ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
TRẦN ANH ĐỨC
CHẾ ĐỊNH TRẢ HỒ SƠ ĐỂ ĐIỀU TRA BỔ SUNG
THEO LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM
(TRÊN CƠ SỞ THỰC TIỄN ĐỊA BÀN TỈNH PHÚ THỌ)
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2017
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
TRẦN ANH ĐỨC
CHẾ ĐỊNH TRẢ HỒ SƠ ĐỂ ĐIỀU TRA BỔ SUNG
THEO LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM
(TRÊN CƠ SỞ THỰC TIỄN ĐỊA BÀN TỈNH PHÚ THỌ)
Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số: 60 38 01 04
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN NGỌC CHÍ
HÀ NỘI - 2017
......................................................................................................................... 24
1.2.2. Quy định về trả hồ sơ để điều tra bổ sung của Liên bang Nga ............ 27
1.2.3. Quy định về trả hồ sơ để điều tra bổ sung của Cộng hoà nhân dân
Trung Hoa ....................................................................................................... 30
Chương 2:CHẾ ĐỊNH TRẢ HỒ SƠ ĐỂ ĐIỀU TRA BỔ SUNG VÀ
THỰC TRẠNG TRẢ HỒ SƠ ĐỂ ĐIỀU TRA BỔ SUNG TRÊN ĐỊA
BÀN TỈNH PHÚ THỌ .................................................................................. 33
2.1. Quy định của pháp luật tố tụng hình sự về trả hồ sơ để điều tra bổ sung 33
2.1.1. Quy định về trả hồ sơ để điều tra bổ sung trước khi ban hành Bộ luật tố
tụng hình sự 2003 và Bộ luật tố tụng hình sự 2015 ........................................ 33
2.1.2. Quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 về trả hồ sơ để điều tra
bổ sung ............................................................................................................ 40
2.1.3. Những điểm mới của Bộ luật tố tụng hình sự 2015 về trả hồ sơ để điều
tra bổ sung ....................................................................................................... 57
2.2. Thực trạng áp dụng quy định về trả hồ sơ điều tra bổ sung trong giải
quyết vụ án hình sự trên địa bàn tỉnh Phú Thọ ............................................... 60
2.2.1. Tình hình chung về kinh tế xã hội tỉnh Phú Thọ ................................... 60
2.2.2. Kết quả xử lý các vụ án hình sự trên địa bàn tỉnh Phú Thọ ................. 62
2.2.3. Thực trạng trả hồ sơ để điều tra bổ sung giữa các cơ quan tiến hành tố
tụng trên địa bàn tỉnh Phú Thọ ....................................................................... 63
2.3. Những kết quả đạt được và hạn chế trong hoạt động trả hồ sơ điều tra bổ
sung tại tỉnh Phú Thọ ...................................................................................... 65
2.3.1. Những kết quả đạt được ........................................................................ 65
2.3.2. Những bất cập, hạn chế ........................................................................ 65
2.3.3. Các nguyên nhân của những hạn chế ................................................... 66
Chương 3:MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HẠN CHẾ VIỆC TRẢ HỒ SƠ
ĐỂ ĐIỀU TRA BỔ SUNG ............................................................................ 70
3.1. Các yêu cầu nâng cao hiệu quả chế định trả hồ sơ để điều tra bổ sung ... 70
TANDTC
Tòa án nhân dân tối cao
TTHS
Tố tụng hình sự
TTLN
Thông tư liên ngành
ĐTBS
Điều tra bổ sung
DANH MỤC BẢNG BIỂU
STT
Bảng 2.1
Bảng 2.2
Nội dung
Số liệu thụ lý vụ án hình sự trên địa bàn tỉnh Phú Thọ
từ năm 2012 – năm 2016
Kết quả điều tra, truy tố, xét xử các vụ án hình sự trên
đại bàn tỉnh Phú Thọ từ năm 2012 – năm 2016
Trang
tòa. Do đó, để ra đươc ̣ bản án, quyết định đúng pháp luật, có sức thuyết phục,
trong quá trình chuẩn bị xét xử cần có sự phối kết hợp chặt chẽ giữa các cơ
1
quan tiến hành tố tụng. Trước khi xét xử và tại phiên tòa, Tòa án có quyền trả
hồ sơ để điều tra bổ sung [2,tr.3].
