Vấn đề tạm giữ trong Luật tố tụng hình sự Việt Nam
1. Khái niệm chung
Xuất phát từ đặc trưng của quan hệ xã hội là đối tượng điều chỉnh của luật
TTHS. Đó là những quan hệ luôn có 1 bên là quyền lực cơ quan Nhà nước
có trách nhiệm và quyền hạn giải quyết các vụ án hình sự, mặt khác tội
phạm là hành vi nguy hiểm không chỉ cho riêng một cá nhân nào mà hành vi
nguy hiểm cho xã hội, nguy hiểm cho lợi ích chung của cộng đồng, do vậy
trong tố tụng hình sự các cơ quan có thẩm quyền có quyền áp dụng các biện
pháp cưởng chế để tác động tới đối tựợng. Đặc điểm chung của các biện
pháp cưởng chế là sự tác động một chiều không phụ thuộc vào ý trí của bên
bị tác động xuất phát từ những căn cứ điều kiện do pháp luật quy định.
Tùy thuộc vào mục đích áp dụng, đối tượng áp dụng hoặc những tiêu chuẩn
khác mà các nhà làm luật phân chia các biện pháp cưỡng chế thành những
nhóm khác nhau và trong mỗi nhóm lại có những biệm pháp khác nhau, vói
những trình tự thủ tục khác nhau : bao gồm 2 nhóm chính. Nhóm các biện
pháp ngăn chặn và nhóm các biện pháp điều tra.
Những biện pháp cưỡng chế điều tra có mục đích nhằm thu thập chứng cứ
của vụ án làm căn cứ xem xét việc truy cứu THHS đối với người phạm tội,
ví dụ như biện pháp khám xét có thể áp dụng đối với khám người, khám đồ
vật, thư tín, khám chổ ở, địa điểm hoặc như biện pháp kê biên tài sản, tạm
giữ đồ vật, tài liệu… theo Điều 79 BLTTHS 2003 bao gồm các biện pháp
sau: Bắt ( bao gồ bắt người trong trường hợp khẩn cấp, bắt người trong
trường hợp phạm tội quả tang, bắt người bị truy nã và bắt bị can bị cáo để
tạm giữ, tạm giam cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh đặt tiền hoặc tài sản để
bảo đảm, như vậy tạm giữ là một trong những biện pháp ngăn chặn được
quy định trong BLTTHS hiện hành. Vấn đề đặt ra là biện pháp tạm giữ được
áp dụng với những trường hợp nào.
a. Đối tượng tạm giữ
Điều 86 BLTTHS 2000 quy định về đối tượng, căn cứ và thẩm quyền áp
dụng Biện pháp ngặn chặn tạm giữ. Theo quy định của điều luật này thì tạm
giữ là việc cơ quan và người có thẩm quyền ra quyết định tạm thời hạn chế
thấy biện pháp tạm giữ có thể được áp dụng với các đối tượng bị bắt khẩn
cấp, bắt quả tang, bắt truy nã, người đầu thú, tự thú chứ không bắt buộc, nói
cách khác, sau khi bị bắt trong các trường hợp nêu trên, người bị bắt có thể
bị tạm giữ hoặc không bị tạm giữ. Tinh thần này đã được quy định tại Điều
83 của BLTTHS. Khoản 1 Điều 83 quy định “ Sau khi bắt hoặc nhận người
bị bắt trong trường hợp khẩn cấp, hoặc phạm tội quả tang, cơ quan điều tra
phải lấy lời khai ngay trong thời hạn 24 giờ phải ra quyết định tạm giữ hoặc
trả tự do cho người bị bắt”. Như vậy, biện pháp tạm giữ là một BPNC độc
lập, việc quy áp dụng biện pháp này phải có những căn cứ nhất định chứ
không phụ thuộc vào biện pháp bắt, nói cách khác, biện pháp tạm giữ không
phải là biện pháp ngăn chặn bắt buộc phải áp dụng sau khi bắt người. Vấn đề
đặt ra là khi nào cơ quan có thẩm quyền có thể ra quyết định tạm giữ? Còn
khi nào không cần thiết tạm giữ? Do vậy nên chăng cần quán triêt mục đích
của tạm giữ trong TTHS. Mặc dù trong BLTTHS không quy định rõ mục
đích của việc tạm giữ nhưng qua các điều luật về tạm giữ cho thấy việc tạm
giữ người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang, người tự
thú, đầu thú là nhằm có điều kiện để tiếp tục xác minh thêm về hành vi phạm
tội của người bị bắt, người ra tự thú, đầu thú để làm rõ thêm căn cứ của việc
khởi tố vụ án cũng như khởi tố bị can đối với người họ. Tinh thần này cũng
đã được thể hiện qua các quy phạm tại các Điều như Điều 83 Điều 87 của
BLTTHS. Khoản 3 Điều 87 quy định: “ Trong khi tạm giữ, nếu không đủ
căn cứ khởi tố bị can thì phải trả tự do cho người bị tạm giữ”. Như vậy sau
khi bị bắt trong trường hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quà tang , hoặc khi
người phạm tội ra đầu thú, tự thú thì họ không thể không bị tạm giữ trong
các trường hợp sau đây:
- Các cơ quan có thẩm quyền xác đinh được ngay việc bắt khẩn cấp hoặc bắt
quả tang đối với họ là không có căn cứ.
