chÕ ®Þnh thi hµnh h×nh ph¹t tö h×nh
trong luËt tè tông h×nh sù viÖt nam
Hµ néi – 2010
chÕ ®Þnh thi hµnh h×nh ph¹t tö h×nh
trong luËt tè tông h×nh sù viÖt nam
Hµ néi – 2010
mục lục
Trang
mở đầu 1
Chơng 1: Một số vấn đề lý luận chung về Thi hành
hình phạt tử hình
7
1.1. Khái niệm, các hình thức thi hành hình phạt tử hình và ý
nghĩa của chế định thi hành hình phạt tử hình trong luật tố
tụng hình sự Việt Nam
7
1.2. Sự hình thành và phát triển của các quy định về thi hành hình
phạt tử hình trong luật tố tụng hình sự Việt Nam trớc khi ban
hành Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003
17
1.3. Những quy định về thi hành hình phạt tử hình trong pháp luật
tố tụng hình sự một số nớc trên thế giới
28
Chơng 2: Những quy định của pháp luật tố tụng hình
sự hiện hành về thi hành hình phạt tử hình
và thực tiễn áp dụng
34
2.1. Những quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành về
thi hành hình phạt tử hình
34
cũng đã làm nảy sinh nhiều vấn đề tiêu cực, trong đó tình hình tội phạm
diễn biến phức tạp. Các vụ án giết ngời, cớp tài sản, hiếp dâm, hiếp dâm trẻ
em, lừa đảo chiếm đoạt tài sản, tham nhũng, buôn lậu, các tội phạm về ma
túy xảy ra nhiều, với tính chất, mức độ ngày càng nghiêm trọng. Tình
hình trên không những xâm hại tính mạng, sức khỏe của ngời dân, lợi ích
hợp pháp của Nhà nớc, tổ chức, làm thiệt hại đến nền kinh tế đất nớc, mà
còn thực sự đe dọa phá vỡ chính sách kinh tế - xã hội, làm giảm lòng tin
của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng, hiệu lực quản lý của Nhà nớc,
gây ra những hậu quả nặng nề về mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội.
Thậm chí tình hình tội phạm còn tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ quan
tình báo nớc ngoài lợi dụng tiến hành các hoạt động mua chuộc, thu thập
tình báo, phá hoại sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nớc.
Trớc tình hình trên, các cơ quan bảo vệ pháp luật đã áp dụng các
biện pháp có hiệu quả trong đấu tranh phòng, chống tội phạm, xử lý kịp
thời, nghiêm minh mọi hành vi phạm tội và ngời phạm tội. Tòa án các cấp
đã xử phạt tử hình nhiều ngời phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, có tác dụng
răn đe, phòng ngừa tội phạm, phục vụ yêu cầu chính trị chung. Việc thi
hành hình phạt tử hình đã đợc các cơ quan chức năng tiến hành theo đúng
quy định của pháp luật, đợc d luận nhân dân đồng tình, đồng thời có tác
dụng đề cao sự cần thiết phải áp dụng hình phạt này trong đấu tranh phòng,
chống tội phạm.
Tuy nhiên, thực tiễn thi hành hình phạt tử hình cũng đã đặt ra nhiều
vấn đề vớng mắc đòi hỏi khoa học luật tố tụng hình sự phải nghiên cứu giải
quyết nh khái niệm thi hành hình phạt tử hình, các hình thức thi hành hình
phạt tử hình, việc ngời bị kết án tử hình xin hiến xác cho khoa học, gia đình
ngời bị kết án xin xác về mai táng theo phong tục, tập quán, sự phân công
trách nhiệm giữa các cơ quan chức năng với chính quyền địa phơng nơi có
pháp trờng trong việc quản lý khu vực chôn cất ngời bị thi hành hình phạt tử
hình Trong khi đó, xét về mặt lý luận, chế định thi hành hình phạt tử hình
cha đợc quan tâm nghiên cứu một cách thỏa đáng, và xung quanh chế định
Nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
Để đạt đợc mục đích trên, tác giả luận văn đã đặt ra và giải quyết
các nhiệm vụ sau:
- Làm sáng tỏ khái niệm thi hành hình phạt tử hình, các hình thức
thi hành hình phạt tử hình.
