Hoàn thiện chế định hòa giải trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam - Pdf 25



1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

NGUYỄN THỊ THÚY
HOÀN THIỆN CHẾ ĐỊNH HÒA GIẢI
TRONG PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS. Bùi Thị Huyền

Hà nội - 2014
3

LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên
cứu khoa học của riêng tôi. Các số liệu, ví dụ và
trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính
xác và trung thực. Những kết luận khoa học của
luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kỳ
công trình nào khác.

TÁC GIẢ LUẬN VĂN Danh mục các bảng MỞ ĐẦU
1

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHẾ ĐỊNH HÒA GIẢI
VÀ HOÀN THIỆN CHẾ ĐỊNH HÒA GIẢI TRONG PHÁP
LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM
7
1.1.
Khái niệm, đặc điểm, cơ sở, quá trình hình thành và phát
triển, ý nghĩa chế định hòa giải trong pháp luật tố tụng dân sự
7
1.1.1.
Khái niệm chế định hòa giải trong pháp luật tố tụng dân sự
Việt Nam
7
1.1.2.
Đặc điểm chế định hòa giải trong pháp luật tố tụng dân sự
9
1.1.3.
Cơ sở của chế định hòa giải trong tố tụng dân sự
15
1.1.4.
Quá trình hình thành và phát triển của chế định hòa giải trong
pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam
20

Nội dung thỏa thuận giữa các đƣơng sự không trái pháp luật
và đạo đức xã hội
46
2.2.
Phạm vi hòa giải
48
2.2.1.
Những vụ án dân sự không đƣợc hòa giải
48
2.2.2.
Những vụ án dân sự không tiến hành hòa giải đƣợc
53
2.3.
Thành phần phiên hòa giải và nội dung hòa giải
58
2.3.1.
Thành phần phiên hòa giải
58
2.3.2.
Nội dung hòa giải
66
2.4.
Trình tự tiến hành phiên hòa giải
68
2.5.
Xử lý kết quả hòa giải
71

Chương 3: THỰC TIỄN ÁP DỤNG VÀ CÁC KIẾN NGHỊ HOÀN
THIỆN CHẾ ĐỊNH HÒA GIẢI TRONG PHÁP LUẬT

và các nguyên tắc khác của giao lƣu dân sự, kinh tế trong điều
kiện của nền kinh tế thị trƣờng định hƣớng xã hội chủ nghĩa
101
3.2.2.
Xác định rõ trách nhiệm của Nhà nƣớc phải bảo đảm cho
đƣơng sự thực hiện quyền tự định đoạt của mình trong việc
hòa giải các vụ việc dân sự
102
3.2.3
Chế định hòa giải phải đảm bảo các tiêu chí về hoàn thiện chế
định hòa giải, góp phần phát huy dân chủ trong mọi lĩnh vực
của đời sống xã hội, củng cố khối đoàn kết cộng đồng, khơi
dậy tình tƣơng thân tƣơng ái của dân tộc Việt Nam
102
3.2.4.
Chế định hòa giải phải giản đơn, thuận lợi bảo đảm tiến hành
hòa giải nhanh chóng, hiệu quả
103
3.3.
Các kiến nghị hoàn thiện chế định hòa giải và nâng cao hiệu
quả của áp dụng chế định hòa giải
104
3.3.1.
Kiến nghị về hoàn thiện chế định hòa giải trong pháp luật tố
tụng dân sự Việt Nam hiện hành
104
3.3.2.
Kiến nghị về thực hiện chế định hòa giải trong tố tụng dân sự
111


: Tòa án nhân dân tối cao
TNHH
: Trách nhiệm hữu hạn
TTDS
: Tố tụng dân sự
XHCN
: Xã hội chủ nghĩa
8 DANH MỤC CÁC BẢNG