- Ngay sau khi bắt người khẩn cấp hoặc bắt người phạm tội quả tang, ngay
sau khi có người ra tự thú, đầu thú các cơ quan có thẩm quyền đã xác định
được đầy đủ căn cứ để có thể khởi tố đối với người bị bắt, người tự thú, đầu
hoặc Tòa án đã có trách nhiệm thực hiện theo đúng hướng dẫn tại điểm 1
hoặc điểm 2 của Thông tư này. ( Điểm 1 và Điểm 2 của Thông tư số 03 có
tinh thần chung là quy định Cơ quan điều tra nơi bắt người bị truy nã phải
tiến hành lấy lời khai của người bị bắt và sau đó ra lệnh tạm giữ đối với bj
can và giải ngay người đó đến trại giam nơi gần nhất. Trại giam có trách
nhiệm tiếp nhận và tạm giữ bị can. Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi nhận
được thông báo của cơ quan điều tra về kết quả truy nã là đã bắt được bị can
thì viện kiểm sát hoặc Tòa án đã yêu cầu truy nã phải ra quyết định tạm giam
đối với bị can và tiếp tục tiến hành những công việc theo thủ tục chung
nhằm bảo đảm việc quy định của pháp luật ). Trong trường hợp trước ngày
hết thời hạn tạm giữ ( tối đa là 9 ngày ) mà trại tạm giam vẫn không nhận
được quyết định tam giam của Viện kiểm sát hoặc của Tòa án đã có yêu cầu
truy nã đối với người bị bắt thì trại tạm giam cần báo ngay cho cơ quan điều
tra nơi đã bắt được người bị truy nã. Ngay sau khi nhận được thông báo của
trại tạm giam, cơ quan điều tra nơi đã bắt được người bị truy nã có trách
nhiệm yêu cầu cơ quan điều tra đã ra quyết định truy nã đến nhận ngay
người bị bắt hoặc tự mình áp giải người bị bắt đến cơ quan điều tra đã ra
quyết định truy nã.
Theo tinh thần của Thông tư số 03 nói trên thị việc tạm giữ có thể áp dụng
đối người bị bắt truy nã, tức là người có áp dụng đối với bị can, bị cáo,
người bị thi hành án mà trốn tránh, nói cách khác, đối tượng có thể áp dụng
biện pháp tạm giữ không chi là những người bị bắt trong trường hợp khẩn
cấp hoặc phạm tội quả tang mà có thể áp dụng cả đối với người bị bắt theo
lệnh truy nã. Tất nhiên trong trường hợp này thì mục đích của biện pháp tạm
giữ là nhằm tạo điều kiện về thời gian để cơ quan nơi đã ra lệnh truy nã đến
nhận lại người bị bắt theo lệnh hoặc theo yêu cầu truy nã của họ. Rõ ràng
việc tạm giữ người trong trường hợp này là cần thiết và vấn đề này đã được
bổ sung vào trong quy định của BLTTHS 2003.
b. Về thẩm quyền ra quyết định tạm giữ.
