LUẬN VĂN: Chế định hợp tác quốc tế trong luật tố tụng hình sự Việt Nam - Pdf 15

LUẬN VĂN:

Chế định hợp tác quốc tế trong luật tố
tụng hình sự Việt Nam
Mở đầu
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Trong điều kiện Việt Nam đổi mới, mở cửa, hội nhập kinh tế quốc tế và khu

trung nghiên cứu một cách thỏa đáng, và xung quanh chế định này, còn nhiều ý kiến
khác nhau, thậm chí trái ngược nhau.
Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài " Chế định hợp tác quốc tế trong luật tố tụng
hỡnh sự Việt Nam ", mang tính cấp thiết, không những về lý luận, mà còn là đòi hỏi
thực tiễn nhằm nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự ở Việt Nam.
2. Tình hình nghiên cứu
Hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự là vấn đề quan trọng và nhạy cảm, đã
được một số nhà luật học, cơ quan ở trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu. Viện
Nghiên cứu khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp có đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ "Cơ
sở lý luận và thực tiễn xây dựng pháp lệnh tương trợ tư pháp quốc tế" (Bộ Tư pháp,
Hà Nội, 2000); Tổng cục Cảnh sát, Bộ Công an có đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ:
"Dẫn độ tội phạm và tương trợ tư pháp hình sự trong phòng chống tội phạm ở Việt
Nam - thực trạng và giải pháp" (Bộ Công an, Hà Nội, 2000); Bùi Anh Dũng - Học
viện Cảnh sát nhân dân, Bộ Công an có luận văn thạc sĩ luật học: "Quan hệ phối hợp
giữa lực lượng Cảnh sát nhân dân Việt Nam với Cảnh sát nước ngoài trong đấu tranh
phòng, chống tội phạm" (Học viện Cảnh sát nhân dân, Hà Nội, 2000)
Các công trình nói trên đã đề cập đến các khía cạnh khác nhau về hợp tác quốc
tế trong đấu tranh phòng, chống tội phạm, tương trợ tư pháp hình sự, nhưng chưa có
công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện và có hệ thống về chế định hợp tác quốc
tế trong luật tố tụng hình sự, cũng như thực tiễn hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự
ở Việt Nam hiện nay.
3. Mục đích, nhiệm vụ, đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
Mục đích nghiên cứu
Mục đích của luận văn là trên cơ sở lý luận và thực tiễn hợp tác quốc tế trong
tố tụng hình sự, đề xuất hệ thống các giải pháp nâng cao hiệu quả việc áp dụng những
quy định của pháp luật tố tụng hình sự về hợp tác quốc tế.
Nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn

tế của các cơ quan bảo vệ pháp luật.
Cơ sở phương pháp luận của luận văn là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ
nghĩa duy vật lịch sử. Trong khi thực hiện đề tài, các phương pháp hệ thống, phân
tích, tổng hợp, lịch sử, lôgíc, thống kê, so sánh pháp luật, xã hội học đã được sử
dụng để hoàn thành các nhiệm vụ mà tác giả luận văn đã đặt ra.
5. Những đóng góp mới của luận văn
Đây là công trình chuyên khảo đầu tiên trong khoa học pháp lý Việt Nam ở
cấp độ luận văn thạc sĩ luật học, nghiên cứu một cách tương đối toàn diện và tương
đối có hệ thống về chế định hợp tác quốc tế trong luật tố tụng hình sự Việt Nam. Có
thể xem những nội dung sau đây là những đóng góp mới của luận văn:
- Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự.
- Phân tích làm rõ thực trạng các quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện
hành về hợp tác quốc tế và thực tiễn áp dụng ở nước ta.
- Nghiên cứu, so sánh các quy định của pháp luật tố tụng hình sự của nước ta
về hợp tác quốc tế với những quy định tương ứng trong pháp luật tố tụng hình sự của
một số nước trên thế giới để rút ra những giá trị hợp lý về hoạt động lập pháp tố tụng
hình sự.
- Đề xuất phương hướng nâng cao hiệu quả việc áp dụng các quy định của
pháp luật tố tụng hình sự về hợp tác quốc tế.
6. ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Kết quả nghiên cứu và những giải pháp được đề xuất trong luận văn có ý
nghĩa quan trọng đối với cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm nói chung, hợp tác
quốc tế trong tố tụng hình sự nói riêng. Thông qua hệ thống các giải pháp, tác giả
mong muốn đóng góp phần nhỏ bé của mình vào sự phát triển của kho tàng lý luận
pháp lý tố tụng hình sự và tổng kết, nghiên cứu thực tiễn hợp tác quốc tế trong tố tụng
hình sự ở Việt Nam. Đồng thời, tác giả hy vọng sẽ góp phần làm sáng tỏ luận cứ khoa
học cho việc đổi mới tổ chức, bộ máy, bố trí cán bộ các cơ quan tư pháp hình sự, góp