Chế định trả hồ sơ để điều tra bổ sung được quy định tại Điều 240 và
Điều 280 Bộ luật Tố tụng hình sự, nhưng trong thực tiễn xét xử trên toàn quốc
nói chung, địa bàn tỉnh Phú Thọ nói riêng vẫn còn nhiều vướng mắc, bất cập
cần được giải thích hướng dẫn thi hành hoặc sửa đổi bổ sung quy đinḥ
này.Chính vì vậy, chúng tôi quyết định chọn đề tài "Chế định trả hồ sơ để
điều tra bổ sung theo luật tố tụng hình sư ̣Việt Nam (trên cơ sở thực tiễn
địa bàn tỉnh Phú Thọ)" cho luận văn thạc sĩcủa mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Chế định trả hồ sơ để điều tra bổ sung nói chung và chế định trả hồ sơ
để điều tra bổ sung của Tòa án nói riêng luôn thể hiện rõ nét mối quan hệ giữa
các cơ quan tiến hành tố tụng. Chế định này được nghiên cứu trong một số tác
phẩm của một số nhà khoa học, nghiên cứu dưới dạng các bài viết, bài báo,
chuyên đề…Một số công trình nghiên cứu về vấn đề trả hồ sơ để điều tra bổ
sung ở Việt Nam cho đến nay gồm có:
Tài liệu tham khảo là sách giáo trình, sách chuyên khảo gồm có:
Nguyễn Ngọc Chí (2015), Giáo trình Luật tố tụng hình sự, NXB Đại học Quốc
gia, Hà Nội; GS. TSKH Lê Cảm & TS.Nguyễn Ngọc Chí (Đồng chủ biên)Cải
cách tư pháp ở Việt Nam trong giai đoạn xây dựng nhà nước pháp quyền; Lê
Cảm (1999), “ Những cơ sở khoa học - thực tiễn của việc hoàn thiện pháp luật
hình sự nước ta trong giai đoạn hiện nay”, Khoa học (KHXH), tr21; PGS.TS
Võ Khánh VinhBình luận khoa học Bộ luật tố tụng hình sự; Trường Đại học
Luật Hà Nội (2007), Giáo trình Luật hình sự, NXB Công an nhân dân; Lê kim
Quế (1989) Những điều cần biết về điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án,
11/2013; Tác giả Lê Ngọc Duy, Một số giải pháp nhằm hạn chế việc trả hồ sơ
điều tra bổ sung đối với Viện kiểm sát nhân dân quận Cầu Giấy, thành phố
Hà Nội, Tạp chí kiểm sát số 6/2013; Tác giả Lê Tấn Cường, Giải pháp để hạn
3
chế việc trả hồ sơ điều tra bổ sung trong giai đoạn truy tố, Tạp chí kiểm sát
số 10/2014; Tác giả Đào Anh Tới, Hoàn thiện chế định trả hồ sơ điều tra bổ
sung, Tạp chí kiểm sát số 13/2014…
Trong các công trình trên, ở mức độ này hay mức độ khác vấn đề trả hồ
sơ để điều tra bổ sung đã được đề cập đến, nhất là các căn cứ trả hồ sơ để điều
tra bổ sung, thủ tục trả hồ sơ để điều tra bổ sung, thậm chí có người đặt vấn
đề xem xét tính hợp lý, cần thiết của chế định này trong điều kiện xây dựng
Nhà nước pháp quyền.
Tuy nhiên, việc nghiên cứu chế định này trên một địa bàn cụ thể là tỉnh
Phú Thọ cho đến nay chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách đầy
đủ, toàn diện và hệ thống về chế định trả hồ sơ để điều tra bổ sung; nhiều nội
dung liên quan chưa có được cách nhìn và giải quyết thống nhất; các công
trình chưa giải đáp triệt để được những vướng mắc trong thực tế...
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích của luận văn là trên cơ sở phân tích các quy định của Bộ luật
Tố tụng hình sự về trả hồ sơ để điều tra bổ sung, đánh giá thực tiễn áp dụng
các quy định đó, tìm ra những bất cập, hạn chế để đề xuất những kiến nghị
cũng như đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của chế định này trong
hoạt động tố tụng hình sự.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Từ mục đích nghiên cứu nêu trên, chúng tôi đặt cho mình các nhiệm vụ
nghiên cứu chủ yếu sau:
- Nghiên cứu các vấn đề lý luận về chế định trả hồ sơ để điều tra bổ
- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về Nhà
nước và pháp luật, về xây dựng Nhà nước pháp quyền, về cải cách tư pháp, về
đấu tranh phòng và chống tội phạm.
