ĐỀ TÀI NIÊN LUẬN
TÍNH KHOAN HỒNG CỦA
CHẾ ĐỊNH THI HÀNH HÌNH
PHẠT TỬ HÌNH TRONG LUẬT
TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM
A.PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Nhân đạo XHCN và chính sách khoan hồng được coi là một trong những nguyên
tắc cơ bản chi phối mọi hoạt động của Đảng và nhà nước ta. Kể từ khi sự nghiệp đổi mới
đất nước được Đảng và Nhà nước ta khởi xướng, đặc biệt là hiện nay, khi chúng ta đang
xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân
dân, vấn đề mở rộng nền dân chủ tăng cường pháp chế và các giá trị xã hội khác như
công bằng, bình đẳng, nhân đạo, cũng như bảo vệ một cách đầy đủ các quyền của công
dân, các quyền con người càng trở nên cấp bách. Điều đó đòi hỏi phải kịp thời hoàn thiện
các quy định của pháp luật nói chung, pháp luật Hình sự nói riêng nhằm đảm bảo tính
khoan hồng và nhân đạo XHCN.
Trước yêu cầu trên, pháp luật về thi hành án tử hình đã không ngừng thay đổi và
hoàn thiện nhằm bảo đảm tính nhân đạo và phù hợp với mục đích răn đe, giáo dục của
hình phạt này. Tử hình được coi là hình phạt nghiêm khắc nhất do nhà nước áp dụng đối
với người phạm tội để loại trừ người đó ra khỏi đời sống xã hội. Điều này cho thấy, hình
phạt tử hình không chỉ đơn thuần là một chế định pháp luật hình sự mà còn là một phạm
trù thuộc về chính trị, văn hóa, đạo đức, tâm linh rất sinh động. Các quy định của pháp
luật về hình phạt tử hình nói chung và thi hành hình phạt này nói riêng phải chứa đựng
các giá trị xã hội, trong đó có giá trị nhân đạo. Chính vì vậy, nghiên cứu tính khoan hồng
của chế định thi hành hình phạt tử hình trong luật tố tụng hình sự Việt Nam là rất cần
thiết để bảo vệ có hiệu quả các lợi ích xã hội, song phải đặt trong mối quan hệ lợi ích với
người bị kết án nhằm đảm bảo tính khoan hồng của pháp luật Hình sự nước ta.
Hơn nữa, thực tiễn thi hành hình phạt tử hình cũng đặt ra nhiều vấn đề vướng mắc
đòi hỏi khoa học luật tố tụng hình sự giải quyết nhằm đảm bảo tính khoan hồng như: Đối
tượng bị áp dụng hình phạt tử hình, vấn đề ân giảm án tử hình, việc gia đình người bị kết
Phương pháp luận của đề tài là quan điểm của chủ nghĩa Mác -Lênin, tư tưởng Hồ
chí Minh, đường lối, chính sách của Đảng về Nhà nước và pháp luật, những thành tựu
của khoa học kỹ thuật như: khoa học pháp lý, triết học, logich học…
Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp suy luận, phương pháp logich;
Phương pháp thống kê, tổng hợp;
Phương pháp so sánh, chứng minh;
Tham khảo ý kiến của các chuyên gia, tham khảo tài liệu, sách báo, tạp
chí…
Ngoài ra, còn sử dụng những phương pháp cần thiết khác.
5. Kết cấu đề tài
Ngoài phần mở đầu, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo và phần kết luận thì nội
dung gồm 2 chương:
Chương I. Một số vấn đề lý luận về tính khoan hồng của chế định thi hành hình
phạt tử hình trong luật tố tụng hình sự Việt Nam;
Chương II. Thực tiễn và một số giải pháp đảm bảo tính khoan hồng của chế định
thi hành hình phạt tử hình trong luật tố tụng hình sự Việt Nam;
B. PHẦN NỘI DUNG
Chương I. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ TÍNH KHOAN HỒNG CỦA
CHẾ ĐỊNH THI HÀNH HÌNH PHẠT TỬ HÌNH TRONG LUẬT TỐ TỤNG HÌNH
SỰ VIỆT NAM
1. Khái niệm, các hình thức thi hành hình phạt tử hình và ý nghĩa của chế
định thi hành hình phạt tử hình
1.1. Khái niệm thi hành hình phạt tử hình
Trước hết, để có thể đưa ra khái niệm thi hành hình phạt tử hình cần phải làm rõ
khái niệm hình phạt tử hình.
