Quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam (trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh Phú Thọ): Luận văn ThS. Luật : 603801 - Pdf 68

I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT

NGUYN NG LM

QUYếT ĐịNH TRUY Tố CủA VIệN KIểM SáT NhÂn dân
TRONG PHáP LUậT Tố TụNG HìNH Sự VIệT NAM
(Trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh Phú Thọ)

LUN VN THC S LUT HC

H NI - 2017


I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT

NGUYN NG LM

QUYếT ĐịNH TRUY Tố CủA VIệN KIểM SáT NhÂn dân
TRONG PHáP LUậT Tố TụNG HìNH Sự VIệT NAM
(Trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh Phú Thọ)
Chuyờn ngnh: Lut hỡnh s v t tng hỡnh s
Mó s: 60 38 01 04

LUN VN THC S LUT HC

Cỏn b hng dn khoa hc: TS. Lấ LAN CHI

H NI - 2017


Khái niệm, đặc điểm của quyết định truy tố ............................................7

1.1.1.

Khái niệm quyết định truy tố.........................................................................7

1.1.2.

Đặc điểm của quyết định truy tố .................................................................11

1.2.

Nội dung và vai trò của hoạt động quyết định truy tố của Viện kiểm
sát nhân dân ................................................................................................14

1.2.1.

Nội dung quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân ...........................14

1.2.2.

Vai trò của quyết định truy tố trong quá trình truy cứu trách nhiệm
hình sự người phạm tội................................................................................20

1.3.

Quyết định truy tố trong các hình thức tố tụng hình sự........................24

1.3.1.



Thực tiễn thực hiện quy định của pháp luật tố tụng hình sự về
quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân Tỉnh Phú Thọ ............48

2.2.1.

Về tình trạng đội ngũ cán bộ của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ ........48

2.2.2.

Kết quả chung về quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân hai
cấp tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2012-2016 .......................................................49

2.2.3.

Kết quả cụ thể quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân trong 5
năm qua .......................................................................................................52

2.2.4.

Nhận xét, đánh giá .......................................................................................53

Kết luận Chƣơng 2 ..................................................................................................74
Chƣơng 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUYẾT
ĐINH
TRUY TỐ CỦ A VIỆN KIỂM SÁ T NHÂN DÂN ........................75
̣
3.1.

Các định hƣớng nâng cao hiệu quả quyết định truy tố của Viện

Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của các cơ quan
tiến hành tố tụng ..........................................................................................85

3.3.2.

Đổi mới công tác cán bộ của ngành kiểm sát nhân dân t ỉnh Phú Tho ̣ ........86

3.3.3.

Tăng cường bồi dưỡng, trau dồi phẩm chất đạo đức, nâng cao trình độ
về chính trị, nghiệp vụ và trách nhiệm của cán bộ, kiểm sát viên ..............87

3.3.4.

Tăng cường công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành của lãnh đạo Viện
kiểm sát nhân dân hai cấp ...........................................................................89

3.3.5.

Về tăng cường cơ sở vâ ̣t chấ t trang thiế t bi .................................................
91
̣

KẾT LUẬN ..............................................................................................................93
DANH MỤC TÀ I LIỆU THAM KHẢO ...............................................................94


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
STT


HĐXX

Hội đồng xét xử

6

KSV

Kiểm sát viên

8

TAND

Tòa án nhân dân

7

TNHS

Trách nhiệm hình sự

9

TTHS

Tố tụng hình sự

10



51

Biểu đồ 2.2: Số liệu Tòa án trả hồ sơ điều tra bổ sung trên địa bàn tỉnh
Phú Thọ giai đoạn từ năm 2012 đến năm 2016