lực lượng sản xuất. Toàn cầu hóa kinh tế là xu thế khách quan, lôi cuốn ngày càng
nhiều nước tham gia, vừa có mặt tích cực, vừa có mặt tiêu cực, vừa có hợp tác, vừa có
đấu tranh. Các mâu thuẫn cơ bản trên thế giới biểu hiện dưới những hình thức và mức
độ khác nhau vẫn tồn tại và phát triển, có mặt sâu sắc hơn. Thế giới đang đứng trước
nhiều vấn đề toàn cầu mà không một quốc gia riêng lẻ nào có thể tự giải quyết nếu
không có sự hợp tác đa phương như chống tội phạm quốc tế, tội phạm có tính quốc tế
(hay còn gọi là tội phạm xuyên quốc gia, tội phạm có yếu tố nước ngoài), bảo vệ môi
trường, hạn chế bùng nổ dân số, đẩy lùi những dịch bệnh hiểm nghèo Những vấn
nạn này đã có từ lâu, nhưng chưa bao giờ chúng trở thành vấn đề lớn, nghiêm trọng,
ảnh hưởng đến sự phát triển của các quốc gia, tương lai loài người tùy thuộc một phần
quan trọng vào việc giải quyết những vấn đề này. Vì vậy, hợp tác quốc tế ngày nay
đang diễn ra với quy mô ngày càng rộng lớn, nội dung sâu sắc, hình thức sinh động
phong phú. Không một quốc gia nào tồn tại biệt lập lại có thể phát triển được. Việt
Nam đã chủ động tham gia hội nhập quốc tế và khu vực, đến nay đã tạo dựng được
cho mình một vị trí mới trên thế giới.
Trong lĩnh vực đấu tranh phòng, chống tội phạm, nếu như vào các thập kỷ
trước, tội phạm mới chỉ dừng lại ở phạm vi hoạt động giữa các quốc gia láng giềng, thì
ngày nay tội phạm quốc tế, tội phạm có tính quốc tế đã mở rộng địa bàn hoạt động ra
khắp nơi trên thế giới, tức là mang tính toàn cầu, phương thức, thủ đoạn phạm tội càng
ngày càng tinh vi, xảo quyệt, lợi dụng tối đa các thành tựu của khoa học, công nghệ để
hoạt động. Hậu quả do tội phạm quốc tế, tội phạm có tính quốc tế gây ra là vô cùng to
lớn đối với từng quốc gia, cũng như trên phạm vi quốc tế. Vì vậy, đấu tranh phòng,
chống tội phạm quốc tế, tội phạm có tính quốc tế không còn trong phạm vi mỗi quốc
gia, mà phải tiến hành đấu tranh trên phạm vi toàn cầu. Để cuộc đấu tranh phòng,
chống các loại tội phạm này có hiệu quả, các cơ quan tiến hành tố tụng mỗi nước phải
hợp tác, phối hợp, liên kết với nhau vì lợi ích của mỗi quốc gia và vì lợi ích chung.
Theo Đại từ điển tiếng Việt: "Hợp tác là trợ giúp qua lại lẫn