Trong hệ thống hình phạt trong luật hình sự Việt Nam, Tử hình là hình phạt
nghiêm khắc nhất, thể hiện mức độ trừng trị cao nhất của Nhà nước đối với người phạm
tội, bởi lẽ nó cướp đi quyền sống của người bị kết án, loại bỏ sự tồn tại của họ trong xã
hội. Theo Điều 35 BLHS năm 1999 thì: Tử hình là hình phạt đặc biệt, tước bỏ quyền
luật. Trong lịch sử tồn tại và phát triển, loài người đã thi hành nhiều hình thức tử hình.
Việc thi hành hình phạt tử hình nào cho phù hợp, phụ thuộc nhiều vào điều kiện kinh tế
xã hội, văn hóa của mỗi quốc gia. GS.TS người Nga A.Ph. Kixthiacopxki đã dày công
nghiên cứu về những hình thức thi hành hình phạt tử hình trong lịch sử và đưa ra 21 hình
thức thi hành hình phạt này chủ yếu đã dược loại người áp dụng như sau: 1) Treo cổ; 2)
Chặt đầu; 3)Đun trong vạc dầu; 4)Dùng bánh xe cán chết; 5) xé xác người bị kết án thành
những mảnh nhỏ; 6) Lột da cho đến chết; 7) chôn sống; 8) bóp cổ hoặc làm cho chết ngạt
trong bao tải; 9) Thiêu chết; 10) Mổ bụng, moi ruột; 11) Cho ngồi lên cọc nhọ hoặc dung
cọc nhọn đâm thủng người; 12) Đốt cổ họng bằng chì đun sôi; 13) Đẩy người bị kết án từ
đỉnh núi xuống vực; 14) Thắt cổ; 15) Voi dày, ngựa xéo; 16) Quăng cho hổ báo ăn thịt;
17) Dùng đá ném đến chết; 18)Cho chết đói chết khát; 19) Đầu độc chết; 20) Dùng gậy
đánh chết; 21) Xử bắn.
Từ sự thống kê này, A.Ph. Kixthiacopxki đã chia hình thức thi hành hình phạt tử
hình thành hai loại: loại hình thức thi hành hình phạt tử hình bình thường (treo cổ, xử
bắn…) và loại hình thức thi hành hình phạt tử hình đặc biệt ngoài việc tước sự sống của
người bị kết án, còn có mục đích làm đau đớn một cách thảm khốc cho họ như đun người
bị kết án trong vạc dầu, xé xác…
Hiện nay trên thế giới pháp luật tố tụng hình sự các nước quy định bảy hình thức
thi hành hình phạt tử hình như sau:
1. Xử bắn
Đây là hình thức thi hành hình phạt tử hình mang tính phổ biến nhất. Theo số liệu
của Tổ chức ân xá quốc tế có 86 quốc gia trên Thế giới áp dụng hình thức này. Việc xử
bắn có thể do một người hoặc một nhóm người thi hành. Trường hợp việc xử bắn do một
người thi hành, thì người đó dùng súng ngắn, bắn vào đầu người bị kết án ở cự ly ngắn,
làm người đó chết ngay. Trường hợp xử bắn do một nhóm người thi hành thì cự ly bắn
được thực hiện xa hơn.
2. Treo cổ
Đây là hình thức thi hành hình phạt tử hình bị tổ chức Ân xá quốc tế cho là
dã man và cần phải bãi bỏ, tuy nhiên vẫn còn 70 nước trên Thế giới áp dụng hình
thức này như Singapore, Ấn Độ, Nhật Bản…
tốn kém.
7. Tiêm thuốc độc
Đây là hình thức thi hành hình phat tử hình, trong đó người bị kết án bị buộc vào
một cái cáng, được đưa vào một phòng kín, rồi bị tiêm thuốc độc vào bắp thịt. Hình thức
này được áp dụng lần đầu tại Hoa kỳ năm 1977. Khi bị tiêm thuốc độc mạnh vào mạch
máu, người bị kết án sẽ bị chết trong khoảng thời gian từ 32 giây đến một phút. Tuy
nhiên đã xảy ra một số trường hợp người bị kết án không chết ngay do dụng cụ truyền
chất đọc trượt khỏi mạch máu hoặc thuốc độc không đủ mạnh khi pha chế. Hình thức tử
hình này được coi là nhân đạo và tiết kiệm hơn cả, được 34 bang của Hoa kỳ, Trung
Quốc, Việt Nam và các nước khác trên Thế giới áp dụng.
1.2.2. Ở Việt Nam
Trước năm 1945.