Luận văn sử dụng một số phương pháp tiếp cận để làm sáng tỏ về mặt
khoa học từng vấn đề tương ứng, đó là các phương pháp nghiên cứu như: so
5
sánh, phân tích, tổng hợp, thống kê. Đồng thời, tác giả sử dụng những số liệu
thống kê, tổng kết hàng năm của ngành Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân
dân; nghiên cứu các bản án hình sự, các quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ
sung cũng như những thông tin trên mạng internet để phân tích, tổng hợp các
tri thức khoa học pháp luật tố tụng hình sự và các vấn đề tương ứng được
nghiên cứu trong luận văn.
6. Những điểm mới và đóng góp của đề tài
Về mặt lý luận: Đây là công trình nghiên cứu đồng bộ đề cập một
cáchcó hệ thống và toàn diện những vấn đề lý luận và tổng kết thực tiễn về
chế định trả hồ sơ để điều tra bổ sung.
Về mặt thực tiễn: Luận văn góp phần vào việc xác định đúng đắn
nhữngđiều kiện cụ thể của từng trường hợp trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong
thực tiễn truy tố, xét xử của các cơ quan tiến hành tố tụng, cũng như đưa ra
các kiến nghị hoàn thiện chế định trả hồ sơ để điều tra bổ sung và việc áp
dụng chúng trong thực tiễn.
Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể được sử dụng làm tài liệu tham
khảo dùng để nghiên cứu, học tập và giảng dạy chuyên ngành Tư pháp hình
sự tại các cơ sở đào tạo luật, viện nghiên cứu luật và các cơ quan hoạt động
thực tiễn như: Viện kiểm sát, Tòa án, Cơ quan điều tra…
7. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
nội dung của luận văn gồm 3 chương, cụ thể:
nặng về buộc tội hay gỡ tội của một bên tranh tụng, do vậy sẽ tránh được xu
hướng che giấu sự thật khách quan của vụ án, bảo đảm khả năng kiểm soát
tình hình tội phạm, không bỏ lọt tội phạm. Hiệu quả đấu tranh phòng, chống
tội phạm trong mô hình tố tụng hình sự thẩm vấn được đánh giá là cao hơn so
với mô hình tố tụng hình sự tranh tụng (đại diện của mô hình này là các nước
7
theo hệ thống luật lục địa như Pháp, Italia, Đức…).
Mỗi mô hình tố tụng hình sự trên đây đều có ưu điểm nhược điểm hạn
chế nhất định. Đối với Việt Nam, mô hình tố tụng hình sự trong quá trình phát
triển chịu ảnh hưởng lớn từ mô hình tố tụng hình sự Pháp và mô hình Xô viết
(hai mô hình tố tụng hình sự vốn bắt nguồn từ truyền thống luật Châu Âu lục
địa) và đã tiếp thu đậm nét những yếu tố của mô hình tố tụng thẩm vấn.
Đến nay, tuy trong quá trình phát triển, Việt Nam đã tiếp thu một số hạt
nhân hợp lý của mô hình tố tụng hình sự tranh tụng, phù hợp với điều kiện
phát triển kinh tế - xã hội cụ thể của Việt Nam, nhưng mô hình tố tụng hình
sự ở nước ta cho đến thời điểm ban hành Hiến pháp năm 2013 về cơ bản vẫn
là mô hình tố tụng hình sự thẩm vấn. Đặc trưng của mô hình tố tụng hình sự
hiện hành thể hiện ở một số điểm sau.
