LUẬN VĂN:
Chế định thi hành hình phạt tử hình
trong luật tố tụng hình sự Việt Nam
Mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Từ sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng, đất nước ta chuyển sang
nền kinh tế nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà
nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa, mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại với nhiều
nước trên thế giới. Sự vận hành của nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ
nghĩa đã và đang đem lại sự chuyển biến tích cực trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn
hóa, xã hội, được bạn bè quốc tế đánh giá cao.
Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài "Chế định thi hành hình phạt tử hình trong luật
tố tụng hình sự Việt Nam", mang tính cấp thiết, không những về lý luận, mà còn là đòi
hỏi thực tiễn nhằm nâng cao hiệu quả thi hành hình phạt tử hình ở Việt Nam.
2. Tình hình nghiên cứu
Thi hành hình phạt tử hình là vấn đề quan trọng và nhạy cảm, đã được một số
nhà luật học ở trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu. TS. Giang Sơn - Văn phòng
Chủ tịch nước đã có công trình "Một số vấn đề về thi hành án tử hình" (Tạp chí Nhà nước
và Pháp luật, số 9 năm 1996); Tòa án nhân dân tối cao có công trình nghiên cứu khoa học
cấp bộ: "áp dụng và thi hành hình phạt tử hình - những vấn đề lý luận và thực tiễn" (Tòa
án nhân dân tối cao, Hà Nội, 2002); ThS. Vũ Trọng Hách - Học viện Hành chính Quốc
gia có công trình: "Nhu cầu hoàn thiện pháp luật về thi hành án hình sự ở nước ta hiện
nay" (Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 5 năm 2002);…
Các công trình nói trên đã đề cập đến các khía cạnh khác nhau về thi hành hình
phạt tử hình, nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện và có hệ thống
về chế định hình phạt tử hình trong luật tố tụng hình sự, cũng như thực tiễn thi hành hình
phạt tử hình ở Việt Nam hiện nay.
3. Mục đích, nhiệm vụ, đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
Mục đích nghiên cứu
Mục đích của luận văn là làm sáng tỏ một cách toàn diện, có hệ thống những vấn
đề lý luận về thi hành hình phạt tử hình, phân tích, đánh giá đúng thực trạng những quy
định về thi hành hình phạt tử hình trong luật tố tụng hình sự hiện hành, thực tiễn thi hành
hình phạt tử hình, xác định những vướng mắc trong thực tiễn thi hành hình phạt tử hình,
để trên cơ sở đó, đề xuất hệ thống các giải pháp nâng cao hiệu quả việc áp dụng những
quy định của pháp luật tố tụng hình sự về thi hành hình phạt tử hình.
Nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
Để đạt được mục đích trên, tác giả luận văn đã đặt ra và giải quyết các nhiệm vụ
sau:
các báo cáo tổng kết, số liệu của Tòa án nhân dân tối cao về thi hành hình phạt tử hình.
Cơ sở phương pháp luận của luận văn là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ
nghĩa duy vật lịch sử. Trong khi thực hiện đề tài, tác giả sử dụng các phương pháp hệ
thống, phân tích, tổng hợp, lịch sử, lôgíc, thống kê, so sánh pháp luật, xã hội học để hoàn
thành các nhiệm vụ mà tác giả luận văn đã đặt ra.
5. Những đóng góp mới của luận văn
Đây là công trình chuyên khảo đầu tiên trong khoa học pháp lý Việt Nam ở cấp
độ luận văn thạc sĩ luật học, nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống về chế định thi
hành hình phạt tử hình trong luật tố tụng hình sự Việt Nam, trên cơ sở đó, đề xuất các
giải pháp hoàn thiện các quy định của pháp luật tố tụng hình sự về thi hành hình phạt tử
hình ở Việt Nam. Có thể xem những nội dung sau đây là những đóng góp mới của luận
văn:
1. Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về thi hành hình phạt tử hình.
2. Phân tích làm rõ thực trạng những quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện
hành về thi hành hình phạt tử hình và thực tiễn áp dụng ở nước ta.
3. Nghiên cứu, so sánh những quy định của pháp luật tố tụng hình sự của Việt
Nam về thi hành hình phạt tử hình với những quy định tương ứng trong pháp luật tố tụng
hình sự của một số nước trên thế giới để rút ra những giá trị hợp lý về hoạt động lập pháp
tố tụng hình sự.