Thời kì này nước ta tồn tại chế độ phong kiến, và cũng như những nhà nước phong
kiến khác trên Thế giới, hình phạt ở nước ta với hệ thống ngủ hình ( xuy, trượng, đồ, lưu,
tử ), nhất là hình phạt tử hình mang nặng tính dã man, tàn bạo, là công cụ bảo vệ giai cấp
cầm quyền và nền độc lập quốc gia. Hình phạt tử hình được duy trì với nhiều hình thức
như: thắt cổ, chém đầu, chém bêu đầu, nấu trong vạc dầu, xẻo thịt cho đến chết…rất dã
man, nhằm gây ra cho người bị kết án những đau đớn tột cùng về thể xác. Nhìn chung,
Tử hình dưới chế độ phong khiến được giai cấp thống trị sử dụng như là một công cụ chủ
yếu chống lại các hành vi phạm tội, bảo vệ tuyệt đối quyền và lợi ích của giai cấp mình.
Vì vậy hình phạt tử hình được quy định với phạm vi rất rộng và nặng về tư tưởng trừng
trị.
Từ năm 1945 đến trước khi Luật thi hành án hình sự 2010 có hiệu lực
(01/07/2011).
Trong thời kỳ này, Nhà nước ta cũng đã quan tâm đến sự điều chỉnh pháp luật việc
thi hành hình phạt tử hình. Ngày 31-6-1946, Bộ Tư pháp đã ban hành thông tư số 498,
trong đó quy định: "Thi hành hình phạt tử hình từ nay dùng súng thay máy chém" . Quy
định về hình thức tử hình này thể hiện bản chất nhân đạo của chế độ mới, khác về chất so
với hình thức tử hình dã man dùng máy chém của chế độ thực dân phong kiến. Trong Quy
tắc trại giam được ban hành ngày 12-6-1951, đã quy định vấn đề chuẩn bị và kết thúc
bắn đã thể hiện sự tiến bộ và mang tính nhân bản hơn nhiều. Tuy nhiên, hình thức tử hình
này không nhân đạo và khoan hồng ở chổ làm cho thi thể bị cáo không còn nguyên vẹn,
và ảnh hưởng nhiều đến tâm lí, tư tưởng cán bộ thi hành án. Số cán bộ công an đã tham
gia xử bắn nhiều hoặc xử bắn các bị cáo nữ, hoặc trực tiếp được giao trói, bịt mắt, nhét
giẻ vào mồm bị cáo, hoặc được giao bắn viên đạn cuối cùng vào thái dương phạm nhân
đều ảnh hưởng đến tâm lí nhiều.
Từ khi Luật thi hành án hình sự 2010 có hiệu lực (01/07/2011) đến nay.
Luật thi hành án hình sự năm 2010 (có hiệu lực từ ngày 01/07/2011) đã quy định
hình thức tử hình mới đó là tiêm thuốc độc. Việc quy định chuyển từ hình thức xử bắn
sang tiêm thuốc độc thể hiện thái độ khoan hồng trong chủ trương đường lối của Đảng ta.
Việc tiêm thuốc độc thay hình thức xử bắn đối với tử tù đã được nhiều nước trên thế giới
áp dụng. Hình thức này ít gây đau đớn cho người bị thi hành án, đảm bảo tử thi còn
nguyên vẹn, ít tốn kém và giảm áp lực tâm lý cho người trực tiếp thi hành án (hiện do lực
lượng Cảnh sát hỗ trợ tư pháp thực thi).
Hình thức tử hình bằng tiêm thuốc độc có thể hiểu là tiêm vào người tử tội một
liều thuốc độc ( thường gồm 3 loại:một để gây mê, một để cơ bắp thịt và thần kinh ngưng
hoạt động và một để cho tim ngừng đập) để kết thúc sự sống của tử tội. Về cơ chế chết
trong phương thức thi hành hình phạt tử tội này là :làm cho tử tội ngủ, sau đó làm ngưng
thở và tim ngừng đập. Thường các tử tội chết trong vòng từ 32 giây đến 1 phút.
1.3. Ý nghĩa của chế định thi hành hình phạt tử hình trong luật tố
tụng hình sự Việt Nam
Chế định thi hành hình phạt tử hình lần đầu tiên được quy định trong Bộ luật tố
tụng hình sự năm 1988, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 của nước ta, có ý nghĩa về mặt
lập pháp hết sức to lớn. Nó đánh dấu sự trưởng thành về kỹ thuật lập pháp tố tụng hình sự
của nước ta. Việc nhận thức và áp dụng đúng đắn chế định thi hành hình phạt tử hình
trong thực tiễn là bảo đảm quan trọng cho việc thực hiện nguyên tắc pháp chế xã hội chủ
nghĩa trong lĩnh vực thi hành án hình sự, nhằm thi hành hình phạt tử hình đúng người,
không để xảy ra oan, sai trong lĩnh vực cực kỳ nhạy cảm này.
Trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự nói chung, thi hành
hình phạt tử hình nói riêng, đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc bảo đảm hiệu quả
của Nhà nước. Không có sự lãnh đạo của Đảng cộng sản thì không thể có độc lập dân
tộc; không có quyền làm chủ thực sự của nhân dân; không có Nhà nước của dân, do dân
và vì dân; không thể thực hiện được công bằng xã hội; không thể có chủ nghĩa xã hội.
Việc nâng cao hiệu quả áp dụng những quy định của pháp luật tố tụng hình sự về
thi hành hình phạt tử hình cũng vậy, phải quán triệt các quan điểm của Đảng về lĩnh vực
này. Để nâng cao hiệu quả việc áp dụng những quy định của pháp luật tố tụng hình sự về
thi hành hình phạt tử hình, cần nghiên cứu quán triệt các chủ trương của Đảng về thi hành
án hình sự nói chung, thi hành hình phạt tử hình nói riêng trong các văn kiện Nghị quyết
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, VIII, IX, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 (khóa
VII), Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3 (khóa VIII) và nhất là trong Nghị quyết số 08-
NQ/TW ngày 02-02-2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư
pháp trong thời gian tới, cụ thể, Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của
Đảng đã nêu rõ:
Cải cách tổ chức, nâng cao chất lượng và hoạt động của các cơ quan tư pháp,
nâng cao tinh thần trách nhiệm của cơ quan và cán bộ tư pháp trong công tác điều tra,
bắt giam giữ, truy tố, xét xử và thi hành án, không để xảy ta các trường hợp oan, sai.
Nghị quyết đã được các cấp ủy, tổ chức đảng lãnh đạo và tổ chức thực hiện với
quyết tâm cao, đạt được nhiều kết quả. Chất lượng hoạt động tư pháp đã được nâng lên
một bước, góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, tạo môi trường ổn
định cho sự phát triển kinh tế, hội nhập quốc tế.
Tuy nhiên, những kết quả đó mới là bước đầu và mới tập trung vào giải quyết
những vấn đề bức xúc nhất. Công tác tư pháp còn bộc lộ nhiều hạn chế. Chính sách hình
sự, chế định pháp luật dân sự và pháp luật về tố tụng tư pháp còn nhiều bất cập, chậm
được sửa đổi, bổ sung. Vẫn còn tình trạng oan, sai trong điều tra, bắt, giam giữ, truy tố,
xét xử. Chưa đáp ứng được đòi hỏi của công dân và xã hội đối với các cơ quan tư pháp
trong việc bảo vệ công lý, quyền con người và tính khoan hồng trong chính sách của
Đảng ta.
Trên tinh thần đó, Nghị quyết 49/NQ-TW ngày 02/06/2005 đã đặt ra nhiệm vụ về
cải cách tư pháp đến năm 2020 phù hợp với quá trình đổi mới công tác lập pháp và
chương trình cải cách hành chính với nội dung: Sớm hoàn thiện hệ thống pháp luật liên
mọi công dân, bảo đảm an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự an toàn xã hội, từ đó thúc đẩy
kinh tế - xã hội ngày càng phát triển. Đổi mới thi hành án nói chung, thi hành hình phạt
tử hình nói riêng, hiện đang được Đảng và Nhà nước coi là nhiệm vụ trọng tâm của cải
cách tư pháp. Kết quả của toàn bộ hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, có được thực hiện
trên thực tế hay không phụ thuộc vào hiệu quả thi hành án hình sự, trong đó có thi hành
hình phạt tử hình. Các nguyên tắc cơ bản của Nhà nước pháp quyền cũng đang đặt ra
những đòi hỏi mà một trong số đó là tôn trọng sự tối thượng của pháp luật, tôn trọng và bảo
đảm các quyền cơ bản của con người, trong đó có quyền được sống. Đây cũng là những yêu
cầu được đặt ra đối với thi hành hình phạt tử hình, khi một trong những yếu tố quyết định
hiệu quả thi hành án phụ thuộc vào ý thức chấp hành, tuân thủ nghiêm ngặt trình tự, thủ tục
thi hành hình phạt tử hình do pháp luật tố tụng hình sự quy định của các cơ quan có thẩm
quyền, của các cơ quan, tổ chức và công dân; thi hành hình phạt tử hình cũng phải được
thực hiện công bằng, bình đẳng, dân chủ, nhân đạo, không phân biệt người bị kết án là ai.
