1 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THU HIỀN HOÀN THIỆN CHẾ ĐỊNH KHỞI KIỆN
VÀ THỤ LÝ VỤ ÁN DÂN SỰ
TRONG PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT
NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS. Lê Thu Hà HÀ NỘI - 2012
3
MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa Lời cam đoan Mục lục Danh mục các từ viết tắt Mở đầu
1
Thời kỳ triều Nguyễn (1802 - 1884).
18
1.2.1.4.
Thời kỳ Pháp thuộc (1858 -1945).
20
1.2.2.
Giai đoạn từ năm 1945 đến nay.
21
4
1.2.2.1
Thời kỳ từ 1945 -1954.
21
1.2.2.2
Thời kỳ từ 1954 đến 1989.
22
1.2.2.3
Thời kỳ từ 1990 đến nay.
25
Chương 2: KHỞI KIỆN VÀ THỤ LÝ VỤ ÁN DÂN SỰ THEO
QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM
30
2.1.
KHỞI KIỆN VỤ ÁN DÂN SỰ THEO QUY ĐỊNH CỦA BỘ
LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM.
30
2.1.1.
Điều kiện khởi kiện vụ án dân sự.
54
2.2.2.
Yêu cầu sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện.
56
2.2.3.
Xác định tiền tạm ứng án phí và thông báo cho ngƣời khởi kiện.
59
2.2.4.
Vào sổ thụ lý vụ án dân sự.
59
2.2.5.
Trả lại đơn khởi kiện vụ án dân sự.
59
5
2.2.5.1.
Những trƣờng hợp Tòa án trả lại đơn khởi kiện.
59
2.2.5.2.
Khiếu nại và giải quyết khiếu nại về việc trả lại đơn khởi kiện.
61
Chương 3: THỰC TIỄN THỰC HIỆN CHẾ ĐỊNH KHỞI KIỆN
VÀ THỤ LÝ VỤ ÁN DÂN SỰ VÀ KIẾN NGHỊ
63
3.1.
THỰC TIỄN ÁP DỤNG CHẾ ĐỊNH KHỞI KIỆN VỤ ÁN DÂN
SỰ
63
Kiến nghị hoàn thiện quy định về thời hiệu.
82
3.3.3.
Kiến nghị hoàn thiện quy định về tính hợp pháp về hình thức của đơn
khởi kiện do ngƣời đại diện theo ủy quyền đứng đơn khởi kiện.
83
3.3.4.
Bổ sung thêm những quy định về khởi kiện bảo vệ quyền lợi ngƣời
tiêu dùng.
83
6
3.3.5.
Bổ sung những quy định về khởi kiện đòi bồi thƣờng thiệt hại về môi
trƣờng.
85
3.3.6.
Hoàn thiện chế định về chứng cứ, chứng minh trong tố tụng dân sự để
tạo điều kiện cho ngƣời dân thực hiện đƣợc quyền khởi kiện của
mình.
88
KẾT LUẬN
90
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
91
8
MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài.
Quyền dân sự là một quyền năng cơ bản mà pháp luật thừa nhận đối với
các chủ thể trong giao lƣu dân sự. Trong quá trình tham gia các giao lƣu dân sự thì
quyền năng này thƣờng hay bị xâm phạm, làm cho quyền và lợi ích hợp pháp của
các chủ thể không đƣợc bảo đảm. Để bảo vệ quyền dân sự của các chủ thể, pháp
luật có quy định những biện pháp bảo đảm quyền của chủ thể bằng những biện
pháp hình sự, hành chính Nhƣng đặc biệt hơn cả trong các biện pháp bảo vệ đó là
biện pháp khởi kiện vụ án dân sự theo trình tự tố tụng dân sự (TTDS). Theo đó, các
chủ thể giả thiết có quyền dân sự bị xâm phạm có quyền khởi kiện theo thủ tục
TTDS yêu cầu Toà án giải quyết nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của
mình.