Khoản 2 Điều 86 BLTTHS quy định “ Những người có quyền ra lệnh bắt
tạm giữ.
Theo các quy định nêu trên, cách tính thời hạn trong TTHS đã quy định khi
tính thời hạn theo ngày tháng thì thời hạn sẽ hết vào lúc 24 giờ, do vậy trong
cách tính thời han tạm giữ, thời điểm ra lệnh tạm giữ chỉ có ý nghĩa để tính
ngày bị tạm giữ chứ không có ý nghĩa tính giờ bị tạm giữ, nói cách khác mặc
dù các cơ quan có thẩm quyền ra quyết định tạm giữ vào lúc mấy giờ nhưng
thời hạn tạm giữ chỉ hết vào lúc 24 giờ của ngày hết hạn. Việc BLTTHS quy
định hai lần có thể gia hạn tạm giữ nhằm bảo đảm tính có căn cứ và cần thiết
của việc tạm giữ, hạn chế hiện tượng tạm giữ tràn làn, góp phần bảo đảm
quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tạm giữ, do vậy đòi hỏi người áp
dụng pháp luật phải nhận thức rõ vấn đề này để bảo đảm áp dụng pháp luật
được tốt.
Trong quy định cũng như nhận thức về thời hạn tạm giữ cũng phát sinh một
số vấn đề đòi hỏi cần có nhận thức thống nhất. Một số vấn đề cần giải thích
kịp thời.
Thứ nhất: Theo quy định của Điều 87, thời hạn tạm giữ được tính từ thời
điểm cơ quan điều tra nhận người bị bắt. Về khái niệm chúng ta thấy rằng,
trong BLTTHS chỉ dung khái niệm Cơ quan điều tra để chỉ các cơ quan điều
tra sau: Cơ quan điều tra của lực lượng cảnh sát, Cơ quan điều tra của lực
lượng công an nhân dân, Cơ quan điều tra trong Quân đội và Cơ quan điều
tra của Viện kiểm sát. Nếu thời hạn tạm giữ chỉ được tính từ khi “cơ quan
điều tra” nhận người bị bắt thì sẽ phát sinh hiện tượng có những cơ quan và
người có thẩm quyền ra quyết định tạm giữ ( như chỉ huy đơn vi quân đội
độc lập cấp trung đoàn, người chỉ huy đồn biên phòng ở hải đảo và biên giói,
người chỉ huy máy bay, tàu bay trên biển khi máy bay tàu biển đã rời khỏi
sân bay bến cảng ) nhưng quyết định tạm giữ của những cơ quan và những
người đó lại không được tính thời hạn, quyết định tạm giữ của họ chỉ bắt đầu
khi họ được giao người bị bắt và và bị tạm giữ đó cho “Cơ quan điều tra” có
thẩm quyền. Như vậy ở đây phát sinh hiện tượng có cơ quan ra quyết định
tạm giữ, có người bị tạm giữ nhưng quyết định tạm giữ của họ không được
hợp phạm tội quả tang hoặc người đang bị truy nã, người phạm tội tự thú,
đầu thú nhằm ngăn chặn tội phạm, tạo điều kiện cho việc xử lý tội phạm
được chính xác cao kịp thời”
Viện kiểm sát ra quyết định hủy bỏ lệnh tạm giữ trong những trường hợp sau
đây:
- Người bị tạm giữ không phải là người bị bắt quả tang trong trường hợp
khẩn cấp, trường hợp phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã và không phải
là người phạm tội tự thú, đầu thú.
- Người bị tạm giữ chỉ có những vi phạm nhỏ, tính chất nguy hiểm cho xã
hội không đáng kể, chưa đến mức phải truy cứu trách nhỉệm hình sự:
- Người bị tạm giữ trong trường hợp phạm tội quả tang nhưng sự việc phạm
tội nhỏ, tính chất ít nghiêm trọng, người bị tạm giữ có nơi cư trú rõ ràng và
không có biểu hiện sẽ trốn hoặc cản trở công việc điều tra.