4. Đề xuất phương hướng nâng cao hiệu quả việc áp dụng các quy định của pháp
luật tố tụng hình sự về thi hành hình phạt tử hình
6. ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Kết quả nghiên cứu và những kiến nghị của luận văn có ý nghĩa quan trọng đối
với cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm nói chung, thi hành hình phạt tử hình nói
riêng. Thông qua kết quả nghiên cứu và các đề xuất, tác giả mong muốn đóng góp phần
nhỏ bé của mình vào sự phát triển của kho tàng
lý luận luật tố tụng hình sự và tổng kết, nghiên cứu thực tiễn thi hành hình phạt tử hình ở
trái ngược nhau về hình phạt tử hình:
Quan điểm thứ nhất cho rằng, để bảo đảm an ninh xã hội, công bằng và công lý,
cần thiết phải duy trì hình phạt tử hình đối với những tội phạm đặc biệt nghiêm trọng; đối
với những kẻ khủng bố quốc tế, giết người hàng loạt, thì không thể có biện pháp giáo dục
nào có tác dụng, ngoài việc tước đi sự tồn tại của chúng [48, tr. 54].
Quan điểm thứ hai cho rằng, cần phải bỏ hình phạt tử hình, vì sự sống của con
người là thiêng liêng nhất mà tạo hóa đã dành cho họ; việc áp dụng hình phạt này là tàn
khốc, vô nhân tính, không thể chấp nhận được trong xã hội văn minh. Mặt khác, các cơ
quan tố tụng có thể sai lầm khi áp dụng hình phạt này và khi phát hiện ra sai lầm, thì lại
không thể khắc phục được, bởi lẽ người đã chết, thì không thể có biện pháp nào có thể
khắc phục để họ sống trở lại [48, tr. 54].
Thể hiện hai quan điểm trên, theo số liệu chính thức của ủy ban về quyền con
người của Liên hợp quốc, hiện có 71 quốc gia vẫn duy trì hình phạt tử hình, 15 quốc gia
xóa bỏ hình phạt tử hình đối với các tội thông thường, nhưng vẫn duy trì hình phạt tử
hình đối với tội giết người; 77 quốc gia hoàn toàn xóa bỏ hình phạt tử hình, 33 quốc gia
tuy còn quy định hình phạt tử hình, nhưng không thi hành hình phạt tử hình trên thực tế.
Như vậy, 110 quốc gia đã xóa bỏ hình phạt tử hình hoặc không thi hành hình phạt tử hình
trên thực tế, chỉ còn 86 quốc gia vẫn duy trì loại hình phạt này. Đáng chú ý, một số quốc
gia lớn và đông dân như Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, Cộng hòa ấn Độ, Hợp chủng
quốc Hoa Kỳ, Vương quốc Nhật Bản, Cộng hòa Inđônêxia vẫn còn duy trì hình phạt
này.
Việt Nam là quốc gia vẫn duy trì hình phạt tử hình. Cơ sở lý luận của việc duy
trì hình phạt này là: do tính chất đặc biệt nghiêm trọng của tội phạm đã được thực hiện và
những đặc điểm về nhân thân người phạm tội, Nhà nước ta xét thấy không còn khả năng
giáo dục, cải tạo họ. Vì vậy, hình phạt tử hình không đặt ra mục đích giáo dục, cải tạo đối
với người bị kết án. Việc tước bỏ mạng sống của người bị kết án là nhằm loại bỏ hoàn
toàn khả năng thực hiện tội phạm ở họ, đồng thời răn đe mạnh mẽ những người không
quan đưa bản án và quyết định hình sự đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án ra thi hành
làm cho nó phát huy hiệu lực trên thực tế.
Nghiên cứu khái niệm thi hành án hình sự nói trên, có thể rút ra những đặc điểm
của nó như sau:
Một là, thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của hoạt động tố tụng hình sự,
phản ánh kết quả của toàn bộ hoạt động tố tụng hình sự của các cơ quan tiến hành tố
tụng, người tiến hành tố tụng trong việc giải quyết vụ án hình sự.