62


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Quá trình giải quyết vụ án hình sự trải qua nhiều giai đoạn, từ khi khởi tố vụ
án đến khi bản án có hiệu lực pháp luật được thi hành, các chủ thể có thẩm quyền
tiến hành tố tụng phải thực hiện nhiều hoạt động tố tụng khác nhau. Trong số đó thì
giai đoạn truy tố do Viện kiểm sát đảm nhiệm có vai trò quan trọng trong việc xác
định đối tượng, phạm vi buộc tội và ban hành các quyết định để đưa người phạm tội
ra xét xử trước Tòa án. Đồng thời, trong giai đoạn truy tố Viện kiểm sát còn thực
hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các chủ thể tố tụng hình sự
khác. Thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát tuân theo pháp luật
tố tụng hình sự trong giai đoạn này, Viện kiểm sát nhân dân có nhiệm vụ đưa ra
quan điểm truy tố chính thức của Nhà nước mà bản chất là quyết định nội dung truy
cứu trách nhiệm hình sự với việc ban hành các quyết định tố tụng phù hợp với con
người, hành vi phạm tội và tội danh áp dụng cũng như các diễn biến khách quan của
vụ án trên cơ sở qui định của pháp luật.
Trong giai đoa ̣n truy tố, quyế t đinh
̣ việc truy tố của Viện kiểm sát có vai trò rất
quan tro ̣ng nhằ m thể hiê ̣n trực tiế p nhấ t chức năng , nhiê ̣m vu ,̣ quyề n ha ̣n th ực hành
quyền công tố của Viện kiểm sát. Những quy định này của Bộ luật tố tụng hình sự tạo
ra cơ sở pháp lý để Viện kiểm sát nhân dân thực hiện chức năng của mình trong quá
trình giải quyết vụ án hình sự nói chung và giai đoạn truy tố nói riêng, góp phần xử lý

Chính trị là một ví dụ. Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã tiếp tục hoàn thiện các
quy định về thủ tục giải quyết vụ án và các quyền hạn, trách nhiệm, quyền và nghĩa
vụ của các chủ thể tố tụng hình sự, trong đó có Viện kiểm sát. Bộ luật Tố tụng hình
sự năm 2015 đã quy định thẩm quyền của Viện kiểm sát trong giai đoạn truy tố, mà
trọng tâm là chế định quyết định việc truy tố. Quy định này của BLTTHS Việt Nam
mà đặc biệt là BLTTHS năm 2015 vừa thể hiện mô hình “mandatory prosecution” –
(truy tố bắt buộc) đồng thời cũng thể hiện một phần nào đó của mô hình
“discretion” thẩm quyền tự quyết/ chủ động quyết định có truy tố hay không truy tố
của hệ thống pháp luật Anglo Saxon. Trong bối cảnh chính trị xã hội và truyền
thống pháp lý ở nước ta, việc áp dụng mô hình nào là thực sự phù hợp? có thể giải
quyết được các vướng mắc trong thực tiễn tố tụng hay?... cũng đòi hỏi tiếp tục có

2


những nghiên cứu về thẩm quyền, nhiệm vụ quyền hạn của Viện kiểm sát trong
quyết định việc truy tố.
Do vậy, để góp phần làm cụ thể hơn những vấn đề về thẩm quyền của Viện
kiểm sát trong quyế t đinh
̣ viê ̣c truy tố , học viên lựa chọn nội dung "Quyết định truy
tố của Viện kiểm sát nhân dân trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam (trên cơ
sở thực tiễn địa bàn tỉnh Phú Thọ)" làm đề tài luận văn Thạc sĩ luật học với mong
muốn nghiên cứu góp phần bổ sung lý luận khoa học cũng như củng cố và hoàn thiện
hơn nữa quy định về quyế t đinh
̣ viê ̣c truy tố của VKSND trong tố tu ̣ng hin
̀ h sự.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Viện kiểm sát là cơ quan tiến hành tố tụng vai trò đặc biệt quan trọng đối với
việc truy cứu trách nhiệm hình sự người phạm tội và bảo đảm thực hiện nghiêm
chỉnh pháp luật tố tụng hình sự của quá trình giải quyết vụ án hình sự nên nghiên