Số hiệu
bảng
Tên bảng
Trang
2.1
Kết quả giải quyết các vụ việc dân sự của TAND các cấp
từ năm 2007 - 2013
85
9
MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

hoạt động TTDS. Thông qua hòa giải, Tòa án có thể giúp các đƣơng sự giải
quyết mâu thuẫn, thỏa thuận giải quyết vụ việc dân sự mà không cần phải kéo
dài phiên tòa xét xử, đỡ tốn kém thời gian, tiền của Nhà nƣớc, của các đƣơng
sự; hàn gắn những rạn nứt trong quan hệ giữa các đƣơng sự góp phần xây
dựng khối đoàn kết trong nhân dân. Bên cạnh đó, qua việc hòa giải Tòa án
còn có thể giải thích, nâng cao nhận thức pháp luật cho các đƣơng sự giúp cho
việc tổ chức thi hành án đƣợc thuận lợi. Đặc biệt, khi hòa giải thành các
đƣơng sự sẽ tự nguyện thi hành án, đa số các trƣờng hợp không phải áp dụng
các biện pháp cƣỡng chế thi hành án.
Mặt khác, trong giai đoạn hiện nay, sự nghiệp đổi mới đất nƣớc đang
diễn ra sâu rộng trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Sự tồn tại của nhiều
thành phần kinh tế theo cơ chế thị trƣờng định hƣớng xã hội chủ nghĩa (XHCN)
đã thúc đẩy sự phát triển, đan xen giữa các giao lƣu dân sự, kinh tế, các quan
hệ dân sự đã có những thay đổi đáng kể và nhanh chóng cần có sự điều chỉnh
phù hợp của pháp luật Trong bối cảnh nhƣ vậy, BLTTDS nói chung và chế
định hòa giải nói riêng đã bộc lộ những hạn chế, bất cập; có những quy định mâu
thuẫn với các văn bản quy phạm pháp luật khác; có những quy định chƣa phù
hợp, chƣa đầy đủ, thiếu rõ ràng, có nhiều cách hiểu khác nhau… và áp dụng
chƣa thống nhất, hạn chế hiệu quả của hoạt động hòa giải trong quá trình giải
quyết các vụ việc dân sự. Chính từ thực trạng đó đòi hỏi phải nghiên cứu một
cách toàn diện, sâu sắc và đầy đủ về chế định hòa giải trong pháp luật TTDS
Việt Nam nhằm góp phần hoàn thiện những quy định của pháp luật TTDS. Vì
vậy, BLTTDS đã đƣợc Quốc hội khóa XI, kỳ họp thứ 5 thông qua ngày
15/6/2004 và đƣợc sửa đổi bổ sung năm 2011. So với BLTTDS, Luật sửa đổi,
bổ sung một số điều BLTTDS năm 2011 có nhiều sửa đổi, bổ sung, quan
trọng nhằm đáp ứng yêu cầu cấp bách của thực tiễn giải quyết các vụ việc dân
sự trong giai đoạn hiện nay. 11


12
giải trong pháp luật TTDS Việt Nam, từ đó đề xuất một số kiến nghị góp phần
hoàn thiện chế định này.
Để đạt đƣợc mục đích trên, luận văn có những nhiệm vụ sau đây:
- Tìm hiểu một cách đầy đủ và có hệ thống các quy định của pháp luật
TTDS Việt Nam chế định hòa giải;
- Hiện nay, việc áp dụng chế định hòa giải còn rất nhiều bất cập và hạn
chế, nên đã làm cho việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể
gặp nhiều khó khăn, nhiều trƣờng hợp quyền và nghĩa vụ của chủ thể không
thực hiện đƣợc. Việc nghiên cứu, đánh giá mức độ hoàn thiện của chế định hòa
giải và thực tiễn áp dụng chế định hòa giải trong TTDS chỉ ra những nội dung,
những vấn đề còn thiếu sót, chƣa phù hợp, những hạn chế từ việc áp dụng chế
định hòa giải. Từ đó, luận giải về yêu cầu hoàn thiện chế định hòa giải trong
TTDS Việt Nam, đồng thời đề ra các kiến nghị hoàn thiện chế định này.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
Đối tƣợng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu của luận văn tập trung
nghiên cứu những vấn đề sau:
- Những vấn đề lý luận về chế định hòa giải và hoàn thiện chế định
hòa giải trong pháp luật TTDS Việt Nam.
- Thực trạng chế định hòa giải trong pháp luật TTDS Việt Nam hiện hành.
- Thực tiễn áp dụng và các kiến nghị hoàn thiện chế định hòa giải
trong pháp luật TTDS ở Việt Nam.
Hoàn thiện chế định hòa giải trong pháp luật TTDS có phạm vi nghiên
cứu rộng nên có thể đƣợc nghiên cứu dƣới nhiều phƣơng diện khác nhau và
với nhiều nội dung khác nhau. Trong khuôn khổ của một luận văn thạc sĩ Luật
học, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu chế định hòa giải theo quy định của
BLTTDS Việt Nam hiện hành. Luận văn có đề cập nghiên cứu một số quy
định của pháp luật tố tụng về hòa giải trƣớc thời điểm BLTTDS đƣợc ban