Hai là, mục đích của hình phạt chỉ có thể được thực hiện thông qua thi hành án
hình sự. Điều đó có nghĩa, thi hành án hình sự chính là quá trình thực tiễn hóa mục đích
của hình phạt. Ngoài ra, thi hành án hình sự còn có mục đích: đưa vào cuộc sống một
cách đúng đắn và đầy đủ mọi nội dung của hình phạt đã được Tòa án phán quyết trong
bản án, quyết định hình sự, khắc phục hậu quả do chính tội phạm đó gây ra cho xã hội,
làm mất khả năng phạm tội của kẻ phạm tội, giáo dục, cải tạo kẻ phạm tội thành người
lương thiện và tái hòa nhập cộng đồng người đó thành người có ích cho gia đình và xã
hội.
Ba là, thi hành án hình sự trước hết được điều chỉnh bằng các quy phạm pháp
luật tố tụng hình sự và do nhiều cơ quan, tổ chức, cá nhân thi hành nhằm bảo đảm sự
nghiêm minh của pháp luật và công bằng xã hội. Ngoài ra, do thi hành án hình sự thường
diễn ra trong thời gian dài, liên quan đến nhiều lĩnh vực, cho nên, ngoài các quy phạm
pháp luật tố tụng hình sự, cho nên thi hành án hình sự còn được điều chỉnh bằng các quy
phạm pháp luật khác như hành chính, dân sự, lao động
Thi hành hình phạt tử hình là một bộ phận của thi hành án thi hành án hình sự.
Từ khái niệm thi hành án hình sự nói trên, có thể đưa ra khái niệm thi hành hình phạt tử
hình như sau: Thi hành hình phạt tử hình là hoạt động của cơ quan nhà nước, cá nhân có
thẩm quyền đưa bản án tử hình của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật ra thực hiện trên
thực tế theo những trình tự, thủ tục do pháp luật tố tụng hình sự quy định.
Thi hành hình phạt tử hình cũng mang đầy đủ các đặc điểm của thi hành án hình
tục do pháp luật tố tụng hình sự quy định.
Trong lịch sử tồn tại và phát triển, loài người đã áp dụng rất nhiều hình thức thi
hành hình phạt tử hình. Việc lựa chọn hình thức thi hành hình phạt tử hình nào cho phù
hợp, phụ thuộc vào các điều kiện chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, cũng như chính sách
hình sự của mỗi quốc gia. GS.TS người Nga A.Ph. Kixthiacốpxki đã dày công nghiên
cứu về những hình thức thi hành hình phạt tử hình trong lịch sử và đưa ra 21 hình thức thi
hành hình phạt tử hình chủ yếu đã được loài người áp dụng như sau: 1) treo cổ; 2) chặt
đầu; 3) đun người bị kết án trong vạc dầu, nước sôi; 4) dùng bánh xe cán chết; 5) xé xác
người bị kết án ra thành các mảnh nhỏ; 6) thiêu chết; 7) chôn sống; 8) bóp cổ hoặc làm
cho chết ngạt trong bao tải; 9) lột da người bị kết án cho đến chết; 10) mổ bụng, moi ruột;
11) cho ngồi lên cọc nhọn hoặc dùng cọc nhọn đâm thủng người; 12) đốt cổ họng bằng
chì đun sôi; 13) đẩy người bị kết án từ đỉnh núi xuống vực; 14) thắt cổ; 15) voi dày, ngựa
xéo; 16) quăng người bị kết án cho hổ, báo ăn thịt; 17) dùng đá ném đến chết; 18) cho
người bị kết án chết đói, chết khát; 19) đầu độc chết; 20) dùng gậy đánh chết; 21) xử bắn.
Từ sự thống kê này, GS.TS A.Ph. Kixthiacốpxki đã chia các hình thức thi hành
hình phạt tử hình thành hai loại: loại hình thức thi hành hình phạt tử hình bình thường
(treo cổ, xử bắn ) và loại hình thức thi hành hình phạt tử hình đặc biệt ngoài việc tước sự
sống của người bị kết án, còn có mục đích làm đau đớn một cách thảm khốc cho họ như
đun người bị kết án trong vạc dầu, nước sôi, lột da, xé xác [60, tr. 136].
Hiện nay, pháp luật tố tụng hình sự của các nước trên thế giới quy định bảy hình
thức thi hành hình phạt tử hình.
Hình thức thứ nhất: xử bắn.
Đây là hình thức thi hành hình phạt tử hình mang tính phổ biến nhất. Theo số liệu
của Tổ chức ân xá quốc tế, có 86 quốc gia trên thế giới áp dụng hình thức thi hành hình
phạt tử hình này. Việc xử bắn có thể do một người hoặc một nhóm người thi hành.