- Phân tích, làm rõ sự hình thành và phát triển các quy định của
pháp luật tố tụng hình sự về thi hành hình phạt tử hình ở Việt Nam.
- Nghiên cứu, làm rõ các quy định của pháp luật về thi hành hình
phạt tử hình của một số nớc trên thế giới.
- Làm sáng tỏ các quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành
và thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật tố tụng hình sự về thi hành
hình phạt tử hình ở nớc ta.
- Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả việc áp dụng các quy
định của pháp luật tố tụng hình sự về thi hành hình phạt tử hình.
Đối tợng nghiên cứu của luận văn
Đối tợng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề lý luận về thi
hành hình phạt tử hình, các quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện
hành về thi hành hình phạt tử hình và thực tiễn thi hành hình phạt này ở
Việt Nam.
Phạm vi nghiên cứu của luận văn
Luận văn nghiên cứu đề tài này dới góc độ luật tố tụng hình sự.
Về thời gian, luận văn nghiên cứu thực tiễn áp dụng những quy định
của pháp luật tố tụng hình sự về thi hành hình phạt tử hình từ năm 1993 đến
năm 2002.
4. Cơ sở lý luận, thực tiễn và phơng pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận của luận văn là hệ thống quan điểm của chủ nghĩa
Mác - Lênin, t tởng Hồ Chí Minh và của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây
dựng Nhà nớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của dân, do dân và vì
dân, về chính sách đấu tranh phòng, chống tội phạm nói chung, về thi hành
hình phạt tử hình nói riêng.
hành hình phạt tử hình nói riêng. Thông qua kết quả nghiên cứu và các đề
xuất, tác giả mong muốn đóng góp phần nhỏ bé của mình vào sự phát triển
của kho tàng
lý luận luật tố tụng hình sự và tổng kết, nghiên cứu thực tiễn thi hành hình
phạt tử hình ở Việt Nam. Với việc đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả
việc áp dụng những quy định của pháp luật tố tụng hình sự về thi hành hình
phạt tử hình, tác giả hy vọng sẽ góp phần làm sáng tỏ cơ sở khoa học cho
việc đổi mới tổ chức, bộ máy, bố trí cán bộ các cơ quan có trách nhiệm
trong việc thi hành hình phạt tử hình, góp phần vào công cuộc cải cách t
pháp ở nớc ta hiện nay.
Vì vậy, luận văn này có thể đợc sử dụng làm tài liệu tham khảo
trong công tác nghiên cứu, giảng dạy về khoa học pháp lý nói chung, khoa
học luật tố tụng hình sự, khoa học kỹ thuật hình sự, tội phạm học nói riêng,
cũng nh trong đào tạo, bồi dỡng cán bộ chuyên ngành về thi hành hình phạt
tử hình thuộc các ngành Tòa án, Viện Kiểm sát, Công an.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn gồm 3 chơng, 8 mục.
Chơng 1
Một số vấn đề lý luận chung
về Thi hành hình phạt tử hình
1.1. Khái niệm, các hình thức thi hành hình phạt tử
hình và ý nghĩa của chế định thi hành hình phạt tử hình
Trong luật tố tụng hình sự Việt Nam
1.1.1. Khái niệm thi hành hình phạt tử hình
Để có thể đa ra khái niệm thi hành hình phạt tử hình, trớc hết cần
làm sáng tỏ khái niệm hình phạt tử hình.
