Chế định trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong luật tố tụng hình sự việt nam - Pdf 51

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

NGUYỄN THỊ HẢI CHÂU

CHẾ ĐỊNH TRẢ HỒ SƠ ĐỂ ĐIỀU TRA BỔ SUNG
TRONG LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2010


Ket-noi.com
Ket-noi.com kho
kho tai
tai lieu
lieu mien
mien phi
phi

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

NGUYỄN THỊ HẢI CHÂU

CHẾ ĐỊNH TRẢ HỒ SƠ ĐỂ ĐIỀU TRA BỔ SUNG
TRONG LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM
Chuyên ngành : Luật hình sự
Mã số


tiến hành tố tụng

7

1.2

Những vấn đề lý luận cơ bản về trả hồ sơ để điều tra bổ sung

13

1.2.1.

Khái niệm trả hồ sơ để điều tra bổ sung

13

1.2.2.

Các căn cứ để trả hồ sơ điều tra bổ sung

19

1.2.2.1. Khi cần xem xét thêm những chứng cứ quan trọng đối với
vụ án mà Viện kiểm sát và Tòa án không thể bổ sung được

19

1.2.2.2. Khi có căn cứ để cho rằng bị can, bị cáo phạm một tội khác
hoặc có đồng phạm khác



Ket-noi.com
Ket-noi.com kho
kho tai
tai lieu
lieu mien
mien phi
phi

2.2.1.

Căn cứ trả hồ sơ để điều tra bổ sung

55

2.2.2.

Những bất cập, hạn chế trong việc trả hồ sơ để điều tra bổ
sung tại Viện kiểm sát nhân dân

57

2.3.

Trả hồ sơ để điều tra bổ sung tại tòa án nhân dân

61

2.3.1.


Những bất cập, hạn chế

71

2.5.

Nguyên nhân của những bất cập, hạn chế trong trẩ hồ sơ để
điều tra bổ sung

72

2.5.1.

Các nguyên nhân khách quan

72

2.5.2.

Các nguyên nhân chủ quan

73

Chương 3:

75

MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CHẾ
ĐỊNH TRẢ HỒ SƠ ĐỂ ĐIỀU TRA BỔ SUNG TRONG
CẢI CÁCH TƯ PHÁP

82


3.2.3.

Sửa đổi, bổ sung Điều 121 Bộ luật Tố tụng hình sự

83

3.2.4.

Cần sửa đổi, bổ sung Điều 196 Bộ luật Tố tụng hình sự

83

3.3.

Các giải pháp khác

84

3.3.1.

Nâng cao trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng, người
tiến hành tố tụng

84

3.3.2.


Formatted: Indent: First line: 0", Space
Before: 6 pt, Line spacing: Exactly 20 pt


Ket-noi.com
Ket-noi.com kho
kho tai
tai lieu
lieu mien
mien phi
phi

Danh mục các bảng

Số hiệu

Tên bảng

Trang

Các Viện kiểm sát nhân dân có tỷ lệ trả hồ sơ để điều tra

54

bảng

2.1

bổ sung thấp
2.2

hình sự. Vì Tòa án sẽ quyết định người bị truy tố phạm tội và phải chịu hiǹ h phaṭ
theo quy định của pháp luật hoặc tuyên bố người bị truy tố không phạm tội.
Trong thực tế, không phải vụ án nào Cơ quan điều tra khởi tố, điều tra
thì Viện kiểm sát đều ra quyết định truy tố và Tòa án đều đưa ra xét xử được,