Trường hợp việc xử bắn do một người thi hành, thì người đó dùng súng ngắn, bắn vào
đầu người bị kết án ở cự ly ngắn, làm người đó chết ngay. Trường hợp việc xử bắn do
thân thể người bị kết án, lần đầu được thực hiện vào năm 1888 tại Nữu Ước, Hợp chủng
quốc Hoa Kỳ. Trước khi hành hình 4 tuần lễ, người bị kết án được chuyển đến khu giam
giữ đặc biệt, được viết nguyện vọng về nơi chôn cất và tài sản thừa kế. Người ta thử ba
lần ghế điện, chuẩn bị dung dịch Amôniác dùng làm chất cách điện, thấm vào một cái
đệm để áp vào đầu người bị kết án (bị cạo trọc), chân phải người đó được bôi chất dẫn
điện. Người bị kết án bị buộc vào ghế điện. Hai cực điện được đặt vào đầu, chân phải của
người bị kết án và dòng điện mạnh 2500 vôn được đóng. Việc cắm điện làm người bị kết
án ngất ngay lập tức, nhưng cái chết chỉ xuất hiện sau một thời gian nhất định, trong một
số trường hợp, phải sau từ 10 đến 15 phút, người bị kết án mới chết (có trường hợp phải 5
lần cắm điện, người bị kết án mới chết). ở Hợp chủng quốc Hoa Kỳ xảy ra một trường
hợp, cho người bị kết án ngồi ghế điện, nhưng không chết, dẫn đến việc Tòa án tối cao
phải ra phán quyết rằng, việc thi hành hình phạt tử hình lần thứ hai là không vi phạm
Hiến pháp và người bị kết án bị hành quyết lần thứ hai sau một năm [60, tr. 143].
Hình thức thứ sáu: dùng hơi ngạt.
Đây là hình thức thi hành hình phạt tử hình được áp dụng từ cuối những năm 30
thế kỷ 20. Người bị kết án được buộc vào một chiếc ghế trong một phòng được thiết kế
hoàn toàn bằng thép. ở ngực người bị kết án, người ta gắn một ống nghe của bác sĩ và
dây cao su dẫn tới phòng bên để bác sĩ theo dõi nhịp tim của người bị kết án. Dưới ghế
ngồi của người bị kết án được đặt 16 viên thuốc độc (xianua). Khi cánh cửa thép được
đóng lại, người ta cho chạy thiết bị làm những viên thuốc độc được hòa vào dung dịch
axit, thuốc độc bốc thành khói, làm ngạt thở người bị kết án, từ đó dẫn đến tim ngừng
đập. Hình thức thi hành phạt tử hình này bị coi là phức tạp và khá tốn kém.
Hình thức thứ bảy: tiêm thuốc độc.
Đây là hình thức thi hành hình phạt tử hình, trong đó người bị kết án bị buộc chặt
vào một cái cáng, được đưa vào một phòng kín, rồi bị tiêm thuốc độc vào bắp thịt. Hình
thức thi hành hình phạt tử hình lần đầu tiên được áp dụng tại Hợp chủng quốc Hoa Kỳ
vào năm 1977. Khi bị tiêm thuốc độc mạnh vào mạch máu, thì người bị kết án sẽ bị chết
hành hình phạt tử hình một cách tùy tiện, không đúng pháp luật, bị coi là những hành vi
vi phạm pháp luật nghiêm trọng, bởi nó xâm phạm quyền được sống là một trong những
quyền con người cơ bản, xâm phạm đến tình cảm thiêng liêng của những người thân
thích của họ. Những hành vi vi phạm pháp luật về thi hành hình phạt tử hình không
những xâm hại hoạt động đúng đắn của các cơ quan bảo vệ pháp luật, xâm hại quyền bất
khả xâm phạm về thân thể của công dân, mà còn làm giảm sút lòng tin của nhân dân đối
với sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước. Do vậy, việc quy định một cách chặt
chẽ chế định thi hành hình phạt tử hình trong luật tố tụng hình sự thể hiện sự tôn trọng
quyền con người của Nhà nước ta, bảo đảm sự giám sát của nhân dân, xã hội trong hoạt
động thi hành án hình sự nói chung, thi hành hình phạt tử hình nói riêng.