Mặc dù, việc bảo vệ quyền dân sự bằng biện pháp khởi kiện dân sự đƣợc
ghi nhận là biện pháp hữu hiệu và có tính khả thi cao. Bộ luật Tố tụng dân sự
(BLTTDS) đƣợc Quốc hội khóa XI thông qua ngày 15/06/2004, có hiệu lực kể từ
ngày 01/01/2005 với chế định khởi kiện và thụ lý đƣợc kế thừa và đánh dấu bƣớc
phát triển lập pháp hoàn thiện hơn trong luật. Nhƣng trong thực tế các chủ thể khi
thực hiện quyền khởi kiện của mình đã gặp rất nhiều khó khăn mà nguyên nhân
dƣới góc độ là một thủ tục pháp lý mà chƣa nghiên cứu hoạt động khởi kiện và thụ
lý dƣới góc độ của một chế định pháp lý quan trọng trong pháp luật TTDS.
Sau khi BL TTDS có hiệu lực pháp luật đã có rất nhiều các công trình khoa
học đƣợc nghiên cứu, tuy nhiên, những công trình này chỉ là những bài nghiên cứu
ngắn đƣợc đăng tải trên một số tạp chí chuyên môn nhƣ bài viết : “ Những vấn đề
cơ bản lưu ý khi thụ lý đơn khới kiện, khởi tố, đơn yêu cầu trong giải quyết vụ án
Dân sự” của tác giải Duy Kiên, đăng trên tạp chí Kiểm sát số 07/2012. Hay bài
10
viết: “ Về chế định kiện phái sinh” của tác gải Quách Thúy Quỳnh, đăng trên tạp
chí Luật học số 03/2012… Hay bài viết: “ Một số ý kiến về thời hiện khởi kiện theo
quy định tại Luật sửa đổi, bổ sung BLTTDS 2004” của tác giả Lê Mạnh Hùng,
đăng trên tạp chí Kiểm sát số 10/2012….Ngoài ra còn có rất nhiều các bài viết
riêng lẻ khác đăng tải trên các trang web về chuyên ngành luật khác. Nhƣng các
công trình trên mới chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu một cách khái quát về từng khía
cạnh của chế định khởi kiện và tiếp cận một cách riêng lẻ mà chƣa có sự liên kết
giữa hai chế định khởi kiện và thụ lý trong một đề tài nghiên cứu khoa học thống
nhất. Với tình hình trên, đề tài "Hoàn thiện chế định khởi kiện và thụ lý vụ án
dân sự trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam", đã nghiên cứu một cách
chuyên sâu, toàn diện, đầy đủ về chế định khởi kiện và thụ lý vụ án dân sự sau khi
BLTTDS đƣợc ban hành và bảo đảm đƣợc tính lôgíc, hệ thống, không có sự trùng
lặp với các công trình nghiên cứu khoa học đã đƣợc công bố.
3. Mục đích, nhiệm vụ của luận văn
* Mục đích của việc nghiên cứu đề tài
Việc nghiên cứu đề tài làm thực hiện mục đích:
Một là, làm sáng tỏ cơ sở lý luận về chế định khởi kiện và thụ lý vụ án dân
sự trong TTDS Việt Nam, tìm hiểu thực tế áp dụng chế định này trong hoạt động giải
quyết các tranh chấp dân sự tại các Tòa án nhân dân (TAND).
Hai là, chỉ ra những điểm còn thiếu hoặc chƣa hợp lý trong quy định của
án dân sự trƣớc thời điểm BLTTDS đƣợc ban hành. Tuy nhiên, cách tiếp cận về
các vấn đề này chỉ là cơ sở để so sánh, nghiên cứu chuyên sâu, toàn diện và hệ
12
thống về thủ tục khởi kiện và thụ lý vụ án dân sự theo quy định của BLTTDS Việt
Nam.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đƣợc mục tiêu nghiên cứu nói trên, việc nghiên cứu đƣợc tiến
hành dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và tƣ tƣởng Hồ Chí Minh
về Nhà nƣớc và pháp luật, các quan điểm của Đảng và Nhà nƣớc ta về quản lý Nhà
nƣớc, quản lý xã hội cũng nhƣ chủ trƣơng, quan điểm về việc xây dựng BLTTDS.