1


Ket-noi.com
Ket-noi.com kho
kho tai
tai lieu
lieu mien
mien phi
phi

mà có nhiều vụ án cần phải điều tra bổ sung theo các căn cứ Bộ luật Tố tụng
hình sự quy định như:
Còn thiếu những chứng cứ quan trọng đối với vụ án mà Viện kiểm sát,
Tòa án không thể tự mình bổ sung được; có căn cứ để khởi tố bị can về một
tội phạm khác hoặc có người đồng phạm khác; có vi phạm nghiêm trọng thủ
tục tố tụng.
Như vậy là dù theo trình tự tố tụng thông thường hay theo trình tự của
một vụ án trả hồ sơ để điều tra bổ sung, thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và
Tòa án cũng có mối quan hệ liên quan, gắn bó với nhau, hỗ trợ nhau và chế
ước lẫn nhau trong quá trình giải quyết vụ án hình sự.
Tuy nhiên, khi nghiên cứu toàn diện vấn đề trả hồ sơ để điều tra bổ
sung, chúng tôi thấy còn có những bất cập trong pháp luật tố tụng hình sự cần
được sửa đổi, bổ sung cho hợp lý hơn để thể hiện rõ hơn chức năng tố tụng
của từng cơ quan, phát huy hiệu quả công việc của từng cơ quan tiến hành tố

sung và mối quan hệ giữa ba cơ quan tiến hành tố tụng;
- Phân tích các quy định của pháp luật về chế định trả hồ sơ điều tra
bổ sung;
- Nghiên cứu thực tiễn áp dụng chế định trả hồ sơ điều tra bổ sung,
mối quan hệ giữa các cơ quan tiến hành tố tụng trong áp dụng chế định này;
- Đưa ra các kiến nghị hoàn thiện các quy định của Bộ luật Tố tụng
hình sự và giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
3.3. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề lý luận và thực
tiễn về chế định trả hồ sơ điều tra bổ sung và thông qua chế định này sẽ
nghiên cứu về mối quan hệ giữa Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân và
Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam.
3.4. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu về chế định trả hồ sơ điều tra bổ sung trong pháp
luật tố tụng hình sự Việt Nam và một số quy phạm pháp luật hình sự, một số
văn bản hướng dẫn thi hành pháp luật nhằm hỗ trợ cho việc nghiên cứu đề tài
được tốt hơn.
Luận văn nghiên cứu về chế định trả hồ sơ điều tra bổ sung và mối
quan hệ giữa cơ quan điều tra , Viện kiểm sát nhân dân và Tòa án nhân dân từ
trước khi Bộ luật Tố tụng hình sự ra đời và các quy định của pháp luật về chế
định trả hồ sơ điều tra bổ sung trong tố tụng hình sự Việt Nam hiện hành.
4. Cơ sở phƣơng pháp luận và các phƣơng pháp nghiên cứu
Cơ sở phương pháp luận của luận văn là quan điểm của chủ nghĩa
Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về
Nhà nước và pháp luật, về xây dựng Nhà nước pháp quyền, về cải cách tư
pháp, về đấu tranh phòng và chống tội phạm.

5



Chương 1: Những vấn đề lý luận về trả hồ sơ để điều tra bổ sung và
các cơ quan tiến hành tố tụng.
Chương 2: Thực trạng trả hồ sơ để điều tra bổ sung.
Chương 3: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả của chế định trả hồ sơ
để điều tra bổ sung trong cải cách tư pháp ở nước ta.

6


Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHẾ ĐỊNH TRẢ HỒ SƠ
ĐỂ ĐIỀU TRA BỔ SUNG VÀ CÁC CƠ QUAN TIẾN HÀNH TỐ TỤNG

1.1. KHÁI QUÁT VỀ TRẢ HỒ SƠ ĐỂ ĐIỀU TRA BỔ SUNG VÀ CÁC CƠ
QUAN TIẾN HÀNH TỐ TỤNG

Tố tụng hình sự Việt nam được xây dựng dựa trên những đặc điểm về
chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, đạo đức, phong tục tập quán cũng như hệ
thống pháp luật hiện hành. Những nguyên tắc được xác định trong tố tụng
hình sự là tiền đề và cơ sở để xây dựng nhiệm vụ cũng như mối quan hệ giữa
các cơ quan tiến hành tố tụng. Điều 1 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003
quy định "Bộ luật Tố tụng hình sự quy định trình tự, thủ tục khởi tố, điều tra,
truy tố, xét xử và thi hành án hình sự; chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và mối
quan hệ giữa các cơ quan tiến hành tố tụng". Do đó, mỗi cơ quan tiến hành tố
tụng đều có chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn nhất định nhưng có quan hệ phối
hợp với nhau, chế ước lẫn nhau trong quá trình giải quyết vụ án hình sự.
Chủ thể được Nhà nước giao thẩm quyền điều tra vụ án là Cơ quan
điều tra. Trong hệ thống các cơ quan tư pháp, cơ quan điều tra giữ một vị trí
quan trọng, là cơ quan thu thập, kiểm tra, đánh giá chứng cứ chứng minh tội
phạm và người thực hiện hành vi phạm tội, phục vụ cho việc truy tố của Viện