Việc quy định trình tự, thủ tục thi hành hình phạt tử hình trong luật tố tụng hình
sự, ngoài ý nghĩa về mặt lập pháp tố tụng hình sự, còn có ý nghĩa nâng cao nhận thức của
nhân dân nói chung, cán bộ các cơ quan bảo vệ pháp luật nói riêng về sự cần thiết phải
tuân thủ các quy định chặt chẽ của pháp luật tố tụng hình sự trong lĩnh vực thi hành hình
phạt tử hình. Mặt khác, việc quy định cụ thể, chi tiết trình tự, thủ tục thi hành hình phạt tử
hình còn giúp các cơ quan bảo vệ pháp luật nắm vững nội dung, bản chất pháp lý, từ đó
áp dụng đúng đắn chế định này, góp phần nâng cao hiệu quả cuộc đấu tranh phòng,
chống tội phạm, động viên quần chúng nhân dân tham gia tích vào cuộc đấu tranh này.
Ngoài ra, chế định thi hành hình phạt tử hình, còn có ý nghĩa là cơ sở pháp lý cho
một số ngành khoa học pháp lý có liên quan chặt chẽ với khoa học luật tố tụng hình sự
như tội phạm học, tâm lý học tư pháp, khoa học kỹ thuật hình sự Đối với tội phạm học,
chế định thi hành hình phạt tử hình trong luật tố tụng hình sự là cơ sở quan trọng cho việc
nghiên cứu về nhân thân người bị kết án tử hình, từ đó tìm ra quy luật phạm tội của
những người này. Đối với tâm lý học tư pháp, chế định thi hành hình phạt tử hình có ý
nghĩa quan trọng trong việc nghiên cứu đặc điểm tâm lý của người bị kết án tử hình ở giai
đoạn xem xét bản án tử hình trước khi đưa ra thi hành, cũng như ở giai đoạn thi hành
hình phạt tử hình, nhất là ở thời điểm trước khi thi hành án. Kết quả nghiên cứu đặc điểm
người rơi xuống chết [18, tr. 349].
Dưới thời nhà Lý, Lý Thái Tông cho soạn ra Hình thư, đây là bộ luật thành văn
đầu tiên của nước ta nhưng hiện nay không còn nên chúng ta không biết rõ nội dung các
điều luật.
Dưới thời nhà Trần, hình phạt tử hình đối với những người bị ghép tội phản
nghịch được thi hành bằng cách: cho voi dầy, lăng trì (cắt từng miếng thịt cho đến chết),
chôn sống, bêu đầu (sau khi chém người phạm tội bị chôn xuống đất, chỉ để lộ ra cái đầu,
rồi buộc đầu vào một cây tre uốn cong xuống đất để bên cạnh. Khi xử tử, người ta lấy dao
sắc chém đầu, đầu người tử tội sẽ bị treo trên cành tre). Việc áp dụng các hình thức thi
hành hình phạt tử hình như trên là nhằm bảo vệ chế độ phong kiến khỏi sự xâm hại của
những kẻ phản nghịch.
Dưới thời nhà Lê (1428 – 1788), Quốc triều hình luật (Bộ Luật Hồng Đức) - Bộ
luật chính thống và quan trọng nhất, đã đề cập đến thi hành hình phạt tử hình tại mục 5
Điều 1 chương danh lệ:
Tử hình có ba bậc: từ tội thắt cổ (giảo), chém, đến tội lăng trì, chia
làm ba bậc thắt cổ, chém là một bậc, chém bêu đầu (khiêu) là một bậc, lăng trì là
một bậc, tùy theo tội mà tăng giảm.
1. Thắt cổ, chém.
2. Chém bêu đầu.
3. Lăng trì [36, tr. 219].
Điều 680 chương đoán ngục quy định:
Đàn bà phải tội tử hình trở xuống, nếu đang có thai, thì phải để sinh đẻ
sau 100 ngày, mới đem hành hình, nếu chưa sinh mà đem hành hình, thì ngục
quan bị xử biếm hai tư, ngục lại bị tội đồ làm bản cục đinh. Dù đã sinh rồi
nhưng chưa đủ một trăm ngày mà hành hình, thì ngục quan và ngục lại đều bị
tội nhẹ hơn tội trên hai bậc. Nếu đã đủ một trăm ngày mà không đem hành
hình, thì ngục quan và ngục lại bị tội biếm hoặc tội phạt [36, tr. 231-232].
mà bị tử hình, thì chỉ cho mặc một cái áo lót mình, đi chơn không, đầu bịt vải
trắng, rồi giải đến chỗ hình trường.