Nhiệm vụ: Để thực hiện mục đích như trên chúng tôi xác định những nhiệm
vụ nghiên cứu sau:
- Làm rõ cơ sở lý luận về quyết định việc truy tố như khái niệm, bản chất, cơ
sở của việc trao quyền quyết định việc truy tố cho Viện kiểm sát, ý nghĩa, vai trò,
mối quan hệ giữa việc quyết định truy tố với các hoạt động truy cứu trách nhiệm
hình sự trong tiến trình giải quyết vụ án hình sự;
- Nghiên cứu so sánh thẩm quyền quyết định truy tố của Viện kiểm sát ở
nước ta với chế định “Mandatory prosecution”, “Discretion” của Viện công tố/ viện
kiểm sát tại một số quốc gia tiêu biểu;
- Nghiên cứu khái quát về quyền công tố và việc tổ chức thực hành quyền
công tố ở nước ta theo Bộ luật Tố tụng hình sự các thời kỳ mà trọng tâm là nhiệm
vụ và quyền hạn của Viện kiểm sát trong quyế t đinh
̣ viê ̣c truy tố ;
- Xem xét thực tiễn thi hành những quy định của pháp luật về thẩm quyền
của Viện kiểm sát trong quyế t đinh
̣ viê ̣c truy t ố dựa trên những phân tích số liệu về
các quyết định mà cơ quan này ban hành trên một địa bàn cụ thể là Phú Thọ, sau đó
đưa ra những nhận xét về thẩm quyền của Viện kiểm sát;
- Đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vai trò cũng như vị trí
của Viện kiểm sát trong quyế t đinh
̣ viê ̣c truy t

ố và một số kiến nghị khác nhằm

phát huy cũng như kiện toàn vị trí cơ quan Viện kiểm sát trong quá trình cải cách
tư pháp hiện nay.
4. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là quyết định truy tố của Viện kiểm sát
theo quy định của luật tố tụng hình sự Việt Nam.
- Phạm vi nghiên cứu: đề tài chỉ nghiên cứu quyết định truy tố của Viện kiểm

công tác cải cách tư pháp theo tinh

thầ n Nghị quyết số 49/NQ-TW của Bộ Chính trị ở Việt Nam hiện nay.
7. Kế t cấ u của luâ ̣n văn
Ngoài phần mở đầu , kế t luâ ̣n và danh mu ̣c tài liê ̣u tham khảo , luâ ̣n văn đươ ̣c
kế t cấ u thành 03 chương:
Chương 1: Mô ̣t số vấ n đề lý luâ ̣n về quyế t đinh
̣ truy tố của Viê ̣n kiể m. sát
Chương 2: Quy đinh
̣ của pháp luâ ̣t tố tu ̣ng hình sự về quyế t đinh
̣ truy tố của
Viê ̣n kiể m sát và thực tiễn áp du ̣ng ta ̣i tin
̉ h Phú Tho .̣
Chương 3: Mô ̣t số gi ải pháp nâng cao hiệu quả quyết định truy tố của Viện
kiể m sát.

6


Chƣơng 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYẾT ĐINH
TRUY TỐ
̣
CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN
1.1. Khái niệm, đặc điểm của quyết định truy tố
1.1.1. Khái niệm quyết định truy tố
Truy tố là từ Hán Việt nếu chiết tự có nghĩa là: (i) đưa một sự việc ra trước
công luận, công đường (tố) và (ii) làm rõ đến tận cùng sự việc này từ thời điểm sự
việc xảy ra (truy). Truy tố trong ngôn ngữ hiện đại được hiểu là thực hiện việc buộc
tội một người ra trước tòa án để xét xử. Truy tố là một công đoạn quan trọng trong

hiện nay, có nhiều quan điểm khác nhau về việc truy tố có phải là một giai đoa ̣n độc
lập trong tố tu ̣ng hình sự như các giai đo