2.2. Tính khoan hồng trong chế định thi hành hình phạt tử hình theo quy
định của luật tố tụng hình sự Việt Nam
Tử hình là một hình phạt đặc biệt có nội dung cưỡng chế nghiêm khắc nhất, tước
bỏ quyền sống của người bị kết án, chỉ áp dụng đối với người phạm tội đặc biệt nghiêm
trọng. Bằng việc thi hành hình phạt tử hình, Nhà nước đã loại bỏ người bị kết án ra khỏi
đời sống xã hội. Tuy nhiên, tính mạng con người là vốn quý và được pháp luật bảo vệ, do
đó việc thi hành hình phạt tử hình đòi hỏi phải được thực hiện theo một trình tự, thủ tục
rất chặt chẽ, sai lầm trong việc thi hành hình phạt tử hình không thể chấp nhận được bởi
lẽ Nhà nước ta luôn đề cao tính nhân văn, nhân đạo XHCN và tiến tới bảo vệ quyền con
người.
Để thực hiện nguyên tắc nhân đạo XHCN, khi giải quyết vụ án hình sự, tòa án
phải cân nhắc lợi ích của nhà nước lợi ích xã hội và lợi ích của người bị kết án trong một
tổng thể thống nhất biện chứng hài hòa và hợp lí. Nội dung nhân đạo XHCN đòi hỏi phải
có một thái độ đúng đắn cả đối với lợi ích của toàn xã hội, của Nhà nước và của bị
cáo.Không thể nói đến tính nhân đạo và khoan hồng khi đề cao lợi ích của Nhà nước mà
hạ thấp lợi ích của bị cáo. Điều đó luôn được Đảng và Nhà nước ta thể hiện rõ nét trong
các chính sách hình sự nói chung và chế định thi hành án tử hình nói riêng.
việc có thể tha chết cho một tử tội nào đó không thuần túy là ý chí chủ quan thể hiện
quyền quyết định tối cao của một vị đứng đầu của nhà nước. Chế định ân giảm án tử hình
theo luật hình sự Việt Nam hiện đại trước tiên thể hiện tính nhân đạo, khoan hồng của
Đảng và nhà nước ta đối với mọi công dân, dù đó là người phạm tội bị tuyên án tử hình.
Mặc khác, quy định này còn thể hiện tính tích cực nhằm hạn chế đến mức thấp nhất khả
năng sai sót trong áp dụng án tử hình của cơ quan tư pháp. Với thủ tục ân giảm, nếu
người đứng đầu nhà nước - Chủ tịch nước, xét thấy việc áp dụng hình phạt tử hình đối
với người phạm tội là chưa thỏa đáng thì Chủ tịch nước sẽ chấp nhận đơn xin ân giảm.
Khoản 2 Điều 258 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 còn có một quy định mới so
với Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988:
Trong trường hợp bản án tử hình bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc
tái thẩm mà Hội đồng giám đốc thẩm, Hội đồng tái thẩm Tòa án nhân dân tối cao quyết
định không chấp nhận kháng nghị và giữ nguyên bản án tử hình, thì Tòa án nhân dân tối
cao phải thông báo ngay cho người bị kết án biết để họ làm đơn xin ân giảm án tử hình.
Quy định này bảo đảm quyền của người bị kết án được làm đơn xin ân giảm lên
Chủ tịch nước trong trường hợp bản án tử hình bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm
hoặc tái thẩm, nhưng bị cấp có thẩm quyền không chấp nhận kháng nghị và giữ nguyên
bản án tử hình. Đây cũng được coi là một trong những quy định rất nhân đạo của pháp
luật Hình sự Việt Nam.
Theo điều 35 BLHS 1999 (sửa đổi bổ sung 2009) “tử hình là hình phạt đặc biệt chỉ
áp dụng đối với người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng cho xã hội”. Tuy nhiên, không có
nghĩa là bất kỳ người phạm tội nào phạm tội đặc biệt nghiêm trọng thì cũng có thể áp
dụng hình phạt tử hình.