Đem người phạm để chỗ hình trường rồi người thừa phát lại đem án
ra đọc trước công chúng. Khi đọc xong, thi hành ngay.
Cái xác người bị tử hình, nếu có người thân tộc đứng xin, sẽ cho nhận
lấy mà mai táng, nhưng mà không cho phô trương.
Phàm gặp ngày kỷ niệm nước đại Pháp và những ngày lễ mà luật đại
Pháp đã nhận, ngày chủ nhật, và theo như lịch An Nam, đầu năm từ mồng một
đến mồng bảy, rằm tháng bảy, rằm tháng tám, ba ngày cuối cùng tháng chạp
ngày vạn thọ nước Nam thì không được hành hình [32, tr. 5].
Trong Hoàng Việt hình luật được ban hành năm 1933, có hiệu lực ở Trung kỳ,
Điều 6, 7, 8 chương 2 - Những tội danh đại hình, quy định:
Người bị tử hình sẽ bị bắn hoặc chém ở trước công chúng. Còn chỗ
hành hình nếu hội đồng thượng thơ không chỉ định, thời quan tỉnh sở tại sẽ
định một chỗ ở trong tỉnh mà tội nhân đã phạm pháp. Nếu đàn bà bị tử hình
xưng rằng có thai, mà xét ra quả thiệt, thời sau khi sanh đẻ rồi một trăm ngày
mới phải thụ hình.
Tội tử hình không đem ra hành hình trong những ngày quốc khánh
(đại Pháp) và những ngày lễ mà luật nước đại Pháp Việt Nam đã công nhận,
ngày chủ nhựt (cùng ngày lễ vạn thọ, ba ngày trước và ba ngày sau lễ nam giao),
tám ngày đầu tháng giêng Việt Nam, ngày mồng 2, mồng 5 tháng 5, ngày rằm,
tháng giêng, tháng bảy, tháng tám và tháng mười, ngày mồng một và năm ngày
cuối cùng tháng chạp.
Nếu thân nhơn người bị xử tử có xin nhận xác về chôn thời cũng cho,
nhưng không được làm đám phô trương và có công chúng dự lễ.
Nghiên cứu quy định trên cho thấy, việc thi hành hình phạt tử hình mặc dù mang
bản chất của giai cấp thực dân thống trị sâu sắc, nhưng đã được quy định rất chi tiết, cụ
chuyển lên Bộ Tư pháp. Bộ Tư pháp làm tờ trình lên Chủ tịch nước quyết định
[38, tr. 213].
Nghiên cứu các văn bản pháp luật quy định việc thi hành hình phạt tử hình trong
thời kỳ này, chúng ta có thể rút ra một số nhận xét như sau:
Thứ nhất, pháp luật trong giai đoạn này mang tính chất thời chiến, nhưng cũng đã
kịp thời quy định một số vấn đề cơ bản của việc thi hành hình phạt tử hình. Đây là cơ sở
pháp lý quan trọng cho việc thi hành hình phạt tử hình, góp phần vào cuộc đấu tranh
chống thực dân Pháp và tay sai.
Thứ hai, việc thi hành hình phạt tử hình được quy định trong nhiều văn bản pháp
luật dẫn tới khó khăn trong việc thống nhất áp dụng pháp luật. Mặt khác, các văn bản quy
định về việc thi hành hình phạt tử hình đều là những văn bản dưới luật do cơ quan hành
pháp ban hành, hiệu lực pháp lý không cao.
Thứ ba, nhiều vấn đề về thi hành hình phạt tử hình chưa được pháp luật điều
chỉnh như cơ quan chịu trách nhiệm thi hành hình phạt tử hình, trình tự, thủ tục xử bắn tại
pháp trường Đây là những nhược điểm cần được khắc phục trong thời gian tới.