ạn khởi tố , điề u tra , truy tố , xét xử hay

không. Quan điểm của trường Đại học Luật Hà Nội trong các Giáo trình Luật tố
tụng hình sự Việt Nam coi đây là một giai đoạn độc lập [47, tr.327]. Trong khi đó,
lại có quan điểm căn cứ vào luật thực định (BLTTHS năm 1988, năm 2003) không
quy định rõ truy tố là một giai đoạn tố tụng nên cũng không khẳng định đây là một
giai đoạn độc lập [20, tr.356]. Chúng tôi cho rằng, tính độc lập của giai đoạn truy tố
có thể được khẳng định nếu xét trên các phương diện sau đây:
Thứ nhất, giai đoạn truy tố có một nhiệm vụ tố tụng riêng so với các giai
đoạn tố tụng khác, đó là quyết định việc buộc tội chính thức để đưa người bị buộc
tội này ra xét xử trước Tòa án. Giai đoạn này còn có các nhiệm vụ cụ thể khác do
luật định, đó là kiểm tra lại tính hợp pháp và có căn cứ của toàn bộ các hành vi tố
tụng mà cơ quan Điều tra có thẩm quyền đã áp dụng để bảo đảm cho các quyết định
của Viện kiểm sát được chính xác và khách quan, góp phần truy cứu trách nhiệm
hình sự đúng tội, đúng người và đúng pháp luật [6, tr.11]. Quyết định truy tố của
Viện kiểm sát thông qua bản cáo trạng thể hiện hoạt động chứng minh trên cơ sở
các tài liệu của hồ sơ của vụ án (nhất là kết luận điều tra) tính chất lỗi của hành vi
phạm tội, lỗi của bị cáo trong việc thực hiện tội phạm để góp phần có hiệu quả trong
việc chuẩn bị cho giai đoạn xét xử của Tòa án, loại trừ những thiếu sót hoặc hậu quả
tiêu cực tiếp theo có thể xảy ra do việc xét xử thiếu công minh, vô căn cứ và không
đúng pháp luật, tránh bỏ lọt tội phạm và làm oan những người vô tội.
Thứ hai, giai đoạn truy tố là giai đoạn tố tụng gắn với một cơ quan tiến hành

8


tố tụng đặc thù, là giai đoạn mà thẩm quyền chủ yếu thuộc về Viện kiểm sát, cơ


phạm tội của bị can. Bản cáo trạng nếu được thực hiện tốt, chi tiết, chính xác có ý
nghĩa quan trọng trong việc thực hiện việc truy tố chính xác.
Bản cáo trạng là văn bản pháp lý do VKSND ban hành, thực hiện quyền
công tố nhà nước, sau khi xác định được các yếu tố đủ để thực hiện việc truy tố đối
với bị can và những hành vi phạm tội của họ trước Tòa án [20, tr.356]. Bản cáo
trạng phải ghi rõ ngày, giờ, tháng, năm, địa điểm xảy ra tội phạm; thủ đoạn, mục
đích, động cơ phạm tội, hậu quả của tội phạm và những tình tiết quan trọng khác;
những chứng cứ xác định tội trạng của bị can, những tình tiết tăng nặng và tình tiết
giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; nhân thân của bị can và mọi tình tiết khác có ý nghĩa
đối với vụ án. Phần kết luận của bản cáo trạng ghi rõ tội danh và điều khoản của Bộ
luật hình sự được áp dụng. Và sau khi ban hành bản cáo trạng trong thời hạn ba
ngày VKSND phải gửi bản cáo trạng cho Tòa án cùng với hồ sơ vụ án.
Kết thúc giai đoạn truy tố, ngoài việc ban hành quyết định truy tố bằng bản
cáo trạng, VKSND cùng cấp còn có thể ban hành quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ
sung khi có căn cứ nhất định. Quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung do VKSND
thực hiện khi có những căn cứ: Còn thiếu những chứng cứ quan trọng đối với vụ án
mà Viện kiểm sát không thể tự mình bổ sung được; Có căn cứ để khởi tố bị can về
một tội phạm khác hoặc có người đồng phạm khác; Có vi phạm nghiêm trọng thủ
tục tố tụng. Bên cạnh đó, trong giai đoạn truy tố VKSND còn có thể ban hành quyết
định đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án khi có các căn cứ nhất định [20, tr.356].
Thứ năm, là một giai đoạn tố tụng, truy tố được thực hiện sau khi kết thúc
giai đoạn điều tra và sau khi kết thúc giai đoạn truy tố thì nếu ban hành bản cáo
trạng, vụ án sẽ chuyển sang giai đoạn xét xử. Không thể có truy tố nếu không có kết
quả điều tra của giai đoạn điều tra và cũng không thể có xét xử nếu không có bản
cáo trạng của giai đoạn truy tố. Bản cáo trạng là sản phẩm của quyết định việc truy
tố của Viện kiểm sát [20, tr.356].
Như vậy, về bản chất, giai đoạn truy tố là giai đoạn Viện kiểm sát phải quyế t
đinh
̣ truy tố , nói cách khác quyế t đinh