Xuất phát từ nguyên tắc của luật Hình sự là xét xử đúng người,đúng tội, đạt được
mục đích cao nhất của hình phạt và tính khoan hồng, pháp luật quy định hình phạt tử hình
chỉ áp dụng đối với những người phạm tội mà luật có quy định mức hình phạt cao nhất là
tử hình thì hình phạt tử hình mới có thể được áp dụng đối với họ. Đồng thời khi cân nhắc
giữa hình phạt tử hình và từ chung thân mà cảm thấy băn khoăn chưa biết nên áp dụng
hình phạt nào thì kiên quyết áp dụng hình phạt tù chung thân. Ngoài ra pháp luật hình sự
Việt Nam còn quy định những trường hợp không được áp dụng hình phạt tử hình đối với
Không áp dụng hình phạt tử hình đối với người chưa thành niên phạm tội, đối với
phụ nữ có thai hoặc phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi khi phạm tội hoặc khi bị
xét xử.
Không thi hành án tử hình đối với phụ nữ có thai, phụ nữ đang nuôi con dưới 36
tháng tuổi. Trong trường hợp này hình phạt tử hình được chuyển xuống tù chung thân .
Luật Hình sự quy định những đối tượng không phải áp dụng hình phạt tử hình
được quy định tại điều 35 BLHS gồm hai đối tượng:
• Không áp dụng hình phạt tử hình đối với người chưa thành niên phạm tội
Xuất phát từ những nhận định về người chưa thành niên, khoa học luật hình sự nói
chung và khoa học luật hình sự Việt Nam nói riêng quan niệm khi người chưa thành niên
phạm tội, điều đó không chỉ được quyết định bởi bản thân người chưa thành niên mà còn
thể hiện đó là sản phảm của môi trường sống, có nguyên nhân và điều kiện phát sinh
thuộc về gia đình và xã hội. Quan điểm đó chi phối chính sách hình sự là “việc xử lý
người chưa thành niên phạm tội chủ yếu nhằm giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm,
phát triển lành mạnh và trở thành công dân có ích cho xã hội” (Điều 69 BLHS hiện
hành). Cụ thể, về mức hình phạt quy định cho người chưa thành niên bao giờ cũng thấp
hơn người đã thành niên đối với người cùng một tội phạm. Đặc biệt, đối với những loại
hình phạt có tính chất quá nghiêm khắc, ít tạo cơ hội hoặc không có cơ hội để người bị
kết án sữa chữa sai lầm, phấn đấu trở thành người tốt sẽ không được áp dụng đối với
người chưa thành niên phạm tội. Hiện nay, một số vụ án giết người nghiêm trọng mà
người thực hiện hành vi đó là người chưa thành niên khiến dư luận bức xúc. Tuy nhiên,
ông Vũ Quốc Việt, nguyên Vụ trưởng Vụ pháp luật Hình sự - Hành chính, Bộ Tư pháp,
(Trưởng ban biên soạn BLHS 1999) cho rằng, không thể sửa luật để tử hình vì như thế là
vi phạm nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa. Theo luật định, việc xử lý người chưa
thành niên phạm tội chủ yếu nhằm giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành
mạnh và trở thành công dân có ích cho xã hội. Đây là nguyên tắc bao trùm mang tính
chất chỉ đạo thể hiện chính sách hình sự của Đảng và Nhà nước Việt Nam lấy giáo dục
làm nền tảng, trọng tâm trong quá trình xử lý vụ án mà bị can, bị cáo là người chưa thành
niên.
• Không áp dụng hình phạt tử hình đối với phụ nữ có thai hoặc phụ nữ đang
này cũng phù hợp với Công ước về các quyền dân sự và chính trị ngày 16-12-1996 về
việc: "Không được phép tuyên án tử hình đối với người phạm tội dưới 16 tuổi và không
được thi hành đối với phụ nữ đang có thai". Như vậy so với Công ước này, thì pháp luật
hình sự và pháp luật tố tụng hình sự nước ta áp dụng triệt để hơn nguyên tắc nhân đạo đối
với phụ nữ và đối với người chưa thành niên.
Sau khi kiểm tra căn cước người bị kết án, thực hiện truyền thống nhân đạo của
dân tộc, trước khi thi hành án, người bị kết án được ăn bữa cơm cuối cùng. Điều 8 Nghị
định 82/2011 /NĐ-CP Quy định: “Người bị đưa ra thi hành án tử hình được hưởng tiêu
chuẩn ăn, uống bằng 5 lần tiêu chuẩn của ngày Lễ, Tết quy định đối với người bị tạm
giam”. Đây là một quy định thể hiện thái độ rất khoan hồng của nhà nước dành cho tử
tội.
Khoản 2, 3, 4 Điều 259 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 quy định:
2- Trước khi thi hành án phải giao cho người bị kết án đọc quyết định thi hành án,
quyết định không kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao và quyết định không
kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; nếu người bị kết án đã có
đơn xin ân giảm án tử hình thì giao cho họ đọc bản sao quyết định của Chủ tịch nước
bác đơn xin ân giảm.