Điều 341 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 của nước ta quy định: "Khi thực
hiện tương trợ tư pháp, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng của nước Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam áp dụng những quy định của điều ước quốc tế có liên quan
mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc gia nhập và quy định của
Bộ luật này" [9].
Trong số các cơ quan tiến hành tố tụng của nước ta tham gia hợp tác quốc tế
trong tố tụng hình sự, thì theo các Hiệp định tương trợ tư pháp mà nước ta đã ký kết
với một số nước trên thế giới, Viện kiểm sát nhân dân tối cao là cơ quan làm đầu mối
trung ương. ở các nước ký Hiệp định tương trợ tư pháp với ta cũng có các cơ quan
tương tự, trong quá trình thực hiện tương trợ pháp lý về hình sự, các cơ quan này có
thể liên hệ qua cơ quan đầu mối trung ương hoặc có thể liên hệ trực tiếp với nhau [36,
tr. 22].
Thứ hai, việc thực hiện hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự phải bảo đảm các
nguyên tắc hợp tác quốc tế trong hoạt động tố tụng hình sự.
Điều 340 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 đã quy định:
Hợp tác quốc tế trong hoạt động tố tụng hình sự giữa các cơ quan
có thẩm quyền tiến hành tố tụng của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam với các cơ quan có thẩm quyền tương ứng của nước ngoài được thực
hiện trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, không
can thiệp vào công việc của nhau, bình đẳng cùng có lợi, phù hợp với Hiến
pháp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và những nguyên tắc
cơ bản của pháp luật quốc tế [9].
Điều 343 Bộ luật này còn quy định: "Căn cứ vào các điều ước quốc tế mà
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ký kết hoặc gia nhập, các cơ quan có
thẩm quyền tiến hành tố tụng của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có thể "
[9].
Từ những quy định trên, có thể thấy, trong quá trình thực hiện hợp tác quốc tế

tụng hình sự Việt Nam
Chế định hợp tác quốc tế lần đầu tiên được ghi nhận chính thức trong Bộ luật tố
tụng hình sự năm 2003, có ý nghĩa về mặt lập pháp hết sức to lớn, đánh dấu sự trưởng
thành về kỹ thuật lập pháp tố tụng hình sự của nước ta.
Trong chế định hợp tác quốc tế, khái niệm hợp tác quốc tế trong tố tụng hình
sự là khái niệm cơ bản, khái niệm xuất phát, để từ đó xác định các quy phạm khác của
chế định như thực hiện tương trợ tư pháp, từ chối thực hiện yêu cầu tương trợ tư pháp,
dẫn độ để truy cứu trách nhiệm hình sự, từ chối dẫn độ Việc nhận thức và áp dụng
đúng đắn chế định hợp tác quốc tế trong hoạt động tố tụng hình sự trong thực tiễn là
bảo đảm quan trọng cho việc thực hiện nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa trong
lĩnh vực cực kỳ nhạy cảm này.
Xuất phát từ việc đánh giá đúng vai trò của hợp tác quốc tế, trong mọi thời kỳ
cách mạng, Đảng và Nhà nước ta luôn luôn giành sự quan tâm to lớn đối với vấn đề
hợp tác quốc tế nói chung, hợp tác quốc tế trong hoạt động tố tụng hình sự nói riêng,
nhất là việc thể chế hóa bằng pháp luật, chính sách của Đảng trong lĩnh vực này. Việc
pháp luật tố tụng hình sự hiện hành của nước ta quy định về hợp tác quốc tế có những ý
nghĩa sau đây:
Thứ nhất, tạo cơ sở pháp lý cho hợp tác quốc tế trong hoạt động tố tụng hình
sự, nâng cao hiệu quả cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm ở nước ta.
Trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự, hợp tác quốc
tế đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc bảo đảm hiệu quả đạt được của toàn bộ
hoạt động tố tụng hình sự. Vì vậy, việc quy định về hợp tác quốc tế trong luật tố tụng
hình sự tạo cơ sở pháp lý cho hợp tác quốc tế trong hoạt động tố tụng hình sự.
Tuy nhiên, việc áp dụng chế định hợp tác quốc tế một cách tùy tiện, không
đúng pháp luật, bị coi là những hành vi vi phạm pháp luật nghiêm trọng, bởi nó vi
phạm nguyên tắc hợp tác quốc tế trong hoạt động tố tụng hình sự. Những hành vi vi
phạm pháp luật về hợp tác quốc tế không những xâm hại hoạt động đúng đắn của các