Từ năm 1954 đến năm 1974, việc thi hành án tử hình do các khu, sở, ty Công an
phối hợp với Viện Kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân ở địa phương thi hành. Ngày 13-
2-1974, Bộ Công an ra Chỉ thị số 138-KC1 quy định cụ thể về công việc chuẩn bị, thủ tục
và trình tự những việc làm từ lúc bắt đầu cho đến khi kết thúc cuộc thi hành án, những
trường hợp cần tạm hoãn thi hành án. Về địa điểm pháp trường, thời gian thi hành án, Chỉ
thị quy định:
Tùy trường hợp, pháp trường có thể bố trí gần trại giam, hoặc ở nơi
xảy ra vụ án, nhưng nguyên tắc là phải bảo đảm tuyệt đối an toàn cho nhân
dân (xa nhà ở của dân, không để dân qua lại khu vực pháp trường)
Ngày giờ thi hành án, nếu không phải trường hợp cấp bách, thì không
nên định vào ngày kỷ niệm, ngày tết và các ngày lễ chính của các tôn giáo,
dân tộc [45, tr. 255].
phạm nhân.
5. Bịt mắt phạm nhân bằng một vải băng đen.
6. Hội đồng thi hành án ra lệnh thì cán bộ chỉ huy lực lượng thi hành
án hô đội viên (5 đội viên bắn giỏi được lựa chọn) bắn một loạt súng trường
nhằm thẳng vào tim phạm nhân. Để kết thúc việc thi hành án tử hình, cán bộ
chỉ huy bắn thêm một phát súng ngắn vào thái dương của phạm nhân.
7. Bác sĩ pháp y khám nghiệm, xác định là phạm nhân đã chết hẳn.
8. Chôn phạm nhân ngay tại gần nơi thi hành án (không cho phép thân
nhân xin xác đem về chôn); tại mả có cắm một biển gỗ nhỏ ghi rõ họ, tên tuổi
và nguyên quán phạm nhân [45, tr. 257].
Việc không cho phép thân nhân người bị kết án xin xác về chôn trong Chỉ thị số
138-KC1 là phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh chiến tranh lúc đó.
Đặc biệt, trong Chỉ thị này quy định rất rõ các trường hợp tạm hoãn thi hành hình
phạt tử hình. Đây là những quy định, mặc dù không có trong Bộ luật tố tụng hình sự hiện
hành, nhưng hiện nay vẫn được áp dụng:
- Phạm nhân tự thú những tội phạm nghiêm trọng khác của y mà xét
thấy những việc ấy cần điều tra, xác minh thêm để kết luận.
- Phạm nhân tố giác tội phạm của người khác mà xét thấy việc ấy có
tính chất nghiêm trọng và việc điều tra, kết luận nhất thiết phải có mặt phạm
nhân.
- Phạm nhân kêu oan mà xét thấy việc đó có thể có căn
cứ [45, tr. 257].
Trong Bộ luật tố tụng hình sự đầu tiên của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam được Quốc hội thông qua ngày 28/06/1988, có hiệu lực thi hành từ ngày 1-1-1989.
đã được sửa đổi, bổ sung ba lần vào các năm: 1990, 1992, 2000, (sau đây gọi tắt là Bộ
luật tố tụng hình sự năm 1988), việc thi hành hình phạt tử hình được quy định tại chương
XXV.
Thủ tục thi hành hình phạt tử hình được quy định tại Điều 229 Bộ luật tố tụng
hình sự năm 1988 với những nội dung cụ thể sau:
Thứ nhất, về việc ra quyết định thi hành án và thành lập Hội đồng thi hành án tử
hình.
Khoản 1 Điều 229 Bộ luật quy định:
Chánh án Tòa án đã xử sơ thẩm ra quyết định thi hành án và thành lập
Hội đồng thi hành án.
Hội đồng thi hành án gồm đại diện Tòa án, Viện Kiểm sát và Công an.
Hội đồng thi hành án phải kiểm tra căn cước của người bị kết án trước khi thi
hành.
So với quy định về việc thành lập Hội đồng thi hành án trong Chỉ thị số 138-
KC1, Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 đã trao thẩm quyền thành lập Hội đồng thi hành
án từ cơ quan Công an sang Tòa án và không quy định bác sĩ pháp y là thành phần bắt
buộc của Hội đồng.
Trong trường hợp người bị kết án là phụ nữ thì trước khi ra quyết định thi hành
án, Chánh án Tòa án đã xử sơ thẩm phải tổ chức kiểm tra các điều kiện không áp dụng
hình phạt tử hình được quy định tại Điều 35 Bộ luật hình sự năm 1985. Đây có thể nói là
bước tiến bộ về kỹ thuật lập pháp tố tụng hình sự, thể hiện truyền thống nhân đạo, nhân
văn và tôn trọng quyền con người, tôn trọng phụ nữ của dân tộc ta.