3- Hình phạt tử hình được thi hành bằng xử bắn.
4- Việc thi hành án tử hình phải được lập biên bản ghi rõ việc đã giao các quyết
định cho người bị kết án xem, những lời nói của họ và những thư từ, đồ vật mà họ gửi lại
cho người thân thích.
Hội đồng thi hành án phải giao cho người bị kết án đọc quyết định thi hành án,
quyết định không kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao và của Viện trưởng
Viện kiểm sát nhân dân tối cao và bản sao quyết định bác đơn xin ân giảm án tử hình của
Chủ tịch nước nếu người bị kết án có làm đơn xin ân giảm. Điều này thể hiện sự tôn
trọng quyền của người bị kết án được biết về những quyết định liên quan đến mình.
Trong trường hợp người bị kết án không biết đọc hoặc cố tình không đọc các
quyết định nói trên, thì Chủ tịch Hội đồng thi hành án cử Thư ký đọc cho họ nghe, việc
này phải được thể hiện trong biên bản.
Hội đồng thi hành án hỏi người bị kết án xem họ có đề nghị gì, cho phép họ được
xử bắn đối với tử tù đã được nhiều nước trên thế giới áp dụng. Hình thức này ít gây đau
đớn cho người bị thi hành án, đảm bảo tử thi còn nguyên vẹn, ít tốn kém và giảm áp lực
tâm lý cho người trực tiếp thi hành án (hiện do lực lượng Cảnh sát hỗ trợ tư pháp thực
thi).
Hình thức tiêm thuốc độc thể hiện tính khoan hồng vì không tạo ra những cảnh
man rợ như đầu rơi, máu chảy, phạm nhân không phải gào thét vì đau đớn. Hình thức tử
hình này được nhiều nước trên thế giới áp dụng vì được coi là một cách chết nhẹ nhàng
giống như người tự sát uống thuốc ngủ hoặc uống thuốc độc chết. Như vậy chính sách
hình sự nước ta đã đề cao lợi ích của bị cáo trong việc lựa chọn hình thức tử hình.
Pháp luật hình sự Việt Nam còn quy định cho tử tội và nhân thân của phạm nhân
được hưởng chế độ mai táng phí cùng với các chi phí mai táng. Chi phí mai táng được
quy định tại điều 9 Luật thi hành án hiện hành, bao gồm: 01 quan tài bằng gỗ thường, 01
bộ quần áo thường, 04 m vải liệm, hương, nến, rượu, cồn để làm vệ sinh khi liệm tử thi
và các chi phí mai táng khác.
Không những vậy, theo luật thi hành án tử hình mới, trước khi thi hành án, thân
nhân hoặc người đại diện của người bị xử tử được gửi đơn đến Chánh án tòa án đã xét xử
sơ thẩm đề nghị cho nhận tử thi về mai táng. Đây là một điểm mới thể hiện tính nhân đạo
trong chủ trương chính sách mới của Đảng trong giai đoạn cải cách tư pháp so với trước
đây, khi thực hiện hình thức thi hành án tử hình bằng xử bắn được quy định trong
BLTTHS 2003. Đây là một quy định mới thể hiện rõ chính sách khoan hồng của nhà
nước ta trong pháp luật về thi hành án tử hình. So với trước đây, pháp luật không quy
định cho nhân thân của người phạm tội được nhận tử thi về mai táng, vì với hình thức tử
hình là xử bắn, thi thể của phạm nhân không còn nguyên vẹn, nếu cho nhân thân của họ
nhìn thấy xác phạm nhân sau khi tử hình sẽ ảnh hưởng rất lớn đến tinh thần của họ. Vì
thế, pháp luật quy định, sau 3 năm kể từ ngày tử tội được mai táng theo quyết định của
hội đồng thi hành án, thì nhân thân của họ mới được nhận xác chết tử tội.