quả điều tra. Tại giai đọan này, cơ quan điều tra tiến hành các hoạt động tố
tụng để thu thập chứng cứ, thực hiện đúng, đủ trình tự, thủ tục, các biện pháp
do Bộ luật Tố tụng hình sự quy định để xác định tội phạm và người thực hiện
hành vi phạm tội phục vụ cho việc chứng minh làm sáng rõ vụ án hình sự,
làm cơ sở cho việc truy tố của Viện kiểm sát và xét xử của Tòa án.
Chứng cứ trong hồ sơ một vụ án hình sự luôn là yếu tố quyết định để
kết luận hành vi phạm tội của một người nào đó. Để giải quyết đúng đắn một
vụ án thì điều tra viên phải chứng minh được sự kiện phạm tội, người thực
hiện tội phạm và việc chứng minh này không có con đường nào khác ngoài
việc dựa vào chứng cứ thu thập được với những biện pháp như hỏi cung, lấy
lời khai, khám nghiệm hiện trường… Vì quá trình thực hiện hành vi phạm tội
là quá trình diễn ra trong quá khứ, do đó để hình dung ra diễn biến của nó,
điều tra viên cần phải lựa chọn vào việc đánh giá những sự kiện hay tài liệu
đã thu được một cách khách quan và lôgic. Nếu việc điều tra thu thập chứng
cứ không đầy đủ hoặc vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng trong quá trình
điều tra sẽ ảnh hưởng đến các giai đoạn tố tụng tiếp theo. Các biện pháp điều
tra chỉ được phép tiến hành sau khi khởi tố vụ án hình sự, tức là sau khi đã
xác định rõ ràng rằng có một vụ án hình sự đã xảy ra. Trong việc điều tra cơ
quan điều tra phải thu thập cả chứng cứ xác định có tội và chứng cứ xác định

8


vô tội, làm rõ những tình tiết tăng nặng và những tình tiết giảm nhẹ trách
nhiệm hình sự của bị can, tìm ra nguyên nhân, điều kiện phạm tội. Mục đích
chủ đạo và xuyên suốt của hoạt động điều tra là chứng minh tội phạm và
người phạm tội.
Đối với nhiệm vụ "điều tra bổ sung" theo yêu cầu của Viện kiểm sát
hoặc của Tòa án lại đặt điều tra viên trước một yêu cầu khắt khe và cụ thể
hơn, đó là ngoài những tài liệu, chứng cứ đã thu thập được trong quá trình

mien phi
phi

Theo Hiến pháp năm 2002 (sửa đổi) và Luật Tổ chức Viện kiểm sát
nhân dân năm 2002, trong lĩnh vực tư pháp hình sự, Viện kiểm sát nhân dân
có hai chức năng chính là: Thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư
pháp. Đây là hai chức năng độc lập, nhưng trong thực tiễn công tác, nó có
mối quan hệ mật thiết với nhau.
Chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát được quy định cụ thể tại Điều 23
Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003:
1.Viện kiểm sát thực hành quyền công tố trong tố tụng hình
sự, quyết định việc truy tố người phạm tội ra trước Tòa án.
2. Viện kiểm sát, kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố
tụng hình sự có trách nhiệm phát hiện kịp thời vi phạm pháp luật
của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và
người tham gia tố tụng, áp dụng những biện pháp do Bộ luật này
quy định để loại trừ việc vi phạm pháp luật của những cơ quan
hoặc cá nhân này.
3. Viện kiểm sát thực hành quyền công tố và kiểm sát việc
tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự nhằm bảo đảm mọi hành
vi phạm tội đều phải được xử lý kịp thời; việc khởi tố, điều tra, truy tố,
xét xử, thi hành án đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để
lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội [21].
Viện kiểm sát kiểm sát đảm bảo việc điều tra được khách quan, toàn
diện và đầy đủ. Viện kiểm sát phải kịp thời phát hiện những vi phạm pháp
luật trong quá trình điều tra và đề ra biện pháp khắc phục, bảo đảm mọi hoạt
động điều tra phải được tiến hành theo đúng quy định của luật tố tụng hình sự.
Khi tội phạm được phát hiện, vụ án được khởi tố điều tra là thời điểm
quyền của Viện kiểm sát cũng được phát động. Đó là việc Viện kiểm sát tiến
hành kiểm sát hoạt động của cơ quan điều tra như khởi tố… Khi Viện kiểm