Trong hệ thống hình phạt đợc quy định trong luật hình sự Việt Nam,
tử hình là hình phạt nghiêm khắc nhất, thể hiện mức độ trừng trị cao nhất
của Nhà nớc đối với ngời phạm tội, bởi lẽ nó tớc đi quyền sống của ngời bị
tớc bỏ mạng sống của ngời bị kết án là nhằm loại bỏ hoàn toàn khả năng
thực hiện tội phạm ở họ, đồng thời răn đe mạnh mẽ những ngời không vững
vàng, dễ bớc vào con đờng phạm tội, ngăn ngừa họ phạm tội, góp phần
nâng cao khí thế đấu tranh phòng, chống tội phạm của ngời dân. Cơ sở thực
tiễn của việc duy trì hình phạt tử hình này là thực tiễn đấu tranh phòng,
chống tội phạm ở nớc ta cho thấy, địa phơng nào hữu khuynh, không áp
dụng hình phạt nghiêm khắc nhất đối với những kẻ phạm tội đặc biệt
nghiêm trọng với nhiều tình tiết tăng nặng, thì ở đó tình hình tội phạm diễn
biến phức tạp cả về tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội và phong trào
quần chúng tham gia đấu tranh phòng, chống tội phạm không mạnh. Vì
vậy, hình phạt tử hình cần đợc áp dụng đối với những ngời phạm tội đặc
biệt nghiêm trọng, gây ảnh hởng xấu đến an ninh chính trị và trật tự an toàn
xã hội, bị d luận kịch liệt lên án.
Do những đặc điểm tâm lý, thể chất của ngời cha thành niên, phụ nữ
có thai và xuất phát từ quan điểm nhân đạo, luật hình sự Việt Nam quy định
không áp dụng hình phạt tử hình đối với ngời cha thành niên phạm tội, phụ
nữ có thai, phụ nữ đang nuôi con dới 36 tháng tuổi.
Từ sự phân tích ở trên, có thể đa ra khái niệm hình phạt tử hình nh
sau: Tử hình là hình phạt đặc biệt, tớc bỏ quyền sống của ngời bị kết án
phạm tội đặc biệt nghiêm trọng.
Vấn đề tiếp theo cần làm sáng tỏ là khái niệm thi hành án hình sự.
"Thi hành" theo Hán Việt Từ điển của tác giả Đào Duy Anh là "đem cái
việc đã định sẵn mà làm cho có hiệu quả" [1, tr. 398]; theo Từ điển tiếng
Việt của Viện Ngôn ngữ học Việt Nam, "thi hành" là "làm cho thành, có hiệu
lực điều đã đợc chính thức quyết định" [55, tr. 936]; còn theo Đại từ điển
tiếng Việt thì "thi hành" đợc hiểu là "thực hiện điều đã chính thức quyết định"
[59, tr. 1559]. Thi hành bản án và quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa
án (Thi hành án) có thể đợc hiểu theo một cách chung nhất là "việc các cơ
quan nhà nớc,
tổ chức xã hội và các cá nhân có liên quan theo quy định của pháp luật
án hình sự. Từ khái niệm thi hành án hình sự nói trên, có thể đa ra khái
niệm thi hành hình phạt tử hình nh sau: Thi hành hình phạt tử hình là hoạt
động của cơ quan nhà nớc, cá nhân có thẩm quyền đa bản án tử hình của
Tòa án đã có hiệu lực pháp luật ra thực hiện trên thực tế theo những trình
tự, thủ tục do pháp luật tố tụng hình sự quy định.
Thi hành hình phạt tử hình cũng mang đầy đủ các đặc điểm của thi
hành án hình sự, ngoài ra còn có những đặc điểm riêng sau:
Đặc điểm thứ nhất của thi hành hình phạt tử hình là sự thực hiện
trên thực tế việc tớc đi quyền sống của ngời phạm tội, do đó cơ quan thi
hành án hình sự phải tuân theo những thủ tục hết sức nghiêm ngặt, chặt chẽ.
Đây là đặc điểm chủ yếu nhất để có thể phân biệt việc thi hành hình phạt tử
hình với thi hành các loại hình phạt, biện pháp t pháp khác. Ví dụ: trong Bộ
luật tố tụng hình sự năm 1988, cũng nh trong Bộ luật tố tụng hình sự năm
2003, đều đã quy định thủ tục xem xét bản án tử hình trớc khi đa ra thi
hành, trong đó quy định rất cụ thể về trình tự, thủ tục gửi hồ sơ vụ án lên
Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, gửi bản án cho Viện trởng Viện Kiểm
sát nhân dân tối cao, thời hạn quy định Chánh án Tòa án nhân dân tối cao,
Viện trởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao phải quyết định kháng nghị
hoặc quyết định không kháng nghị giám đốc thẩm hoặc tái thẩm; thủ tục
xin ân giảm trình lên Chủ tịch nớc Đây là những thủ tục mà đối với việc
thi hành các hình phạt, biện pháp t pháp khác, pháp luật tố tụng hình sự
không quy định.