người ý thức tuân theo pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm
[9].
Hiện nay, xu thế quốc tế hóa tình trạng phạm tội đang diễn biến phức tạp đã
và đang ảnh hưởng đến các quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Vì vậy, để
đấu tranh phòng, chống tội phạm có hiệu quả, bảo vệ lợi ích hợp pháp của Nhà nước,
quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức, phải phát huy sức mạnh tổng hợp, sử
dụng đồng bộ các biện pháp, trong đó có hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự, bởi lẽ
từng quốc gia riêng biệt không thể nào giải quyết được vấn đề tội phạm quốc tế, tội
phạm có tính quốc tế. Như vậy, việc Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 quy định hợp
tác quốc tế trong hoạt động tố tụng hình sự góp phần đấu tranh có hiệu quả với tình
trạng phạm tội này, bảo vệ lợi ích hợp pháp của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp
của công dân, tổ chức.
Thứ ba, góp phần thực hiện chủ trương hội nhập quốc tế và khu vực của Đảng
và Nhà nước ta.
Ngày nay, nhu cầu hội nhập quốc tế và khu vực đã trở thành một đòi hỏi có
tính khách quan của mọi quốc gia trong tiến trình phát triển. Quá trình hội nhập quốc
tế ở các quốc gia nói chung và ở Việt Nam nói riêng đòi hỏi phải có một hệ thống
pháp luật hoàn thiện. Điều đó có nghĩa, đi đôi với việc xây dựng và hoàn thiện hệ
thống pháp luật phục vụ cho việc chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, thì việc xây
dựng và hoàn thiện pháp luật về tương trợ tư pháp quốc tế, trong đó có hợp tác quốc tế
về tố tụng hình sự, được coi là một bảo đảm hữu hiệu trong cơ chế hợp tác của quốc
gia nhằm giải quyết các vấn đề phát sinh liên quan đến hoạt động của các cơ quan tiến
hành tố tụng trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ
nghĩa của dân, do dân và vì dân.
Trong bối cảnh mở rộng hợp tác quốc tế theo xu thế hội nhập của Nhà nước ta
hiện nay, như Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 8 khóa VII của Đảng đã nêu,
điều cần thiết là: "phải tiếp tục củng cố và tăng cường hoạt động tương trợ tư pháp