án; nhưng khi Tòa án trả hồ sơ theo quy định tại Điều 179 Bộ luật Tố tụng
hình sự thì Tòa án phải ra quyết định trả hồ sơ cho Viện kiểm sát mà không

11


Ket-noi.com
Ket-noi.com kho
kho tai
tai lieu
lieu mien
mien phi
phi

trả trực tiếp cho Cơ quan điều tra. Sở dĩ tố tụng hình sự quy định như vậy là
vì Viện kiểm sát là cơ quan truy tố bị can ra trước Tòa án chứ không phải là
Cơ quan điều tra, vì thế Tòa án nhận hồ sơ từ Viện kiểm sát chuyển đến, chứ
không phải là từ Cơ quan điều tra. Hơn nữa, Viện kiểm sát là cơ quan quyết
định chuyển hồ sơ cho Cơ quan điều tra hay tự mình điều tra bổ sung. Điều đó
cũng phù hợp với chức năng nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân tại các
Điều 104, 106, 108 và 109 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Đồng thời cũng phù
hợp với quy định của pháp luật tố tụng hình sự về giới hạn xét xử của Tòa án
tại Điều 196 Bộ luật Tố tụng hình sự: "Tòa án chỉ xét xử những bị cáo và
những hành vi theo tội danh mà Viện kiểm sát truy tố và Tòa án đã đưa ra xét
xử". Đó là các bị cáo, hành vi và tội danh trên phải do Viện kiểm sát truy tố
và đã được Tòa án quyết định đưa ra xét xử sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án
trong giai đoạn xét xử sơ thẩm.
Mặc dù mỗi cơ quan tiến hành tố tụng đều có chức năng, nhiệm vụ
riêng nhưng đều có một trách nhiệm, mục đích chung là: Xác định sự thật của
vụ án.

Thứ nhất, về thời điểm: Thời điểm Thẩm phán nghiên cứu hồ sơ vụ án
hình sự sơ thẩm ra quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung là trong khi nghiên
cứu hồ sơ và trước ngày mở phiên tòa xét xử sơ thẩm. Thời điểm Hội đồng
xét xử yêu cầu điều tra bổ sung là tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
và tại phòng nghị án.
Thứ hai, về điều luật áp dụng: Quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung
trong khi nghiên cứu hồ sơ trước ngày mở phiên tòa căn cứ vào Điều 176 và
một trong số các căn cứ tại Điều 179 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Quyết định yêu cầu điều tra bổ sung tại phiên tòa áp dụng Điều 199 và
một trong số các căn cứ của Điều 179 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003.
Thứ ba, về thẩm quyền quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung: Quyết
định trả hồ sơ để điều tra bổ sung trước khi xét xử sơ thẩm, thuộc thẩm quyền
Thẩm phán được phân công nghiên cứu hồ sơ vụ án. Quyết định yêu cầu điều
tra bổ sung tại phiên tòa thuộc thẩm quyền Hội đồng xét xử.
Thứ tư, về hậu quả pháp lý: Hậu quả pháp lý của trả hồ sơ để điều tra
bổ sung trong giai đoạn trước khi xét xử sơ thẩm là xóa sổ thụ lý vụ án. Hậu
quả pháp lý của trả hồ sơ để điều tra bổ sung tại phiên tòa là hoãn phiên tòa.
Phiên tòa sẽ được tiến hành khi có kết quả điều tra của Cơ quan điều tra và
Viện kiểm sát.
Tuy có những điểm giống và khác nhau nhưng trả hồ sơ để điều tra bổ
sung đều mục đích chung và cốt lõi nhất đó là việc làm sáng rõ nội dung, bản
chất của vụ án hình sự.
Về hậu quả việc trả hồ sơ để điều tra bổ sung:
- Vụ án tiếp tục đưa ra xét xử mà không bổ sung chứng cứ mới. Đó là
trong trường hợp Tòa án đã trả hồ sơ để yêu cầu điều tra bổ sung nhưng Viện