Luận văn đƣợc thực hiện trên cơ sở phƣơng pháp luận của chủ nghĩa duy
vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, sử dụng tổng hợp các phƣơng pháp
nghiên cứu nhƣ: Phân tích, tổng hợp, lôgíc, lịch sử, quy nạp, khảo sát thăm dò lấy ý
kiến trong phạm vi những ngƣời làm công tác thực tiễn, sử dụng kết quả thống kê
nhằm làm sáng tỏ các vấn đề trong nội dung luận văn.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
Luận văn là một công trình nghiên cứu một cách toàn diện và có hệ thống
về cơ sở lý luận và thực tiễn của thủ tục khởi kiện và thụ lý vụ án dân sự trong tố
tụng dân sự Việt Nam. Luận văn có ý nghĩa khoa học và thực tiễn sau đây:
Thứ nhất: Lần đầu tiên thủ tục khởi kiện vụ án dân sự theo quy định của
BLTTDS Việt Nam đƣợc nghiên cứu một cách có hệ thống và toàn diện cả trên cả
phƣơng diện lý luận và thực tiễn. Những vấn đề đặc thù của việc khởi kiện và thụ
lý vụ án dân sự so với việc khởi kiện thụ lý vụ án kinh doanh thƣơng mại, lao
động, hôn nhân gia đình cũng đƣợc nghiên cứu và đề cập một cách khái quát nhất.
Thứ hai: Quá trình nghiên cứu, đề tài tìm ra những tồn tại trong công tác
xây dựng và thi hành pháp luật về thủ tục khởi kiện và thụ lý vụ án dân sự trong
TTDS Việt Nam. Từ những đánh giá toàn diện, kết quả nghiên cứu của đề tài đề
14
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHẾ ĐỊNH KHỞI KIỆN
VÀ THỤ LÝ VỤ ÁN DÂN SỰ TRONG PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ
VIỆT NAM
1.1. KHÁI NIỆM VÀ VAI TRÒ CỦA CHẾ ĐỊNH KHỞI KIỆN VÀ
THỤ LÝ VỤ ÁN DÂN SỰ.
1.1.1. Khái niệm chế định khởi kiện và thụ lý vụ án dân sự.
Trong giai đoạn xây dựng Nhà nƣớc pháp quyền của dân, do dân và vì dân,
cũng nhƣ đứng trƣớc yêu cầu cấp thiết của việc sửa đổi những quy định về tổ chức
bộ máy Nhà nƣớc trong Hiến pháp 1992 hiện nay, việc làm rõ những vấn đề lý
luận về chế định khởi kiện sẽ góp phần quan trọng trong việc hoàn thiện các cơ chế
bảo vệ pháp luật trong hoạt động TTDS nói chung và bảo vệ quyền dân sự cơ bản
của công dân nói riêng trong việc tiếp cận với công lý. Bởi lẽ, mặc dù quyền khởi
kiện là một quyền năng dân sự cơ bản nhất của chủ thể pháp luật khi tham gia các
giao lƣu dân sự, nhƣng hiện nay việc thực hiện quyền này của các chủ thể quyền
vẫn còn gặp nhiều khó khăn mà nguyên nhân chủ yếu là do cách hiểu luật thiếu
thống nhất tại hệ thống tòa hai cấp nhƣ những vấn đề về thẩm quyền, về thời
hiệu… Cũng nhƣ sự chồng chéo của các văn bản pháp luật nội dung đã làm cho
các chủ thể quyền khởi kiện không biết phải căn cứ vào văn bản pháp luật nào để
xác định căn cứ khởi kiện. Những khó khăn này kéo dài trong suột thời gian qua,
mặc dù các văn bản luật đã nhiều lần đƣợc ban hành, đƣợc sửa đổi bổ sung nhƣng
vẫn chƣa có sự thống nhất triệt để.
Việc nghiên cứu so sánh lịch sử TTDS thế giới đã cho thấy, về cơ bản khái
niệm quyền khởi kiện –hay tố quyền đã đƣợc biết đến từ thời xa xƣa của xã hội
loài ngƣời. Chẳng hạn, ở nhà nƣớc chiếm hữu nô lệ Hy Lạp cổ đại vào thế kỷ V
đã thực sự tạo ra một cơ chế giải quyết vụ việc dân sự nhanh chóng, chính xác,
công minh và đúng pháp luật.