chính quyền nhân dân để lập một chính phủ phản động làm tay sai cho chúng. ở miền
Nam, quân đội Pháp được quân Anh yểm trợ xâm lược chiếm Sài Gòn, rồi sau đó đánh
rộng ra các tỉnh ở Nam Bộ và Nam Trung Bộ. Trong tình hình rất khó khăn đó, Nhà
nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã chủ trương việc thiết lập và phát triển các mối
quan hệ chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học - kỹ thuật với các nước trên thế giới. Chủ
trương này đã đặt nền móng cho sự ra đời và phát triển quan hệ hợp tác quốc tế trong
lĩnh vực pháp lý nói chung và trong hoạt động tố tụng hình sự nói riêng.
Tuy nhiên, do hoàn cảnh lịch sử, chỉ từ những năm năm mươi trở đi, khi các
nước xã hội chủ nghĩa như Liên bang Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xô viết, Cộng hòa
nhân dân Trung Hoa và một số nước xã hội chủ nghĩa khác thiết lập quan hệ ngoại
giao với Việt Nam thì việc hợp tác quốc tế về pháp luật và tư pháp mới bắt đầu chính
thức được thiết lập và thực hiện trên thực tế. Trong quan hệ với các nước xã hội chủ
nghĩa, bên cạnh sự ủng hộ và giúp đỡ về chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật,
các nước còn tiếp nhận đào tạo cho nhiều lưu học sinh Việt Nam thuộc các ngành
nghề khác nhau, trong đó có đào tạo các chuyên gia pháp lý cho nước ta. Việt Nam
cũng đã tiếp nhận nhiều chuyên gia các nước xã hội chủ nghĩa sang Việt Nam công
tác, huấn luyện về một số lĩnh vực, nhất là về quân sự. Trong bối cảnh đó, nhiều quan
hệ xã hội có tính quốc tế phát sinh, đòi hỏi phải được pháp luật điều chỉnh về tương
trợ tư pháp nói chung và về tương trợ trong lĩnh vực tố tụng hình sự nói riêng.
Trong thời kỳ này, chúng ta chủ yếu thực hiện chính sách ngoại giao tranh thủ
sự ủng hộ, giúp đỡ của các nước, các dân tộc tiến bộ trên thế giới cho sự nghiệp đấu
tranh chống đế quốc Mỹ, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Một số điều ước
quốc tế mà Nhà nước ta gia nhập trong thời kỳ này cũng chủ yếu về việc đối xử nhân
đạo với thường dân, hàng binh, tù binh trong chiến tranh.
Cũng trong thời kỳ này, do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan,
chúng ta chưa chú trọng quản lý xã hội bằng pháp luật cho nên pháp luật về tương
trợ tư pháp còn rất sơ khai. Ngoài một số văn bản hướng dẫn của Tòa án nhân dân

- Hiệp định tương trợ tư pháp và pháp lý về dân sự, gia đình và hình sự giữa
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Liên bang Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Xô Viết ký ngày 10-12-1981, gồm 75 điều. Sau khi Liên Xô tan rã, Liên bang Nga đã
kế thừa từ năm 1992 đến này; các nước Cộng hòa khác thuộc Liên Xô cũ không kế
thừa.
- Hiệp định tương trợ tư pháp và pháp lý về dân sự và hình sự giữa nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Tiệp Khắc ký
ngày 12-10-1982, gồm 81 điều. Khi Tiệp Khắc được phân chia thành hai nước là Cộng
hòa Séc và Cộng hòa Xlôvakia vào đầu những năm 90, thì cả hai nước đều kế thừa
Hiệp định này.
- Hiệp định tương trợ tư pháp và pháp lý về các vấn đề dân sự, gia đình, lao
động và hình sự giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hòa
Cu Ba ký ngày 30-11-1984, gồm 79 điều, hiện đang có hiệu lực.
- Hiệp định tương trợ tư pháp và pháp lý về các vấn đề dân sự, gia đình và
hình sự giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hòa nhân dân
Hung-ga-ri ký ngày 18-01-1985, gồm 98 điều, hiện đang có hiệu lực.
- Hiệp định tương trợ tư pháp và pháp lý về các vấn đề dân sự, gia đình và
hình sự giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hòa nhân dân
Bun-ga-ri ký ngày 18-01-1985, gồm 98 điều, hiện đang có hiệu lực.
Qua việc ký kết các hiệp định tương trợ tư pháp nói trên, có thể rút ra hai vấn
đề đáng lưu ý như sau:
Thứ nhất, các hiệp định tương trợ tư pháp được ký kết vào đầu những năm 80,
khi quan hệ hợp tác về kinh tế, lao động, văn hóa giữa nước ta với các nước xã hội
chủ nghĩa phát triển ở mức độ tương đối cao. Các hiệp định này được ký kết giữa các
nước có cùng chế độ chính trị, kinh tế, xã hội thuộc hệ thống xã hội chủ nghĩa. Các
hoạt động tương trợ tư pháp nói chung, tương trợ pháp lý về hình sự nói riêng đều
được thực hiện trên cơ sở nguyên tắc quốc tế xã hội chủ nghĩa.