15


Ket-noi.com

kiểm sát truy tố lại và Tòa án cấp sơ thẩm xét xử lại vụ án theo thủ tục chung.
Giai đoạn giám đốc thẩm cũng không đặt ra vấn đề trả hồ sơ để điều
tra bổ sung nhưng theo quy định tại Điều 287 Bộ luật Tố tụng hình sự năm
2003, thì Hội đồng giám đốc thẩm có quyền hủy bản án hoặc quyết định đã có
hiệu lực pháp luật bị kháng nghị để điều tra lại hoặc xét xử lại.

16

Formatted: Indent: First line: 0.59", Space
Before: 6 pt, Line spacing: Exactly 22.7 pt,
Don't keep with next


Xuất phát từ điều luật này tại cấp Giám đốc thẩm, vụ án hình sự có thể

Formatted: Indent: First line: 0.59", Space
Before: 6 pt, Line spacing: Exactly 22.5 pt

bị hủy để điều tra lại do các nguồn sau: Tòa án tự kiểm tra phát hiện ra (tự
Tòa án đã xét xử sơ thẩm, phúc thẩm nhận thấy và kiến nghị lên cấp giám đốc
thẩm; Do Tòa án cấp trên kiểm tra nhận thấy); Do giải quyết khiếu nại (có
đơn yêu cầu kháng nghị giám đốc thẩm của cá nhân công dân, cơ quan tổ
chức...). Tuy vậy, cho dù xuất phát từ nguồn nào thì vụ án cũng chỉ có thể
xem xét theo thủ tục Giám đốc thẩm khi người có thẩm quyền có quyết định
kháng nghị giám đốc thẩm.Trong trường hợp hủy bản án hoặc quyết định bị
kháng nghị để điều tra lại hoặc để xét xử lại và xét thấy việc tiếp tục tạm giam
bị cáo là cần thiết, thì Hội đồng giám đốc thẩm ra lệnh tạm giam cho đến khi
Viện kiểm sát hoặc Tòa án thụ lý lại vụ án.
Quy định này của giai đoạn Giám đốc thẩm là phù hợp vì Giám đốc
thẩm không phải là một cấp xét xử theo nguyên tắc được quy định tại Điều 20

Trả hồ sơ để điều tra bổ sung là chế định của luật tố tụng hình sự quy
định Viện kiểm sát hoặc Tòa án chuyển trả hồ sơ cho Viện kiểm sát hoặc cơ
quan điều tra để điều tra thêm về vụ án hình sự. Theo các căn cứ được quy định
trong Bộ luật Tố tụng hình sự nhằm mục đích làm sáng tỏ vụ án hình sự, để Tòa
án xét xử vụ án một cách công minh, chính xác, khách quan, đúng người,
đúng tội, đúng pháp luật, không bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội.
1.2.2. Các căn cứ để trả hồ sơ điều tra bổ sung
1.2.2.1. Khi cần xem xét thêm những chứng cứ quan trọng đối với
vụ án mà Viện kiểm sát và Tòa án không thể bổ sung được
Theo quy định tại khoản 1 Điều 168 Bộ luật Tố tụng hình sự thì Viện
kiểm sát ra quyết định trả hồ sơ cho Cơ quan điều tra để điều tra bổ sung khi
nghiên cứu hồ sơ vụ án phát hiện thấy: Còn thiếu những chứng cứ quan trọng
đối với vụ án mà Viện kiểm sát không thể tự mình bổ sung được.
Điểm a khoản 1 Điều 179 Bộ luật Tố tụng hình sự cũng quy định
Thẩm phán ra quyết định trả hồ sơ cho Viện kiểm sát để điều tra bổ sung: Khi

19

Formatted: Indent: First line: 0.59", Space
Before: 6 pt, Line spacing: Exactly 22.3 pt



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status