án chưa, không truy tố bi ̣ can trong giai đoạn truy tố vụ án hình sự”.
Ngoài ra, Quyết định truy tố cũng có thể hiểu theo nghĩa hẹp là quyết định lựa
chọn phương án truy tố bị can ra trước Tòa án để xét xử (quyết định truy tố bị can
bằng bản cáo trạng). Tuy nhiên, chúng tôi tiếp cận khái niệm Quyết định truy tố theo
cách hiểu thứ nhất để phù hợp hơn với các cơ sở lập luận đã nêu cũng như phù hợp
hơn về mặt thuật ngữ pháp lý, các học thuyết pháp lý trong pháp luật quốc tế (sử
dụng các khái niệm Discretion, Dandatory prosecution) và kể cả Bộ luật tố tụng hình
sự năm 2015 cũng sử dụng theo cách hiểu này.
1.1.2. Đặc điểm của quyết định truy tố
Quyết định việc truy tố trong tố tụng hình sự có những đặc điểm cơ bản sau đây:
Thứ nhất, về chủ thể, quyết định truy tố là thẩm quyền chỉ riêng có của Viện
kiểm sát. Tố tụng hình sự là một quá trình giải quyết vụ án nhằm chứng minh người

11


thực hiện hành vi phạm tội và xử lý đối với hành vi đó. Do đó, việc buộc tội của
Nhà nước đối với người phạm tội là rất quan trọng. Trong bộ máy cơ quan nhà nước
của Việt Nam, Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan duy nhất được Hiến pháp quy
định quyền buộc tội một người khác ra xét xử trước Tòa án. Theo quy định của
Hiến pháp thì Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động
tư pháp. Như vậy, chức năng công tố và chức năng kiểm sát là chức năng quan
trọng của VKSND. Trong đó, chức năng thực quyền công tố chỉ có trong tố tụng
hình sự và thể hiện rõ nét nhất ở thẩm quyền quyết định truy tố của VKSND. Mặc
dù BLTTHS quy định rất nhiều cơ quan tiến hành tố tụng khác nhau, với những
nhiệm vụ, quyền hạn khác nhau, nhưng chỉ duy nhất có VKSND được quyền truy tố
một người ra xét xử trước Tòa án thể hiện sự buộc tội của Nhà nước đối với người
phạm tội. Như vậy, nếu như hoạt động điều tra vụ án hình sự được giao cho Cơ
quan điều tra, các cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra cũng như
VKSND thì hoạt động truy tố chỉ duy nhất được giao cho VKSND thực hiện. Điều