phạm đang có mặt trên lãnh thổ của mình cho nước ký kết kia để truy cứu
trách nhiệm hình sự hoặc thi hành án.
2. Chỉ dẫn độ những người đã có những hành vi mà theo pháp luật
của cả hai nước ký kết là tội phạm bị phạt tù trên một năm hoặc bị hình phạt
nặng hơn. Việc dẫn độ để thi hành bản án đã có hiệu lực pháp luật được áp
dụng đối với những người phạm tội trên bị phạt không dưới sáu tháng tù hoặc
bị hình phạt nặng hơn.
Từ chối dẫn độ đều được quy định cụ thể trong các Hiệp định nói trên. Điều
59 Hiệp định tương trợ tư pháp và pháp lý về các vấn đề dân sự, gia đình, lao động và
hình sự giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hòa Cu Ba ký
ngày 30-11-1984 quy định:
Sẽ không tiến hành dẫn độ, nếu:
1. Người bị dẫn độ là công dân của nước ký kết được yêu cầu dẫn
độ.
2. Tội phạm đã hoàn thành trên lãnh thổ của nước ký kết được yêu
cầu dẫn độ.
3. Theo pháp luật của nước ký kết được yêu cầu dẫn độ thì không
thể tiến hành truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc thi hành bản án vì lý do
thời hiệu hoặc vì các lý do khác.
4. Người bị dẫn độ đã bị thi hành một bản án đã có hiệu lực pháp
luật trên lãnh thổ của nước ký kết được yêu cầu về cùng tội phạm, hoặc việc
tố tụng hình sự đã được đình chỉ.
5. Theo pháp luật của một hoặc hai nước ký kết, tội phạm chỉ bị
truy cứu trong phạm vi một nước ký kết.
Điều 61 Hiệp định tương trợ tư pháp và pháp lý về các vấn đề dân sự, gia đình
và hình sự giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hòa nhân
dân Hung-ga-ri ký ngày 18-01-1985 đã quy định cụ thể về văn bản yêu cầu dẫn độ:

phạm và tất cả những chứng cứ về tội phạm đó. Nước ký kết được yêu cầu
có thể đề nghị bổ sung chứng cứ và nước ký kết yêu cầu phải cung cấp
những chứng cứ bổ sung.
3. Nước ký kết đã tiến hành tố tụng hình sự trên lãnh thổ của nước
mình sẽ thông báo cho nước ký kết về kết quả của việc tố tụng hình sự đó.
Trong trường hợp đã tuyên xử và bản án đã có hiệu lực pháp luật thì sẽ gửi
cho nhau bản sao của bản án đó.
Thứ ba, về những vấn đề khác thuộc tương trợ pháp lý về hình sự.
Các hiệp định đều có quy định về những vấn đề khác thuộc tương trợ pháp lý
về hình sự như chuyển giao đồ vật liên quan đến vụ án, thông báo các bản án và án
tích, cách thức liên hệ.
Điều 72 Hiệp định tương trợ tư pháp và pháp lý về dân sự, gia đình và hình sự
giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Liên bang Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Xô viết quy định về việc chuyển giao đồ vật liên quan đến vụ án như sau:
1. Các nước ký kết cam kết, thể theo yêu cầu của nhau, chuyển giao
cho nhau những đồ vật sau đây:
a) Những đồ vật hoặc trị giá của những đồ vật do phạm tội mà có;
b) Những đồ vật có thể có ý nghĩa chứng cứ trong tố tụng hình sự
nếu việc dẫn độ không thực hiện được vì người phạm tội chết, chạy trốn
hoặc vì nguyên nhân khác thì những đồ vật đó vẫn phải được chuyển giao.
2. Nếu những đồ vật phải chuyển giao lại cần thiết làm chứng cứ
cho tố tụng hình sự ở nước được yêu cầu, thì nước này có thể tạm giữ
những đồ vật cho đến khi tiến hành xong tố tụng.
3. Quyền của người thứ ba đối với các đồ vật đã được chuyển giao
cho nước yêu cầu được bảo đảm hoàn toàn. Sau khi kết thúc tố tụng hình
sự, những đồ vật trên sẽ được trả lại vô điều kiện cho nước ký kết đã
chuyển giao. Nếu không có hại gì cho tố tụng thì, trước khi xét xử xong, có