Một trong những điểm mới của BLTTDS 2004 là việc đƣa ra khái niệm vụ
việc dân sự, khi mà trƣớc đó trong tất cả các văn bản pháp luật về TTDS chỉ có
khái niệm vụ án dân sự. Trƣớc khi BLTTDS 2004 ra đời, khái niệm vụ án dân sự
đƣợc hiểu là tất cả những loại việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, không
phân biệt đó là vụ án thuộc loại gì và thuộc đối tƣợng điều chỉnh của ngành luật
nội dung nào. Điều này đƣợc thể hiện ngay tại Điều 1 Luật Tổ chức TAND năm
2002, theo đó: "Tòa án xét xử những vụ án hình sự, dân sự, hôn nhân và gia đình,
lao động, kinh tế, hành chính và giải quyết những việc khác theo quy định của
pháp luật". Ngay cả các pháp lệnh thủ tục giải quyết cũng đều xác định tên gọi
chung của những loại việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án là các vụ án
nhƣ: PLTTGQCVADS năm 1989; Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế
(PLTTGQCVAKT) năm 1994. Theo khái niệm trên thì không có sự phân biệt vụ
án dân sự có tranh chấp nhƣ: tranh chấp thừa kế, tranh chấp hợp đồng và những vụ
án dân sự không có tranh chấp nhƣ: yêu cầu xác định công dân mất tích, xác định
công dân đã chết, thuận tình ly hôn.
Tuy nhiên, kể từ ngày BLTTDS 2004 có hiệu lực (ngày 01/01/2005), khái
niệm vụ án dân sự đƣợc thay thế bằng khái niệm vụ việc dân sự. Nhƣ vậy, sau khi
BLTTDS năm 2004 có hiệu lực, thủ tục giải quyết vụ án dân sự trƣớc đây đã trở
thành thủ tục giải quyết vụ án dân sự và thủ tục giải quyết việc dân sự.
Theo Điều 1 BLTTDS năm 2004 thì vụ án dân sự gồm: “các tranh chấp về
dân sự; các tranh chấp về hôn nhân và gia đình; các tranh chấp về kinh doanh,
thương mại; các tranh chấp về lao động”. Và vụ việc dân sự bao gồm: “các yêu
cầu về dân sự; các yêu cầu về hôn nhân và gia đình; các yêu cầu về kinh doanh,
thương mại và các yêu cầu về lao động”. Tiêu chí để phân biệt giữa vụ án dân sự
17
và việc dân sự chính là tình chất có tranh chấp hay không có tranh chấp. BLTTDS
dân sư là người khởi kiện, người được cá nhân, cơ quan, tổ chức khác do bộ luật
này quy định khởi kiện để yêu cầu toà án giải quyết vụ án dân sự khi cho rằng
quyền và lợi ích hợp pháp của người đó bị xâm phạm.
Cơ quan, tổ chức do Bộ luật này quy định khởi kiện vụ án dân sự để yêu cầu
Tòa án bảo vệ lợi ích công công, lợi ích của Nhà nước thuộc lĩnh vực mình phụ
trách cũng là nguyên đơn”.
Nhƣ vậy, quan hệ pháp luật TTDS đƣợc hình thành khi có hoạt động khởi
kiện của chủ thể quan hệ pháp luật Dân sự trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của mình, trong trƣờng hợp giả thiết những quyền đó bị xâm phạm. Dƣới góc
độ xây dựng nhà nƣớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa thì việc thừa nhận quyền khởi
kiện của chủ thể pháp luật là một trong những quy định quan trọng nhằm đảm bảo
thực thi công lý cũng nhƣ đảm bảo cho công dân tiếp cận công lý. Quyền này đã
đƣợc ghi nhận tại Điều 14 Hiến pháp 1992, theo đó: “ Công dân có quyền tố cáo
với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về việc làm trái pháp luật của cơ quan Nhà
nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân hoặc bất cứ các
nhân nào…” và tại Điều 50 Hiến pháp 1992 cũng quy định: “Ở nước Cộng hòa xã
hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa
và xã hội được tôn trọng, thể hiện ở các quyền công dân và được quy định trong
Hiến pháp và Luật”.
Và đã đƣợc cụ thể hóa tại Điều 4 BLTTDS: “Cá nhân, cơ quan, tổ chức do
Bộ luật này quy định có quyền khởi kiện vụ án dân sự, yêu cầu giải quyết việc dân
sự tại Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
của mình hoặc của người khác”.
19
Tại Điều 406 BLTTDS cũng quy định: “Công dân nước người, người không
quốc tịch, cơ quan, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế (sau đây gọi chung là cá
nhâ, cơ quan, tổ chức nước ngoài) có quyền khởi kiện đến Tòa án Việt Nam để yêu
cầu bảo về quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi bị xâm phạm hoặc có tranh
này.