chọn các phương án, xem xét có truy tố người phạm tội ra xét xử trước Tòa án hay
không. Trong quá trình này, VKSND phải thực hiện các quyền năng của mình để
đưa ra các quyết định một cách chính xác, khách quan và đúng luật. Đây là hoạt
động rất quan trọng, bởi lẽ nếu không truy tố (đình chỉ vụ án) mà không có căn cứ,
vô hình chung VKSND đã bỏ lọt tội phạm, hoặc không có tội nhưng VKSND vẫn
truy tố thì sẽ dẫn đến làm oan sai người vô tội.
Việc truy tố hay không truy tố bị can ra trước Tòa án không những có tác
động lớn đến người phạm tội, làm cho họ nhận thức rõ được mức độ nguy hiểm cho
xã hội của hành vi do mình gây ra và sự trừng phạt nghiêm minh của pháp luật mà
còn ảnh hưởng tới tình hình trật tự, trị an của xã hội. Khi quyết định truy tố, Viện
kiểm sát (Viện công tố) phải cân nhắc nhiều mặt để truy tố chính xác, kịp thời, đúng
pháp luật và hiệu quả và đặc biệt là bảo đảm tính có căn cứ của quyết định truy tố.
Thứ tư, về hình thức, quyết định việc truy tố được thể hiện qua các văn bản tố
tụng được ban hành, các văn bản tố tụng này chứa đựng các quyết định, các lựa chọn,
các quan điểm của Viện kiểm sát. Các quyết định này đươ ̣c chia thành hai nhóm đó
là: 1, quyế t đinh
và quyế t đinh
(điǹ h chỉ vu ̣ án); 2,
̣ truy tố bi can
̣
̣ không truy tố bi can
̣
quyế t đinh
̣ chưa truy tố bi ̣can (tạm đình chỉ vụ án, trả hồ sơ để điều tra bổ sung).
Thứ năm, về thời điểm, hoạt động quyết định truy tố của VKSND được tiến

13


hành trong một giai đoạn tố tụng độc lập và rất quan trọng trong tố tụng hình sự đó

14


sát ban hành thể hiê ̣n quan điể m buô ̣c tô ̣i mô ̣t người, nhằm truy tố người phạm tội
ra trước Tòa án để xét xử để bảo đảm mọi hành vi phạm tội đều phải được xử lý, và
đươ ̣c thể hiê ̣n dưới hình thức cụ thể là bản cáo trạng.
Quyế t đinh
̣ truy tố của Viê ̣n kiể m sát bằng cáo trạng là mô ̣t văn bản pháp lý
đươ ̣c lâ ̣p theo quy đinh
̣ của Bô ̣ luâ ̣t tố tụng hình sự về thủ tục, trình tự, thẩ m quyề n
và biể u mẫu thố ng nhấ t. Những văn bản tố tụng do Viê ̣n kiể m sát ban hành trong
TTHS nói chung và trong giai đoa ̣n khởi tố , điề u tra, truy tố nói riêng là rấ t nhiề u.
Với các chức năng, đă ̣c điể m và tính chấ t khác nhau thể hiê ̣n rõ thẩ m quyề n của
VKSND trong TTHS. Tuy nhiên, suy cho đến cùng, văn bản pháp lý quan trọng nhấ t
do VKSND ban hành trong TTHS đó chính là Bản cáo trạng - sự thể hiê ̣n cụ thể của
quyế t đinh
̣ truy tố . Bản cáo trạng đươ ̣c lâ ̣p ra thể hiê ̣n quan điể m buô ̣c tô ̣i bị can của
VKSND nhằ m xét xử bị can đó trước Tòa án. Do đó, đây là văn bản pháp lý thể hiê ̣n
sự chă ̣t chẽ về nô ̣i dung, sự chính xác về hình thức và thẩ m quyề n ban hành.
Nô ̣i dung của quyế t đinh
̣ truy tố chính là

quan điể m buô ̣c tô ̣i mô ̣t người,

nhằm truy tố người phạm tội ra trước Tòa án để xét xử, bảo đảm mọi hành vi phạm
tội đều phải được xử lý. Điề u này có nghĩa, quyế t đinh
̣ truy tố đươ ̣c ban hành khi
VKSND đã nghiên cứu, đánh giá đầ y đủ, khách quan các chứng cứ đã thu thâ ̣p đươ ̣c
ở giai đoa ̣n điề u tra và truy tố . Khi có đủ căn cứ để buô ̣c tô ̣i mô ̣t người trước Tòa
án, và đề nghị Tòa án xét xử để kế t tô ̣i họ. Quyế t đinh