Còn với hình thức tử hình bằng tiêm thuốc độc, bảo đảm không còn cảnh tượng
đầu rơi máu chảy, hay thi thể không còn nguyên vẹn như trước đây. Với phương thức
này, tử tù sẽ ít đau đớn hơn ,tử thi cũng đảm bảo được giữ nguyên vẹn, không chảy
máu.Việc tử hình bằng tiêm thuốc độc thể hiện ân huệ của nhà nước cuối cùng ban cho tử
năng giáo dục cải tạo họ. Hơn nữa, do trình độ văn hóa và ý thức pháp luật của nước ta
còn kém, tình hình tội phạm và tệ nạn xã hội còn nhiều diễn biến phức tạp,nhiều đối
tượng bất chấp thủ đoạn thực hiện những tội phạm có tính nguy hiểm cao cho xã hội. Vì
vậy việc chạy theo xu thế xóa bỏ hình phạt tử hình trên thế giới là không phù hợp. Tuy
nhiên để duy trì và áp dụng hình phạt này có hiệu quả cần phải hoàn thiện về mặt nội
dung của nó trong bộ luật hình sự cũng như các điều kiện khác nhằm bảo đảm cho công
tác thi hành hình phạt này.
2. Thực tiễn áp dụng hình phạt tử hình
2.1. Trên thế giới.
Trong nhiều thập kỉ trở lại đây, nhân laoị càng tiến bộ, xã hội càng phát triển, cùng
với đó, việc quy định và áp dụng hình phạt tử hình ngày càng thu hẹp. Ngày càng nhiều
quốc gia và vùng lãnh thổ xóa bỏ hình phạt tử hình. Theo kết quả các nghiên cứu gần
đây, con số quốc gia xóa bỏ hình phạt tử hình ngày càng tăng lên. Tính từ năm 1990 đến
2009 đã có trên 49 quốc gia xóa bỏ hình phạt tử hình đối với tất cả các tội phạm. Theo số
liệu thống kê mới nhất, hiện nay, 95 quốc gia và vùng lãnh thổ đã xóa bỏ hình phạt tử
hình đối với tất cả các tội phạm; 9 quốc gia xoa bỏ hình phạt tử hình đối vói các tội phạm
thường, chỉ giữ lại đối với tội phạm chiến tranh; 35 quốc gia còn duy trì hình phạt tử hình
trong luật nhưng chưa bao giờ áp dụng trong 10 năm trở lại đây, chỉ còn 58 quốc gia và
vùng lãnh thổ còn duy trì hình phạt tử hình trong luật và có áp dụng trên thực tế.
Theo Tổ chức Ân xá quốc tế, trong những năm gần đây, hình phạt tử hình chủ yếu
được tiến hành ở Trung Quốc, Iran, Hoa Kỳ, Singapore…(khoảng 85% số người bị tử
hình trên toàn Thế giới). Trong khi đó, Châu Âu được xem là châu lục ủng hộ mạnh mẽ
nhất việc xóa bỏ hình phạt tử hình. Đây là tiêu chí quan trọng cho việc gia nhập Liên
minh Châu Âu. Hiện nay ở Châu Âu, 32/33 quốc gia đã xóa bỏ hình phạt tử hình, chỉ còn
lại Látvia, tuy nhiên quốc gia này chỉ giữ hình phạt tử hình đối với những trường hợp
ngoại lệ, như phạm tội theo Thiết quân luật.
Có thể nói, xu thế xóa bỏ hình phạt tử hình trong luật hoặc trên thực tế ngày càng
tăng nhanh, điều đó cho thấy ngày nay xã hội đã văn minh hơn, tiến bộ hơn. Cùng với đó,
quyền con người cũng như tính nhân đạo, khoan hồng trong pháp luật, nhất là trong việc
quy định về hình phạt tử hình ngày càng được chú trọng và mở rộng hơn thể hiện ở việc
bằng xử bắn dẫn đến việc phải xây dựng pháp trường. Hiện nay, trong số 64 địa phương
trong cả nước, mới có 07 địa phương có pháp trường cố định, 18 địa phương do thi hành
hình phạt tử hình nhiều mà tự hình thành pháp trường, số địa phương còn lại chưa có
pháp trường, mỗi lần thi hành hình phạt tử hình phải đi liên hệ, nhờ pháp trường.
Bảy địa phương có pháp trường cố định là: Hà Nội, Lào Cai, Quảng Nam, Lai
Châu, Kon Tum, Lạng Sơn, Bà Rịa - Vũng Tàu, có những thuận lợi cơ bản, đó là: bảo
đảm mức độ an toàn cao cho việc thi hành hình phạt tử hình.18 địa phương do thi hành
hình phạt tử hình nhiều mà tự hình thành pháp trường, đó là: Hà Nam, Thái Nguyên, Bắc
Ninh, Tây Ninh, Thành phố Hồ Chí Minh, Cao Bằng, Đà Nẵng, Bắc Cạn, Ninh Bình, Hải
Phòng, Đồng Nai, Cà Mau, Đắc Lắc, Bắc Giang, Sơn La, Phú Thọ, Quảng Bình và Gia
Lai.