Vậy khoản 2 Điều 86 BLTTHS 2003 đã bổ sung quy định chỉ huy trưởng
vùng cảnh sát biển có quyền ra quyết định tạm giữ.
2. Những bất cập còn tồn tại trong việc quy định về biện pháp tạm giữ trong
BLTTHS 2003
Tuy BLTTHS 2003 đã có sửa đổi bổ sung rất nhiều so với BLTTHS 1988,
và đã có sự chặt chẽ hơn. Tuy nhiên thực tiễn áp dụng các quy định về biện
pháp tạm giữ vẫn còn nhỉều bất cập, đã gây không ít khó khăn cho những
hoạt động áp dụng các quy định trên.
a. Về đối tượng bị áp dụng đối với biện pháp tạm giữ.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 86 BLTTHS 2003 thì tạm giữ có thể áp
dụng đối với người phạm tội tự thú, đầu thú. Mà như chúng ta đã biết, người
phạm tội tự thú, đầu thú không phải là người phạm tội vì bị bắt mà họ tự
nguyện trình diện khai báo hành vi phạm tội. Họ không phải là người bị bắt.
Chính vì vậy, việc khoản 1 Điều 86 quy định “Tạm giữ có thể áp dụng đối
với người phạm tội tự thú, đầu thú hoặc người bị bắt theo quyết định truy
nã”. Vô hình chung đã coi người phạm tội tự thú, đầu thú là người bị bắt,
điều này là không hợp lý.
không được quá ba ngày. Vậy câu hỏi đặt ra là từ “ngày” trong cụm từ “ba
ngày” được hiểu như thế nào? Có bao gồm cả ngày và đêm là 24 giờ hay chỉ
là 12 giờ? Điều luật này chưa có quy định rõ , cần có sự quy định rõ ràng
hơn.
Thứ ba: Theo quy định tại khoản 1 Điều 87 BLTTHS thì thời hạn tạm giữ
không được quá ba ngày kể từ ngày cơ quan điều tra nhận người bị bắt. Điều
này có nghĩa là thời điểm tạm giữ được tính từ ngày cơ quan điều tra nhận
người bị bắt. Mà theo quy định tại điểm C, Điều 81 BLTTHS thì; Người chỉ
huy tàu bay, tàu biển khi tàu bay, tàu biển đã rời sân bay, bến cảng mới có
quyền ra lệnh bắt trong trường hợp khần cấp, và có quyền ra quyết định tạm
giữ theo khoản 2 Điều 86 BLTTHS. Tuy nhiên câu hỏi đặt ra là : Trong
trường hợp tàu bay thì có thể kịp thời hạn để giao hạn để giao người bị tạm
giữ cho cơ quan điều tra, nhưng trong một số trường hợp tàu biển thì khó có
thể về kịp thời hạn để giao người bị tạm giữ cho cơ quan điều tra. Vậy trong
trường hợp này thời hạn tạm giữ sẽ được tính như thế nào? Điều này chưa
được luật quy định.
d. Về gia hạn tạm giữ
Theo khoản 2 Điều 87 BLTTHS quy định: “ trường hợp cần thiết, người ra
quyết định tạm giữ có thể gia hạn tạm giữ nhưng không được quá 3 ngày;
trong trường hợp đặc biệt, người ra quyết định tạm giữ có thể gia hạn tạm
giữ hai lấn nhưn không được quá 3 ngày…”
Quy định này sẽ giúp cho người hoạt động điều tra có hiệu quả hơn. Tuy
nhiên luật cần nêu rõ: Trong trường hợp cần thiết đề ra quyết định tạm giữ là
những trường hợp nào? Mức độ cụ thể ra sao? Do luật chưa có quy định rõ
điều này nên trong thực tiễn áp dụng có thể dẫn tới sự áp dụng không thống
nhất quy đinh nảy trong việc gia hạn tạm giữ.
Mặt khác cần quy định rõ hơn “ trong trường hợp đặc biệt, người ra quyết
định tạm giữ có thể gia hạn tạm giữ hai lần nhưng không được quá ba
ngày” . Nếu quy định như trên thì nên hiểu “ hai lần” mỗi lần không được
quá ba ngày hay nên hiều “ hai lần” nhưng tổng thời gian hai lần đó là không