Thụ lý vụ án dân sự không phải là một quyền của chủ thể pháp luật, mà nó là
một tổ hợp các hoạt động của cơ quan có thẩm quyền giải quyết các vụ án dân sự.
Khái niệm “thụ lý” các vụ việc dân sƣ hình thành từ rất lâu trong lịch sử lập pháp
và có mối quan hệ biện chứng với quyền khởi kiện của chủ thể pháp luật. Có thể
nói, chỉ khi quyền khởi kiện của chủ thể pháp luật đƣợc thực thi thì mới có hoạt
động thụ lý đơn khởi kiện của các cơ quan tiến hành tố tụng. Và ngƣợc lại, chỉ khi
hoạt động thụ lý đƣợc thực hiện thì quyền khởi kiện của chủ thể pháp luật mới
đƣợc thực hiện và quyền lợi hợp pháp của chủ thể mới có khả năng đƣợc đảm bảo.
Trong lịch sử pháp luật Việt Nam thì khái niệm “thụ lý” lần đầu tiên đƣợc
ghi nhận tại Luật Gia Long nhƣ sau: "Các quan khi nhận đơn thưa kiện phải làm
rõ vụ việc, nhanh chóng thụ lý. Nếu quan bỏ qua sẽ bị trừng phạt căn cứ vào mức
độ nghiêm trọng của vụ việc". Nhƣ vậy, ban đầu, hoạt động “thụ lý” là hoạt động
của một cá nhân trong quan hệ tố tụng, cụ thể ở đây là hoạt động của “quan” chứ
không phải là hoạt động của một cơ quan là tòa án nhƣ pháp luật hiện đại.
“Thụ lý vụ án dân sự” là một khái niệm chỉ một tổ hợp các hoạt động bao
gồm các hành vi tố tụng khác nhau. Trƣớc hết, ngay sau khi nhận đơn khởi kiện,
Tòa án phải tiến hành xem xét, kiểm tra. Nếu thấy đã đủ các điều kiện quy định
của pháp luật thì xác định tiền tạm ứng án phí mà đƣơng sự phải nộp và thông báo
cho đƣơng sự biết. Theo Điều 37 PLTTGQCVADS, nếu thấy vụ án thuộc thẩm
quyền xét xử của mình thì Tòa án báo ngay cho nguyên đơn nộp tiền tam ứng án
21
phí. Trong thời hạn 1 tháng kể từ ngày nộp đơn, nguyên đơn phải nộp tiền tạm ứng
án phí, trừ trƣờng hợp đƣợc miễn nộp tiền tạm ứng án phí hoặc miễn án phí.
Theo các Điều 167, Điều 168 BLTTDS 2004 sửa đổi bổ sung 2011, sau khi
nhận đƣợc đơn khởi kiện và các chứng cứ, tài liệu kèm theo, Tòa án phải vào sổ
nhận đơn và xem xét. Trong trƣờng hợp nhận thấy vụ án thuộc thẩm quyền của
mình thì Tòa án phải báo cho ngƣời khởi kiện biết để họ nộp tiền tạm ứng án phí.
Vì khởi kiện là phƣơng thức bảo vệ các quyền dân sự của chủ thể pháp luật
khi quyền, lợi ích dân sự của họ bị ngƣời khác xâm hại. Nên việc khởi kiện kịp
thời có ý nghĩa pháp lý to lớn trong quá trình phòng, chống tội phạm; bảo đảm
quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể pháp luật. Nên chế định khởi kiện và thụ lý vụ
án dân sự đƣợc xác định là có vị trí quan trọng hàng đầu trong toàn BLTTDS, bởi
những quy định này điều chỉnh quan hệ pháp luật tố tụng dân sự ngay từ khi nó bắt
đầu đƣợc hình thành, thậm chí điều chỉnh ngay từ khi có “mầm mống” nảy sinh
quan hệ tố tụng dân sự - đó chính là thởi điểm chủ thể quyền khởi kiện có ý định
khởi kiện một vụ án dân sự thể hiện qua những quy định về điều kiện khởi kiện; về
hình thức, cách thức khởi kiện…
Thời điểm thụ lý vụ án dân sự có ý nghĩa hết sức quan trọng, vì nó đặt trách
nhiệm cho Toàn án phải giải quyết vụ án trong thời gian luật đinh, đồng thời cũng
là thời điểm kết thúc giai đoạn khởi kiện vụ án dân sự chuyển sang giai đoạn khác.