14
hòa giải vụ việc dân sự tại Tòa án, ảnh hƣởng trực tiếp đến chất lƣợng giải
quyết vụ việc dân sự, là nguyên nhân quan trọng đƣa việc giải quyết vụ việc
dân sự rơi vào tình trạng xét xử lòng vòng qua nhiều cấp, kéo dài nhiều năm,
gây bức xúc và mất niềm tin trong nhân dân.
- Góp phần vào việc xây dựng và hoàn thiện chế định hòa giải trong
pháp luật TTDS Việt Nam hiện nay. Luận văn này có thể đƣợc sử dụng làm
tài liệu tham khảo trong việc xây dựng và hoàn thiện chế định hòa giải trong
TTDS cũng nhƣ trong việc giảng dạy, nghiên cứu về chế định hòa giải trong
pháp luật TTDS Việt Nam.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung luận văn gồm 3 chƣơng:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về chế định hòa giải và hoàn thiện
chế định hòa giải trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam
Chương 2: Chế định hòa giải theo quy định của pháp luật tố tụng dân
sự Việt Nam hiện hành.
Chương 3: Thực tiễn áp dụng và các kiến nghị hoàn thiện chế định
hòa giải trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam. 15
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHẾ ĐỊNH HÒA GIẢI
VÀ HOÀN THIỆN CHẾ ĐỊNH HÒA GIẢI TRONG PHÁP LUẬT
TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM

1.1. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM, CƠ SỞ, QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ

trọng quyền tự định đoạt của đƣơng sự đƣợc xác định là một trong những
nguyên tắc cơ bản của pháp luật TTDS.
Khi các bên yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp, pháp luật luôn bảo
đảm cho các đƣơng sự có quyền tự quyết định các hành vi của mình phù hợp
với quy định của pháp luật nhƣ: tự rút đơn khởi kiện, thay đổi nội dung khởi
kiện, hòa giải, kháng cáo bản án và quyết định chƣa có hiệu lực pháp luật… Các
quy định pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình hòa
giải các vụ việc dân sự trở thành chế định quan trọng của pháp luật TTDS.
Theo Từ điển Tiếng Việt do Nhà xuất bản Từ điển Bách khoa (2008):
"Chế định là định ra, lập ra một phép tắc có hệ thống để ban hành" [67, tr. 153].
Theo Từ điển Luật học thì:
Chế định pháp luật đƣợc hiểu là tổng thể các quy phạm pháp
luật điều chỉnh một nhóm quan hệ xã hội trong phạm vi một ngành
luật. Dƣới góc độ pháp luật, hòa giải đƣợc coi là chế định pháp luật,
bao gồm tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ xã hội
phát sinh trong quá trình hòa giải các vụ việc dân sự [65, tr. 76].
Theo giáo trình Lý luận Nhà nƣớc và pháp luật của Trƣờng Đại học
Luật Hà Nội thì: "Chế định pháp luật là một tập hợp đƣợc cấu trúc từ nhóm
các quy phạm pháp luật điều chỉnh nhóm quan hệ xã hội có liên quan mật
thiết với nhau thuộc cùng một loại" [55].
Theo Từ điển Tiếng Việt do Trung tâm Ngôn ngữ học trực thuộc Viện
Khoa học xã hội biên soạn (1992), "Hòa giải là việc thuyết phục các bên đồng
ý chấm dứt xung đột hay xích mích một cách ổn thỏa" [53, tr. 350]. 17
Hòa giải là một biện pháp để giải quyết các tranh chấp, theo đó, với sự
giúp đỡ của bên thứ ba độc lập giữ vai trò trung gian, các bên tranh chấp tự
nguyện thỏa thuận giải quyết tranh chấp cho phù hợp với quy định của pháp
luật, truyền thống đạo đức xã hội. Hòa giải trong TTDS là hoạt động do Tòa

Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, nếu hòa giải không thành, Tòa án phải củng
cố, hoàn hiện hồ sơ vụ việc để đƣa ra xét xử tại phiên tòa. Giai đoạn chuẩn bị
xét xử sơ thẩm vụ án dân sự là giai đoạn rất quan trọng, nó làm tiền đề, cơ sở
pháp lý vững chắc đảm bảo cho việc xét xử và ra các quyết định của Tòa án
đƣợc khách quan, toàn diện và đúng pháp luật. Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử
sơ thẩm, hoạt động hòa giải các vụ việc dân sự có những đặc điểm sau đây:
Thứ nhất, giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm, hòa giải là một thủ tục
bắt buộc đối với hầu hết vụ việc trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự.
Hòa giải đã đƣợc pháp luật TTDS Việt Nam xác định là một nguyên
tắc, thủ tục trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự để đƣơng sự thực hiện
quyền tự định đoạt của mình nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động xét xử, thể
hiện trách nhiệm của Nhà nƣớc trong việc bảo vệ quyền lợi hợp pháp của
công dân, đồng thời còn mang ý nghĩa xã hội sâu sắc trong việc củng cố tình
tƣơng thân, tƣơng ái, giữ gìn khối đoàn kết cộng đồng.
Các quy định về hòa giải cũng nhƣ các hoạt động tố tụng khác trong
quá trình giải quyết các vụ việc dân sự luôn luôn đƣợc hoàn thiện đáp ứng yêu
cầu của đời sống xã hội. Theo quy định BLTTDS, hòa giải là một giai đoạn
bắt buộc đối với vụ án mà theo quy định phải tiến hành hòa giải ở giai đoạn
chuẩn bị xét xử sơ thẩm, chỉ đƣa ra xử tại phiên tòa sơ thẩm khi đã hòa giải
không thành. Hòa giải không phải là thủ tục bắt buộc tại phiên tòa sơ thẩm và
các giai đoạn tố tụng tiếp theo trong quá trình giải quyết các vụ việc dân sự.
Theo quy định BLTTDS, hòa giải là một nguyên tắc, thủ tục giải quyết
các vụ việc dân sự. Điều 10 BLTTDS quy định: "Tòa án có trách nhiệm tiến
hành hòa giải và tạo điều kiện thuận lợi để các đƣơng sự thỏa thuận với nhau
về việc giải quyết vụ việc dân sự theo quy định của Bộ luật này" [31]. Theo
Điều 186 BLTTDS quy định: "Khi các đƣơng sự thỏa thuận đƣợc với nhau về
vấn đề phải giải quyết trong vụ án dân sự thì Tòa án lập biên bản hòa giải
thành. Biên bản này đƣợc gửi ngay cho các đƣơng sự tham gia hòa giải" [31].
sự về giải quyết tranh chấp. Trong trƣờng hợp các đƣơng sự tự hòa giải thì 20
Tòa án có thể ra quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án, còn việc hòa giải ở
Tổ hòa giải cơ sở thì không phải là thủ tục bắt buộc.
Thứ ba, kết quả hòa giải thành là sự thỏa thuận của các đương sự.
Trong các vụ việc dân sự, các đƣơng sự là chủ thể của các quan hệ có nội
dung tranh chấp nên họ mới có quyền thƣơng lƣợng và điều đình với nhau về
giải quyết các tranh chấp. Việc thỏa thuận giữa các đƣơng sự chỉ đạt đƣợc trên cơ
sở thƣơng lƣợng một cách tự nguyện, trung thực, hợp lý, hợp tình, không một ai
với bất kỳ một hình thức nào cƣỡng ép, can thiệp vào thỏa thuận của các đƣơng sự.
Sự thỏa thuận của chính các đƣơng sự là đặc trƣng cơ bản của hòa
giải, thể hiện sự tôn trọng quyền tự định đoạt của đƣơng sự. Chỉ có đƣơng sự
mới có quyền quyết định về việc giải quyết quyền và lợi ích của họ trong quá
trình hòa giải vụ việc dân sự. Đây cũng là điểm khác biệt giữa hòa giải với xét
xử. Khi xét xử, đƣơng sự phải tuân thủ nghiêm chỉnh mọi phán quyết của Tòa
án theo quy định của pháp luật, không có sự thƣơng lƣợng giữa Tòa án và các
đƣơng sự, còn khi hòa giải, Tòa án chỉ có vai trò trung gian giúp đỡ các bên
tranh chấp thỏa thuận với nhau mà không đƣợc can thiệp vào thỏa thuận đó.
Thứ tư, hòa giải vụ việc dân sự được tiến hành theo trình tự, thủ tục
do chế định hòa giải quy định.
Hòa giải vụ việc dân sự, cũng nhƣ các thủ tục tố tụng khác do Tòa án
tiến hành trên cơ sở quy định của pháp luật. Việc quy định trình tự và thủ tục
hòa giải các vụ việc dân sự bảo đảm tính khách quan, công bằng trong hoạt
động hòa giải của Tòa án, bảo đảm sự bình đẳng của các đƣơng sự trong quá
trình giải quyết vụ án. Với ý nghĩa là một nguyên tắc, thủ tục TTDS, mọi quan
hệ phát sinh trong quá trình hòa giải các vụ việc dân sự đƣợc pháp luật điều
chỉnh. Các quy định của pháp luật TTDS về trình tự, thủ tục hòa giải là cơ sở
để tiến hành hòa giải các vụ việc dân sự và bắt buộc Tòa án và những ngƣời