+ Tố tụng hình sự Việt Nam không coi vụ án hình sự là tranh chấp,
xung đột pháp lý giữa các bên, điều này khác với mô hình tố tụng hình sự
tranh tụng. Vụ án hình sự xảy ra bị xem là đã xâm hại tới trật tự công cộng,
lợi ích chung của xã hội và Nhà nước phải có trách nhiệm giải quyết, việc giải
quyết vụ án hình sự hoàn toàn phụ thuộc vào ý chí của Nhà nước. Các cơ
quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đại diện cho Nhà nước
trong giải quyết vụ án hình sự, bị can, bị cáo có vai trò thụ động phụ thuộc rất
lớn vào các cơ quan tiến hành tố tụng và gần như là đối tượng xem xét của
các cơ quan tiến hành tố tụng. Người bị hại không có quyền lựa chọn cách
thức giải quyết vụ việc. Khởi tố hay không khởi tố vụ án không phụ thuộc vào
các chủ thể tiến hành tố tụng. Như vậy làm cho các hoạt động tố tụng có tính
chuyên nghiệp, tạo nên hiệu quả hoạt động tố tụng đáp ứng yêu cầu điều tra,
xử lý tội phạm phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của Việt Nam, hạn chế việc
vi phạm quyền của bị can, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
+ Tố tụng hình sự Việt Nam phân chia các chủ thể tố tụng thành hai
9
loại: chủ thể tiến hành tố tụng và chủ thể tham gia tố tụng. Việc phân chia này
khác với mô hình tố tụng tranh tụng gồm bên buộc tội, bên gỡ tội và Tòa án
trung lập. Chủ thể tiến hành tố tụng có thẩm quyền chứng minh trong vụ án
hình sự, độc quyền trong việc thu thập chứng cứ. Những người tham gia tố
tụng không có quyền thu thập chứng cứ của vụ án, chỉ có quyền cung cấp tài
liệu, đồ vật, đưa ra yêu cầu. Trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án hình sự,
cơ quan tiến hành tố tụng luôn ở thế chủ động, từ việc thu thập, kiểm tra, đánh
giá các chứng cứ đến việc đưa ra các quyết định tố tụng liên quan đến việc
giải quyết vụ án. Đối lập với vai trò tích cực, chủ động của các cơ quan tiến
hành tố tụng là vai trò thụ động của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo. Người bị
tạm giữ, bị can, bị cáo không được xem là một bên trong quan hệ tố tụng như
trong mô hình tố tụng tranh tụng và trên thực tế, nhiều trường hợp gần như là
đối tượng xem xét của các cơ quan tiến hành tố tụng.
+ Việc thực hiện chức năng cơ bản của tố tụng hình sự Việt Nam cũng
giống với mô hình tố tụng hình sự của nhiều nước trên thế giới, tố tụng hình
sự Việt Nam quy định Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát thực hiện chức năng
buộc tội; chức năng bào chữa do người bị tạm giữ, bị can, bị cáo và người bào
chữa của họ thực hiện; Tòa án thực hiện chức năng xét xử.
+ Trong tố tụng hình sự Việt Nam luôn tồn tại khái niệm “hồ sơ vụ án
hình sự”, điều này ngược lại với mô hình tố tụng tranh tụng. Hồ sơ vụ án hình
sự được các cơ quan tiến hành tố tụng lập thống nhất từ giai đoạn điều tra,
chứa đựng các tài liệu, chứng cứ về tội phạm, người phạm tội và được các cơ
trong quá trình giải quyết vụ án hình sự. Vì vậy, hoạt động của Điều tra viên
và quyết định củ a Cơ quan điều tra trong giai đoạn này rất quan trọng. Quan
trọng vì đây là khâu đầu tiên để chứng minh có hành vi phạm tội hay không
và chỉ có Cơ quan điều tra mới có quyền lập hồ sơ vụ án hình sự. Khoản 1
11
Điều 2 Luật tổ chức cơ quan điều tra hình sự quy định:
Cơ quan điều tra có nhiệm vụ tiến hành điều tra tất cả các tội phạm, áp
dụng mọi biện pháp do Bộ luật tố tụng hình sự quy định để xác định tội phạm
và người đã thực hiện hành vi phạm tội, lập hồ sơ, đề nghị truy tố, tìm ra
nguyên nhân và điều kiện phạm tội để làm cơ sở cho việc xử lý tội phạm.
Trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình, Cơ quan điều
tra được pháp luật cho phép tiến hành các hoạt động điều tra như: Khởi tố bị
can, hỏi cung, khám xét, tạm giữ đồ vật, đối chất, nhận dạng, thực nghiệm
điều tra… Qua hoạt động điều tra của mình, Cơ quan điều tra lập hồ sơ vụ án
hình sự đề nghị Viện kiểm sát truy tố người có tội ra trước Tòa án. Hồ sơ vụ
án hình sự là một loại hồ sơ quan trọng trong hệ thống hồ sơ của Nhà nước, là
nguồn thông tin trực tiếp phản ánh toàn bộ diễn biến vụ án, quá trình và kết
quả điều tra. Tại giai đoaṇ này, Cơ quan điều tra tiến hành các hoạt động tố
tụng để thu thập chứng cứ, thực hiện đúng, đủ trình tự, thủ tục, các biện pháp
do Bộ luật Tố tụng hình sự quy định để xác định tội phạm và người thực hiện
hành vi phạm tội phục vụ cho việc chứng minh làm sáng rõ vụ án hình sự,
làm cơ sở cho việc truy tố của Viện kiểm sát và xét xử của Tòa án [11,tr.8].
Chứng cứ trong hồ sơ một vụ án hình sự luôn là yếu tố quyết định để
kết luận hành vi phạm tội của một người nào đó. Để giải quyết đúng đắn một
vụ án thì điều tra viên phải chứng minh được sự kiện phạm tội, người thực
hiện tội phạm và việc chứng minh này không có con đường nào khác ngoài
việc dựa vào chứng cứ thu thập được với những biện pháp như hỏi cung, lấy
lời khai, khám nghiệm hiện trường… Vì quá trình thực hiện hành vi phạm tội
các Điều 230, 247, 248 của Bộ luật tố tụng hình sự [38. Tr,17].
Nếu kết quả điều tra bổ sung không làm thay đổi quyết định truy tố thì
Viện kiểm sát có văn bản nêu rõ lý do giữ nguyên quyết định truy tố và
chuyển lại hồ sơ cho Tòa án; nếu kết quả điều tra bổ sung làm thay đổi quyết
định truy tố thì Viện kiểm sát ban hành cáo trạng mới thay thế cáo trạng cũ và
chuyển hồ sơ đến Tòa án để xét xử. Viện kiểm sát nhân dân khi thực hiện
13
quyền của mình là hoàn toàn độc lập, không bị ảnh hưởng của cơ quan hành
chính, đoàn thể xã hội và của công dân. Viện kiểm sát nhân dân được tổ chức
phù hợp với tổ chức của tòa án.
Theo Hiến pháp năm 2013 và Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân
năm 2014, trong lĩnh vực tư pháp hình sự, Viện kiểm sát nhân dân có hai chức
năng chính là: Thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tưpháp. Đây là
hai chức năng độc lập, nhưng trong thực tiễn công tác, nó cómối quan hệ mật
thiết với nhau [33,tr,14].
Chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát được quy định cụ thể tại Điều
20Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:Viện kiểm sát thực hành quyền công tố
và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự, quyết định việc
buộc tội, phát hiện vi phạm pháp luật nhằm bảo đảm mọi hành vi phạm tội,
người phạm tội, pháp nhân phạm tội, vi phạm pháp luật đều phải được phát
hiện và xử lý kịp thời, nghiêm minh, việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi
hành án đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm và
người phạm tội, pháp nhân phạm tội, không làm oan người vô tội.
Viện kiểm sát kiểm sát đảm bảo việc điều tra được khách quan, toàn
diện và đầy đủ. Viện kiểm sát phải kịp thời phát hiện những vi phạm pháp
luật trong quá trình điều tra và đề ra biện pháp khắc phục, bảo đảm mọi hoạt
động điều tra phải được tiến hành theo đúng quy định của luật tố tụng hình sự.
Khi tội phạm được phát hiện, vụ án được khởi tố điều tra là thời điểm
hoặc tại phiên tòa, Tòa án có quyền trả hồ sơ để điều tra bổ sung [5,tr.20].