Đặc điểm thứ hai, khác với việc thi hành các hình phạt, biện pháp t
pháp khác, nếu việc thi hành hình phạt tử hình có sai lầm, thì không thể
khắc phục đợc hậu quả. Đặc điểm này bắt nguồn từ bản chất của hình phạt
tử hình là tớc đi quyền sống của ngời bị kết án, vì vậy, nếu nh thi hành hình
phạt tử hình không đúng đối tợng bị kết án, thì sai lầm này không thể khắc
phục đợc.
Đặc điểm thứ ba, việc thi hành hình phạt tử hình không những tớc đi
sự sống của ngời bị kết án, mà còn gây ra nỗi đau thơng, mất mát lâu dài
vạc dầu, nớc sôi, lột da, xé xác [60, tr. 136].
Hiện nay, pháp luật tố tụng hình sự của các nớc trên thế giới quy
định bảy hình thức thi hành hình phạt tử hình.
Hình thức thứ nhất: xử bắn.
Đây là hình thức thi hành hình phạt tử hình mang tính phổ biến
nhất. Theo số liệu của Tổ chức ân xá quốc tế, có 86 quốc gia trên thế giới
áp dụng hình thức thi hành hình phạt tử hình này. Việc xử bắn có thể do
một ngời hoặc một nhóm ngời thi hành. Trờng hợp việc xử bắn do một ngời
thi hành, thì ngời đó dùng súng ngắn, bắn vào đầu ngời bị kết án ở cự ly
ngắn, làm ngời đó chết ngay. Trờng hợp việc xử bắn do một nhóm ngời thi
hành (đội thi hành án), thì cự ly bắn đợc thực hiện xa hơn. Trong cả hai tr-
ờng hợp, ngời bị kết án có thể đợc bố trí đối diện ngời thi hành án; riêng ở
Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, ngời bị kết án đợc bố trí quay lng về phía
đội thi hành án, vì theo phong tục của nớc này, ngời bị kết án không đợc
nhìn về phía ngời bắn để hồn ma không thể về trả thù đợc.
Hình thức thứ hai: treo cổ.
Đây là hình thức thi hành hình phạt tử hình bị ủy ban Ân xá quốc
tế cho là dã man và cần phải bãi bỏ. Tuy nhiên, vẫn còn có 70 nớc trên thế
giới áp dụng hình thức này nh: Cộng hòa Singpore, Cộng hòa ấn Độ, Nhật
Bản ở Nhật Bản, việc thi hành hình phạt tử hình đợc giữ bí mật tuyệt đối,
ngời bị kết án bị tròng vào cổ chiếc dây đợc xát xà phòng trơn, đầu bị trùm
một tấm vải kín và đợc đứng trên một chiếc ghế đẩu. Khi đợc lệnh, ngời thi
hành án hất đổ chiếc ghế và việc thi hành án đợc coi nh đã hoàn tất.
Hình thức thứ ba: chém đầu.
Đây là hình thức thi hành hình phạt tử hình đợc 6 quốc gia trên thế
giới áp dụng. Cách thức chém đầu có hai cách: dùng máy chém hoặc dùng
kiếm. Hiện nay, Vơng quốc ảrập Xêút (Saudi Arabia) là quốc gia thờng áp
dụng hình thức này.
Hình thức thứ t: ném đá đến chết.
Đây là hình thức thi hành hình phạt tử hình vô nhân đạo nhất hiện
dõi nhịp tim của ngời bị kết án. Dới ghế ngồi của ngời bị kết án đợc đặt 16
viên thuốc độc (xianua). Khi cánh cửa thép đợc đóng lại, ngời ta cho chạy
thiết bị làm những viên thuốc độc đợc hòa vào dung dịch axit, thuốc độc
bốc thành khói, làm ngạt thở ngời bị kết án, từ đó dẫn đến tim ngừng đập.
Hình thức thi hành phạt tử hình này bị coi là phức tạp và khá tốn kém.