quyền giải quyết, điều kiện về ngƣời khởi kiện, thời hiệu, nội dung vụ việc…
Khi việc khởi kiện đáp ứng các yêu cầu thì Tòa án tiến hành thụ lý vụ án.
Thụ lý vụ việc dân sự là công việc đầu tiên của Tòa án trong quá trình
giải quyết vụ việc dân sự, là cơ sở pháp lý phát sinh quan hệ pháp luật tố tụng,
đặt trách nhiệm giải quyết vụ việc dân sự cho Tòa án. Hoạt động thụ lý vụ án 22
có phát sinh hay không hoàn toàn phụ thuộc vào việc thực hiện quyền khởi
kiện vụ án dân sự của các đƣơng sự có đúng các quy định pháp luật không?
Thụ lý vụ việc dân sự là cơ sở pháp lý để ràng buộc các chủ thể trong quan hệ
dân sự đƣợc điều chỉnh bằng pháp luật TTDS. Trong quan hệ này, Tòa án là
chủ thể thực hiện quyền lực nhà nƣớc thông qua việc thụ lý giải quyết tranh
chấp và các quy định của Tòa án có tính chất bắt buộc đối với các bên. Thụ lý
vụ án dân sự có mối quan hệ mật thiết với các chế định khác đặc biệt là chế
định hòa giải. Tòa án chỉ tiến hành hòa giải sau khi đã thụ lý vụ việc dân sự.
Không có các hoạt động khởi kiện và thụ lý vụ việc dân sự thì vấn đề Tòa án
tiến hành hòa giải đối với các đƣơng sự cũng không đặt ra trong giai đoạn này.
- Mối quan hệ giữa chế định hòa giải với chế định chuẩn bị xét xử sơ thẩm
Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ việc dân sự, Tòa án tiến hành
hòa giải giữa các đƣơng sự với nhau về việc giải quyết vụ việc dân sự. Điều 10
BLTTDS quy định: "Tòa án có trách nhiệm tiến hành hòa giải và tạo điều kiện
thuận lợi để các đƣơng sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ việc dân
sự theo quy định của Bộ luật này" [31]. Trong thời hạn chuẩn bị xét xử, theo
quy định tại khoản 2 Điều 179 BLTTDS quy định: tùy từng trƣờng hợp, Tòa án
ra một trong các quyết định sau đây: Công nhận sự thỏa thuận của các đƣơng sự;
Tạm đình chỉ giải quyết vụ án; Đình chỉ giải quyết vụ án; Đƣa vụ án ra xét xử.
Trong đó quyết định công nhận sự thỏa thuận của đƣơng sự là kết quả
của việc hòa giải thành. Điều đó có nghĩa hòa giải đƣợc tiến hành nhƣ một thủ
tục bắt buộc trƣớc khi mở phiên tòa sơ thẩm và việc hòa giải nằm trong giai