Cơ quan điều tra có trách nhiệm điều tra bổ sung theo yêu cầu của Tòa
án; nhưng khi Tòa án trả hồ sơ theo quy định tại Điều 280 Bộ luật tố tụng
hình sự thì Tòa án phải ra quyết định trả hồ sơ cho Viện kiểm sát mà không
trả trực tiếp cho Cơ quan điều tra. Sở dĩ tố tụng hình sự quy định như vậy là
vì, Viện kiểm sát là cơ quan truy tố bị can ra trước Tòa án chứ không phải là
Cơ quan điều tra, vì thế Tòa án nhận hồ sơ từ Viện kiểm sát chuyển đến, chứ
không phải là từ Cơ quan điều tra. Hơn nữa, Viện kiểm sát là cơ quan quyết
15
định chuyển hồ sơ cho Cơ quan điều tra hay tự mình điều tra bổ sung. Điều đó
cũng phù hợp với chức năng nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân. Đồng thời
cũng phù hợp với quy định của pháp luật tố tụng hình sự về giới hạn xét xử
của Tòa án tại Điều 298 Bộ luật tố tụng hình sự: "1. Tòa án xét xử những bị
cáo và những hành vi theo tội danh mà Viện kiểm sát truy tố và Tòa án đã
quyết định đưa vụ án ra xét xử.
2. Tòa án có thể xét xử bị cáo theo khoản khác với khoản mà Viện kiểm
sát đã truy tố trong cùng một điều luật hoặc về một tội khác bằng hoặc nhẹ
hơn tội mà Viện kiểm sát đã truy tố.
3. Trường hợp xét thấy cần xét xử bị cáo về tội danh nặng hơn tội danh
Viện kiểm sát truy tố thì Tòa án trả hồ sơ để Viện kiểm sát truy tố lại và thông
báo rõ lý do cho bị cáo hoặc người đại diện của bị cáo, người bào chữa biết;
nếu Viện kiểm sát vẫn giữ tội danh đã truy tố thì Tòa án có quyền xét xử bị
cáo về tội danh nặng hơn đó.”
Mặc dù mỗi cơ quan tiến hành tố tụng đều có chức năng, nhiệm vụ riêng
nhưng đều có một trách nhiệm, mục đích chung là: Xác định sự thật của vụ án.
Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về cơ quan có thẩ m quyề n
tiến hành tố tụng.Người bị buộc tội có quyền nhưng không buộc phải chứng
minh là mình vô tội.
xác định đặc điểm này, chúng ta cần phải xác định các lý luận về giai đoạn tố
tụng hình sự. Hiện nay, còn nhiều quan điểm khác nhau về các giai đoạn tố
tụng hình sự thể hiện ở các công trình đã được công bố ở Việt Nam, nhưng
phần lớn các quan điểm đều cho rằng tố tụng hình sự gồm 4 giai đoạn: khởi
tố, điều tra, truy tố và xét xử. Như vậy, đúng như tên gọi của chế định này là
“trả hồ sơ để điều tra bổ sung”, thực chất của quá trình trả hồ sơ để điều tra bổ
sung là quay trở lại thực hiện các hoạt động điều tra để tiến hành hoạt động bổ
sung chứng cứ, khắc phục những sai sót đã mắc phải ở các giai đoạn trước đó
17
để phục vụ việc giải quyết chính xác vụ án. Do đó, chủ thể có thẩm quyền trả
hồ sơ để điều tra bổ sung chỉ có thể là Viện kiểm sát và Tòa án ở từng giai
đoạn khác nhau [43,tr.12].
Viện kiểm sát là hệ thống cơ quan nhà nước thực hiện hai chức năng
được Hiến pháp quy định là thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư
pháp. Do đó, nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát trong tố tụng hình sự
được diễn ra xuyên suốt các giai đoạn tố tụng, trong đó có cả giai đoạn khởi
tố và điều tra. Tuy nhiên, tố tụng hình sự quy định giai đoạn truy tố chính là
giai đoạn quan trọng, thể hiện đầy đủ nhất vai trò của Viện kiểm sát trong quá
trình thực hành quyền công tố. Trong giai đoạn này, Viện kiểm sát nghiên
cứu, đánh giá các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được ở giai đoạn trước đó,
đồng thời tiến hành một số hoạt động điều tra để bổ sung thêm chứng cứ
nhằm mục đích truy tố người phạm tội ra trước Tòa án. Theo quy định của Bộ
luật tố tụng hình sự, trong giai đoạn này khi kết thúc thời hạn truy tố, Viện
kiểm sát được quyền ra các quyết định tố tụng gồm: tạm đình chỉ, đình chỉ vụ
án, trả hồ sở để điều tra bổ sung và quyết định truy tố. Trong đó, quyết định
trả hồ sơ để điều tra bổ sung của Viện kiểm sát diễn ra trong trường hợp có
các căn cứ quy định của BLTTHS như, chứng cứ để truy tố chưa đầy đủ, thiếu