Hình thức thứ bảy: tiêm thuốc độc.
Đây là hình thức thi hành hình phạt tử hình, trong đó ngời bị kết án
bị buộc chặt vào một cái cáng, đợc đa vào một phòng kín, rồi bị tiêm thuốc
độc vào bắp thịt. Hình thức thi hành hình phạt tử hình lần đầu tiên đợc áp
dụng tại Hợp chủng quốc Hoa Kỳ vào năm 1977. Khi bị tiêm thuốc độc
mạnh vào mạch máu, thì ngời bị kết án sẽ bị chết trong khoảng thời gian từ
32 giây đến 1 phút. Tuy nhiên, cũng đã xảy ra một số trờng hợp ngời bị kết
án không chết ngay do dụng cụ truyền chất độc trợt khỏi mạch máu hoặc
thuốc độc không đủ mạnh khi pha chế.
Hình thức thi hành hình phạt tử hình này đợc d luận coi là "nhân đạo",
tiết kiệm hơn cả, đợc 34 bang của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, Cộng hòa nhân
dân Trung Hoa và nhiều nớc khác trên thế giới áp dụng. Ngày 30-01-2001,
Chính phủ Vơng quốc Thái Lan đã phê chuẩn đề nghị thi hành hình phạt tử
hình bằng tiêm thuốc độc thay vì xử bắn.
1.1.3. ý nghĩa của chế định thi hành hình phạt tử hình trong
luật tố tụng hình sự Việt Nam
Chế định thi hành hình phạt tử hình lần đầu tiên đợc quy định trong
Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 của n-
ớc ta, có ý nghĩa về mặt lập pháp hết sức to lớn. Nó đánh dấu sự trởng thành
về kỹ thuật lập pháp tố tụng hình sự của nớc ta.
Trong chế định thi hành hình phạt tử hình, khái niệm thi hành hình
phạt tử hình là khái niệm cơ bản, khái niệm xuất phát, để từ đó xác định các
quy phạm khác của chế định thi hành hình phạt tử hình nh hình thức thi
hành hình phạt tử hình, trình tự, thủ tục xem xét bản án tử hình trớc khi đa
ra thi hành, trình tự, thủ tục thi hành hình phạt tử hình, thủ tục hoãn thi
hình còn giúp các cơ quan bảo vệ pháp luật nắm vững nội dung, bản chất
pháp lý, từ đó áp dụng đúng đắn chế định này, góp phần nâng cao hiệu quả
cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm, động viên quần chúng nhân dân
tham gia tích vào cuộc đấu tranh này.
Ngoài ra, chế định thi hành hình phạt tử hình, còn có ý nghĩa là cơ
sở pháp lý cho một số ngành khoa học pháp lý có liên quan chặt chẽ với
khoa học luật tố tụng hình sự nh tội phạm học, tâm lý học t pháp, khoa học
kỹ thuật hình sự Đối với tội phạm học, chế định thi hành hình phạt tử hình
trong luật tố tụng hình sự là cơ sở quan trọng cho việc nghiên cứu về nhân
thân ngời bị kết án tử hình, từ đó tìm ra quy luật phạm tội của những ngời
này. Đối với tâm lý học t pháp, chế định thi hành hình phạt tử hình có ý
nghĩa quan trọng trong việc nghiên cứu đặc điểm tâm lý của ngời bị kết án
tử hình ở giai đoạn xem xét bản án tử hình trớc khi đa ra thi hành, cũng nh
ở giai đoạn thi hành hình phạt tử hình, nhất là ở thời điểm trớc khi thi hành
án. Kết quả nghiên cứu đặc điểm tâm lý của những ngời bị kết án tử hình
trong hoạt động thi hành hình phạt tử hình, sẽ là tài liệu quan trọng phục vụ
cho công tác điều tra, truy tố, xét xử những ngời phạm tội đặc biệt nghiêm
trọng và góp phần nâng cao hiệu quả cuộc đấu tranh phòng, chống tội
phạm. Đối với khoa học kỹ thuật hình sự, việc quy định trình tự, thủ tục thi
hành hình phạt tử hình là cơ sở quan trọng cho việc nghiên cứu, đề xuất các
hình thức thi hành hình phạt tử hình tiết kiệm, dễ áp dụng, "nhân đạo" nhất
cho phù hợp với điều kiện chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của đất nớc.