Những quy định này tạo tiền đề cho những hành vi tiếp theo của cơ quan tiến hành
tố tụng nhƣ việc phân công Thẩm phán,hay xác định tƣ cách đƣơng sự trong vụ
án… 23
1.2. LƯỢC SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CHẾ ĐỊNH
KHỞI KIỆN VÀ THỤ LÝ VỤ ÁN DÂN SỰ
1.2.1. Giai đoạn trước Cách mạng tháng 8/1945
1.2.1.1. Thời kỳ Lý - Trần - Hồ.
Thời đại triều Lý (1010- 1225) mở ra một giai đoạn mới của lịch sử dân tộc
và dƣới triều Lý đã có pháp luật thành văn. Do đó, nền pháp luật thành văn đầu
tiên của dân tộc ta là nền pháp luật nhà Lý. Mặc dù còn sơ khai khai nhƣng cách
thức giải quyết tranh chấp phát sinh từ các lĩnh vực của đời sống xã hội đã đƣợc
pháp luật nhà Lý quy định, việc khởi kiện để giải quyết các tranh chấp dân sự, các
oan ức đã đƣợc thể hiện trong các Chiếu, Đạo dụ của nhà vua.
Tố tụng là một trong những lĩnh vực đƣợc chú trọng, phát triển và đạt đƣợc
nhiều thành tựu trong thời kỳ này. Theo Lịch triều hiến chƣơng loại chí, ngay sau
khi lên ngôi năm Thuận Thiên thứ nhất (1428), Lê Thái Tổ đã sai các đại thần bàn
định luật lệ về việc kiện tụng. Tuy nhiên, đại diện tiêu biểu cho pháp luật tố tụng
của triều Lê là Bộ Quốc triều hình luật và Bộ Quốc triều khám tụng điều lệ. Bộ
Quốc triều hình luật của Nhà Lê không chỉ quy định về pháp luật nội dung mà còn
là bộ luật đầu tiên quy định khá chi tiết về thủ tục tố tụng.
Tuy nhiên, do các nhà làm luật thời kỳ này không có sự phân biệt pháp luật
về tố tụng hình sự và dân sự nên những quy định về tố tụng cũng không đƣợc phân
định về tố tụng dân sự và tố tụng hình sự nên tất cả những quy định về thủ tục tố
tụng đều đƣợc quy định tại 02 chƣơng là Bộ vong và Đoản ngục. Theo đó những
thủ tự về đơn kiện (khởi kiện), đơn tố cáo trong giai đoạn này đƣợc quy định nhƣ
sau:
25
Đơn kiện hoặc đơn tố cáo phải do các đƣơng sự làm và nộp tại nha môn có
thẩm quyền phân xử loại việc đó. Nếu đƣơng sự không biết chữ thì có thể nhờ
ngƣời khác viết hộ. Mặt khác, để tránh sự tố cáo không đúng, điều 508 đã bắt buộc
đơn tố cáo phải ghi rõ ngày tháng năm xảy ra sự việc, chỉ đƣợc trình bày sự thật là
không đƣợc nói là việc còn ngờ, trái pháp luật thì phải phạt 80 trƣợng. Để giảm bớt
những vụ kiện không cần thiết, nhà làm luật không những quy định về hình thức
đơn kiện và tƣ cách nguyên đơn mà còn quy định về việc quan lại nhận đơn trái lệ.
Pháp luật quy định con không đƣợc kiện hoặc tố cáo ông bà cha mẹ, vợ
không đƣợc kiện cáo chồng. Những quy định nhƣ trên đã cho thấy việc điều tra xác
minh xét hỏi đƣợc bắt đầu từ khi có đơn kiện nên pháp luật đã rất chú trọng đến
những thủ tục khởi kiện.
Tuy nhiên, do không có sự phân biệt thủ tục tố tụng dân sự và thủ tục tố
tụng hình sự nên những quy định này có nhiều sự chồng chéo mâu thuẫn với những
văn bản ban hành đơn lẻ khác trong suốt một thời gian dài, điều này đã gây ra