̀ h sự ở giai đoa ̣n truy tố

)

hoă ̣c chưa đủ căn cứ để truy tố bi ̣can thì ra quyế t đinh
̣ chưa truy tố bi ̣can(thể hiê ̣n cu ̣
thể bằ ng quyế t đinh
̣ ta ̣m đình chỉ vu ̣ án hoă ̣c quyết đinh
̣ trả hồ sơ để điề u tra bổ sung).
Như vâ ̣y quyế t đinh
̣ không truy tố bi ̣can thể hiê ̣n cu ̣ thể bằ ng quyế t đinh
̣
đình chỉ vu ̣ án là mô ̣t trong những quyế t đinh
̣ tố tu ̣ng quan tro ̣ng của giai đoa ̣n truy
tố vu ̣ án hiǹ h sự.
Trong thực tiễn, các hình thức biểu hiện của tội phạm rất đa dạng, không
giống nhau một cách tuyệt đối từ hành vi, tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã
hội, hình thức lỗi, không gian, thời gian, địa điểm, hoàn cảnh, công cụ, phương tiện
phạm tội... Chính vì vậy pháp luật đã phân hóa và cá thể hóa hình phạt các loại tội
phạm có tính chất ít nghiêm trọng, nghiêm trọng, rất nghiêm trọng và đặc biệt
nghiêm trọng. Tùy theo từng loại tội phạm có khung hình phạt áp dụng tương ứng,
phù hợp, như: đối với tội ít nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại không lớn cho xã
hội mà mức cao nhất của khung hình phạt là đến ba năm tù; hay đối với tội phạm
nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung
hình phạt là đến bảy năm tù...
Việc phân biệt các tội phạm với nhau có ý nghĩa trong việc áp dụng các quy
định của Bộ luật hình sự, luật tố tụng hình sự cũng như điều tra, truy tố và đưa ra
xét xử, áp dụng mức hình phạt tương ứng với mỗi loại tội phạm thể hiện sự nghiêm
trị, răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm. Tuy nhiên không phải hành vi nào
cũng đưa ra truy tố và xét xử. Có những trường hợp vi phạm pháp luật trong quá

̣ của Bô ̣ luâ ̣t tố tu ̣ng hin
̣ đin
̀ h sự , đươ ̣c thể hiê ̣n cu ̣ thể bằ ng quyế t đinh
̀ h chỉ
vụ án hình sự.
Bên ca ̣nh quyế t đinh
̣ truy tố bi ̣can , sau khi đánh giá chứng cứ , nghiên cứu hồ
sơ vu ̣ án và thu thâ ̣p thêm các tài liê ̣u chứng cứ khác trong giai đoa ̣n truy tố

. Viê ̣n

kiể m sát thấ y chưa đủ yế u đố để truy tố bi ̣can - tức thiế u các chứng cứ cơ bản phu ̣c
vụ buộc tội bị can thì VKSND sẽ ra quyết định chưa truy tố bị can . Dạng quyết định
này được thể hiện ở hai nội dung gồm : quyế t đinh
̣ ta ̣m đình chỉ vu ̣ án

hình sự và

quyế t đinh
̣ trả hồ sơ điề u tra bổ sung của Viê ̣n kiể m sát .
Viện kiểm sát là cơ quan thực hiện việc kiểm sát hoạt động tố tụng của cơ
quan điều tra và ra các quyết định phù hợp với kết quả kiểm sát việc khởi tố,
kết luận điều tra của cơ quan điều tra; truy tố người phạm tội ra trước Tòa và
thực hành quyền công tố tại phiên tòa. Chính vì chức năng kiểm sát đó nên VKSND
có vai trò quan trọng, đặc biệt là trong quá trình xem xét hồ sơ vụ án, hoàn thiện hồ
sơ để tiến hành chức năng công tố trước Tòa.
Tòa án là cơ quan thực hiện việc xét xử, xét xử là giai đoạn quan trọng nhất
trong quá trình giải quyết vụ án hình sự. Vì Tòa án sẽ quyết định người bị truy tố
phạm tội và phải chịu hình phạt theo quy đinh
̣ c ủa pháp luật hoặc tuyên bố người bị

án ra để truy tố nhưng nếu không tách được thì VKSND buộc phải trả hồ sơ lại cho
cơ quan điều tra để bổ sung đồng phạm hoặc người phạm tội khác có liên quan trực
tiếp tới vụ án vào hồ sơ.

18



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status