gửi đến Cơ quan điều tra và Viện
kiểm sát yêu cầu khởi tố vụ án hình sự để điều tra, xử lý tội phạm, người
phạm tội. Kiến nghị khởi tố là một dạng đặc biệt của tin báo về tội phạm.
Trong thực tiễn các văn bản kiến nghị khởi tố thường là của cơ quan Thanh
tra, Tòa án. Về lý luận, cần phân biệt trường hợp nào cơ quan Nhà nước là
chủ thể của tin báo tội phạm và trường hợp nào là chủ thể của kiến nghị khởi
tố. “Cơ quan Nhà nước là chủ thể của kiến nghị khởi tố trong trường hợp
thông qua công tác thanh tra, kiểm tra, xét xử… phát hiện hành vi có dấu hiệu
tội phạm thì thu thập hồ sơ, tài liệu liên quan, kèm theo văn bản kiến nghị
khởi tố gởi đến CQĐT, VKSND cùng cấp đề nghị khởi tố vụ án. Cơ quan
14
Nhà nước là chủ thể của tin báo về tội phạm trong trường hợp thông qua công
vi trong bối cảnh nền kinh tế thị trường nảy sinh nhiều mối quan hệ mới, hình
thức mới mà pháp luật không dự trù hết được nên nhiều loại tội phạm mới, có
tính chất nguy hiểm, công nghệ cao xuất hiện. Các cơ quan nhà nước lại
không đảm bảo hết việc nắm bắt thông tin về tình hình tội phạm đang diễn ra
trong xã hội mà chỉ hạn chế về một số lượng thông tin nhất định. Để các cơ
quan nhà nước nắm bắt đầy đủ thông tin về tình hình tội phạm cần phải có sự
tố giác của công dân, tin báo về tội phạm.
Tố giác tội phạm là cơ sở xác định có dấu hiệu tội phạm theo quy định
tại Điều 100 BLTTHS năm 2003 như sau:
“Chỉ được khởi tố vụ án hình sự khi đã xác định có dấu hiệu tội phạm.
Việc xác định dấu hiệu tội phạm dựa trên những cơ sở sau đây: Tố giác của
công dân...” [35, tr.36].
Như vậy, khi một vụ án hình sự đã diễn ra hoặc đang diễn ra, nếu công
dân biết được thì phải tố giác với cơ quan có thẩm quyền. Nếu cấu thành tội
phạm thì cơ quan điều tra ra quyết định khởi tố vụ án hình sự ngay từ khi tiếp
nhận thông tin tố giác tội phạm, và phải ghi rõ những thông tin cần thiết về
thông tin tố giác tội phạm của công dân.
Việc tố giác, tin báo về tội phạm giúp cho các cơ quan có thẩm quyền
phát hiện nhanh tội phạm. Một số loại tội phạm xảy ra bất ngờ trong xã hội
mà các cơ quan có thẩm quyền không biết được như: tội giết người, cướp tài
sản, cố ý gây thương tích, tố giác tội phạm giúp cho các cơ quan có thẩm
quyền nhanh chóng đến hiện trường nơi xảy ra vụ án để thu thập xác minh
làm rõ sự việc phạm tội. Trong một số trường hợp người phạm tội sau khi gây
án xong lại bỏ trốn khỏi hiện trường, gây khó khăn cho việc truy bắt hung thủ
gây án cũng như công tác điều tra phá án.
Tố giác, tin báo tội phạm sẽ hạn chế xảy ra tình trạng tội phạm ẩn.
Nguyên nhân của vấn đề bỏ lọt tội phạm có nhiều, song cơ bản tập trung
16