động hòa giải của TAND các cấp không chỉ đơn thuần với ý nghĩa là một biện
pháp giải quyết có hiệu quả các vụ việc dân sự, mà còn khơi dậy truyền thống
tƣơng thân, tƣơng ái, đoàn kết gắn bó của dân tộc Việt Nam.
1.1.3. Cơ sở của chế định hòa giải trong tố tụng dân sự
1.1.3.1. Cơ sở pháp lý
Pháp luật về hòa giải đƣợc Nhà nƣớc ta quy định khá cụ thể trong các
văn bản pháp luật và ngày càng hoàn thiện để phù hợp với chính sách pháp
luật của Nhà nƣớc nói chung, phù hợp với thực tế xét xử các vụ việc dân sự.
Chế định hòa giải vụ việc dân sự là một đặc trƣng của pháp luật TTDS,
đƣợc pháp luật TTDS quy định mà không đƣợc quy định trong pháp luật tố tụng 24
hình sự và tố tụng hành chính. Trong quan hệ pháp luật giải quyết đối với vụ án
hình sự là mối quan hệ giữa Nhà nƣớc với bị can, bị cáo (ngƣời thực hiện hành
vi phạm tội). Do đó, bị can, bị cáo không có quyền thỏa thuận với cơ quan đại
diện cho Nhà nƣớc truy tố tội danh cũng nhƣ mức hình phạt mà bị can, bị cáo
phải chấp hành. Đối với tố tụng hành chính, mối quan hệ pháp luật cần giải
quyết trong vụ án là mối quan hệ hành chính giữa cơ các cá nhân, cơ quan, tổ
chức bị quản lý với các cơ quan Nhà nƣớc thực hiện quyền quản lý nhà nƣớc
có quyết định hành chính, hành vi hành chính bị kiện. Do đó, các đƣơng sự
trong vụ án hành chính không có quyền thỏa thuận với nhau về việc giải quyết
vụ án hành chính, nên vấn đề quy định chế định hòa giải cũng không đƣợc đặt
ra. Đối với quan hệ pháp luật đƣợc giải quyết trong các vụ việc dân sự là quan
hệ pháp luật dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thƣơng mại và lao
động. Trong quan hệ này, các chủ thể đều bình đẳng, các chủ thể trong quan
hệ này đều có quyền tự mình, bằng hành vi tố tụng của mình để tự dàn xếp,
thƣơng lƣợng với nhau hoặc thông qua sự giúp đỡ của Tòa án thỏa thuận với
nhau về giải quyết vụ án. Pháp luật khuyến khích và bảo đảm để các đƣơng sự
hòa giải với nhau về việc giải quyết tranh chấp dân sự. Điều 11 Bộ luật Dân

Trong lịch sử phát triển của xã hội loài ngƣời, thực tiễn là tiêu chuẩn,
thƣớc đo của lý luận. Thực tiễn kiểm nghiệm để khẳng định tính đúng đắn,
phù hợp quy luật hoặc bác bỏ một luận điểm nào đó lỗi thời không phù hợp
thực tiễn. Mặt khác, thực tiễn cũng là tấm gƣơng phản chiếu để phát triển lý
luận. Trong đời sống pháp luật, thực tiễn xét xử đã khẳng định hòa giải là một
biện pháp truyền thống quan trọng mang tính phổ biến trong việc giải quyết
các vụ việc dân sự. Điều đó đƣợc thể hiện ở những điểm sau đây:
- Chế định hòa giải là biện pháp truyền thống giải quyết có hiệu quả
các vụ việc dân sự.
Chế định hòa giải đƣợc hình thành một cách khách quan trƣớc yêu cầu
của đời sống kinh tế, xã hội và chịu sự tác động sâu sắc của các yếu tố chính
trị, kinh tế, xã hội, tập quán trong từng giai đoạn phát triển của lịch sử.
Trong lịch sử hàng ngàn năm dựng nƣớc và giữ nƣớc của dân tộc Việt
Nam, làng xã trong nền văn minh lúa nƣớc là nơi hội tụ của những ngƣời nông
dân với một cơ cấu cộng đồng bền chặt. Ở một vùng đất thiên tai khắc nghiệt và


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status