hợp tác quốc tế về tố tụng hình sự.
Nhiệm vụ của Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an) đã được quy định cụ thể trong
Thông tư như sau:
Bộ Nội vụ: 1. Thực hiện các ủy thác điều tra về hình sự theo yêu cầu
của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, như lập hồ sơ về bắt giữ, thu giữ các tang
chứng, vật chứng, khám xét, tạm giữ, tạm giam, dẫn độ bị can trừ trường hợp
khẩn cấp, phạm pháp quả tang.
2. Thực hiện việc cung cấp tài liệu về hình sự, các giấy tờ cần thiết
về nhân thân của công dân nước mình, theo yêu cầu của nước ký kết, thông
qua Viện kiểm sát nhân dân tối cao hoặc Bộ Tư pháp Việt Nam.
Nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã được quy định cụ thể trong
Thông tư như sau:
Viện kiểm sát nhân dân tối cao: 1. Thực hiện trao đổi các ủy thác
điều tra về hình sự, truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định trong các
Hiệp định tương trợ tư pháp và pháp lý.
2. Yêu cầu các cơ quan điều tra thực hiện ủy thác điều tra. Trong một
số trường hợp, theo pháp luật quy định, thực hiện việc ủy thác điều tra về hình
sự, kể cả phần dân sự trong các vụ án hình sự.
3. Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong quá trình thi hành Hiệp
định tương trợ tư pháp và pháp lý về các vấn đề dân sự, gia đình, lao động
và hình sự.
Nhiệm vụ của Tòa án nhân dân tối cao đã được quy định cụ thể trong thông tư
như sau:
Tòa án nhân dân tối cao: 1. Xét xử các vụ án hình sự, các vụ kiện
dân sự, hôn nhân gia đình và lao động có liên quan đến công dân hoặc pháp
nhân của các nước ký kết khác, thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân tối
cao.

- Hiệp định tương trợ tư pháp về các vấn đề dân sự, gia đình và hình sự giữa
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hòa Ba Lan ký ngày 22-03-
1993), gồm 87 điều, đang có hiệu lực;
- Hiệp định tương trợ tư pháp về dân sự và hình sự giữa nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào ký ngày 06-07-1998,
gồm 77 điều, hiện đang có hiệu lực;
- Hiệp định tương trợ tư pháp về các vấn đề dân sự và hình sự giữa nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa ký ngày 19-
10-1998, gồm 34 điều, hiện đang có hiệu lực;

Trích đoạn Thực tiễn áp dụng những quy định của pháp luật tố tụng hình sự về hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự ở Việt Nam Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả việc áp dụng những quy định của pháp luật tố tụng hình sự về hợp tác quốc tế Giải pháp hoàn thiện những quy định của pháp luật tố tụng hình sự về hợp tác quốc tế Giải pháp tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục những quy định của pháp luật tố tụng hình sự về hợp tác quốc tế Giải pháp về công tác tổ chức, cán bộ có nhiệm vụ thực hiện hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status