1.2. sự hình thành và phát triển của các quy định về
thi hành hình phạt tử hình trong luật tố tụng hình sự Việt
Nam trớc khi ban hành Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003
1.2.1. Những quy định về thi hành hình phạt tử hình trong luật
tố tụng hình sự Việt Nam thời kỳ trớc Cách mạng tháng Tám năm
1945
Năm 938, sau khi Ngô Quyền lên ngôi, cùng với những hình phạt
mang nặng tính chuyên chính bạo lực, Nhà nớc phong kiến sử dụng hình
Tử hình có ba bậc: từ tội thắt cổ (giảo), chém, đến tội lăng
trì, chia làm ba bậc thắt cổ, chém là một bậc, chém bêu đầu
(khiêu) là một bậc, lăng trì là một bậc, tùy theo tội mà tăng giảm.
1. Thắt cổ, chém.
2. Chém bêu đầu.
3. Lăng trì [36, tr. 219].
Điều 680 chơng đoán ngục quy định:
Đàn bà phải tội tử hình trở xuống, nếu đang có thai, thì
phải để sinh đẻ sau 100 ngày, mới đem hành hình, nếu cha sinh
mà đem hành hình, thì ngục quan bị xử biếm hai t, ngục lại bị tội
đồ làm bản cục đinh. Dù đã sinh rồi nhng cha đủ một trăm ngày
mà hành hình, thì ngục quan và ngục lại đều bị tội nhẹ hơn tội
trên hai bậc. Nếu đã đủ một trăm ngày mà không đem hành hình,
thì ngục quan và ngục lại bị tội biếm hoặc tội phạt [36, tr. 231-
232].
Việc quy định thi hành hình phạt tử hình đối với phụ nữ nh trên thể
hiện tính nhân văn sâu sắc của cha ông chúng ta.
Dới thời nhà Nguyễn, Hoàng Việt luật lệ (Luật Gia Long) đợc khắc
in lần đầu năm 1982. Mặc dù chịu ảnh hởng của luật Thanh Triều khá nặng
nề, nhng nhiều điều luật, trong đó có các điều luật về thi hành hình phạt tử
hình vẫn tiếp thu các giá trị lập pháp trong Bộ luật Hồng Đức với một số
quy định có tính nhân văn cao hơn. Trong Bộ luật này, tại chơng Giải thích
ghi rõ: "Các cực hình trong luật nhà Thanh nh chu di tam tộc, lăng trì hoàn
toàn bị bãi bỏ. Việc thi hành hình phạt tử hình đợc quy định dới hai hình
thức treo cổ và chém, chém thì thân và đầu mỗi nơi cách biệt, còn treo cổ
thì chấm dứt sự sống thân thể còn vẹn toàn" [31, tr. 55].
Dới thời Pháp thuộc, thực dân Pháp chia đất nớc ta ra làm ba kỳ:
Bắc kỳ, Trung kỳ và Nam kỳ để dễ bề cai trị. Mỗi kỳ chịu sự cai trị bằng
các hệ thống pháp luật khác nhau. Điều 12 Bộ luật hình canh cải có hiệu lực
ở Nam kỳ, quy định:
Còn chỗ hành hình nếu hội đồng thợng thơ không chỉ định, thời
quan tỉnh sở tại sẽ định một chỗ ở trong tỉnh mà tội nhân đã phạm
pháp. Nếu đàn bà bị tử hình xng rằng có thai, mà xét ra quả thiệt,
thời sau khi sanh đẻ rồi một trăm ngày mới phải thụ hình.
Tội tử hình không đem ra hành hình trong những ngày
quốc khánh (đại Pháp) và những ngày lễ mà luật nớc đại Pháp
Việt Nam đã công nhận, ngày chủ nhựt (cùng ngày lễ vạn thọ, ba
ngày trớc và ba ngày sau lễ nam giao), tám ngày đầu tháng giêng
Việt Nam, ngày mồng 2, mồng 5 tháng 5, ngày rằm, tháng giêng,