TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐÒNG BẢO VỆ LUẬN VĂN
KHOA LUẬT
- ------------Bộ MÔN LUẬT THƯƠNG MẠI
r
"a.
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP cử NHÂN LUẬT
KHÓA 33: 2007 - 2011
KHỞI KIỆN VÀ THỤ LÝ
VỤ ÁN KINH DOANH THƯƠNG MẠI TẠI TÒA ÁN
LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
Giảng viên hướng dẫn:
Sinh viên thực hiện:
Thầy Trương Thanh Hùng
Nguyễn Ngọc Diệp
Bộ môn: Luật Tư Pháp
MSSV: 5075171
Lớp: Luật Thương Mại 2 - K33
Cần Thơ, 11/2010
cần Thơ, ngày.... tháng.... năm....
1.2.1............................................................................................................................... Kh
ái niệm về quyền khởi kiện.....................................................................................10
1.2.2.................................................................Ý nghĩa của việc khởi kiện vụ án dân sự
................................................................................................................................10
1.2.3.....................................................Quyền khởi kiện vụ án dân sự ở một số quốc gia
................................................................................................................................11
1.2.3.1...............................Quyền khởi kiện vụ án dân sự theo pháp luật Liên bang Nga
11
1.2.3.2.
sự của Pháp
Quyền khởi kiện vụ án dân sự theo Bộ luật tố tụng dân
11
1.2.4............................................................................................................................... Ch
ủ thể khởi kiện vụ án dân sự...................................................................................12
1.2.4.1.
Chủ thể khởi kiện vụ án dân sự theo Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án
dân
„... „.................................................................................................... ...................13
1.4.2.
Thẩm quyền xét xử vụ án kinh doanh thương mại của Tòa án nhân cấp
huyện.. 22
1.4.3.
Thẩm quyền xét xử các vụ án kinh doanh thương mại của Tòa án nhân dân
tỉnh.............................................................................................................................25
1.4.4.
Thẩm quyền xét xử của Tòa án Việt Nam đối với các vụ án kinh doanh
tranh chấp về kinh doanh thương mại........................................................................42
2.1.3.3............................................................................................................................ Th
ời gian không tính vào thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự........................................45
2.1.3.4.
Bắt đàu lại thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự về tranh chấp kinh doanh
thương
mại..............................................................................................................................47
2.1.4.Người khởi kiện phải cung cấp cho Tòa án chứng cứ để chứng minh yêu cầu của
mình là có căn cứ và họp pháp..................................................................................47
2.3..................................................................................................................................Xác
định tư cách đương sự trong vụ án kinh doanh thương mại............................61
2.3.1..............................................................................Xác định tư cách của nguyên đơn
61
2.3.2......................................................................................Xác định tư cách của bị đơn
63
2.3.3......................................Xác định tư cách người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan
64
2.3.4...............................................................................Xác định tư cách người đại diện:
65
2.4.Hình thức và nội dung đơn khỏi kiện..................................................................67
2.4.1...............................................................................................................................Nội
dung đơn khởi kiện..................................................................................................68
2.4.2...............................................................................................................................Hìn
h thức đơn khởi kiện................................................................................................68
2.4.2.1.
Hình thức trình bày phần tên, địa chỉ của người khởi kiện và phần ký tên ở
phí
cuối đơn đối với người khởi kiện cá nhân.................................................................68
89
PHÁP LUẬT TRONG QUÁ TRÌNH KHỞI KIỆN YÀ THỤ LÝ vụ ÁN
KINH DOANH THƯƠNG MẠI
3.1.
Thực tiễn áp dụng pháp luật về ngưòi đại diện theo ủy quyền trong quá
trình
khỏi kiện vụ án kỉnh doanh thương mại...........................................................93
3.1.1.
Quy định về hình thức của việc ủy quyền tham gia tố tụng trong vụ án
kinh
doanh thưomg mại.....................................................................................................93
3.1.2.
Quy định về người đại diện theo ủy quyền thực hiện việc ủy quyền
kéo dài từ
thời điểm khiếu nại sang giai đoạn tố tụng................................................................95
3.1.3.
Thực tiễn áp dụng Công văn 38/KHXX và kiến nghị về thay đổi thẩm
quyền ký
tên vào đom khởi kiện của người đại diện theo ủy quyền.........................................96
3.2............................................................................................................................Thự
c tiễn vướng mắc về xác định chứng cứ và nguồn chứng cứ.......................99
3.3.
Vướng mắc và kiến nghị thông qua thực tiễn áp dụng pháp luật trong
việc
Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992
2.
Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004
3.
Bộ luật Dân sự năm 2005
4.
Bộ luật Dân sự năm 1995
5.
Luật Cư trú 2006
6.
Luật Doanh nghiệp 2005
7.
Luật Họp tác xã 2003
8.
Luật Phá sản năm 2004
2)
Dương Kim Thế Nguyên, Giáo trình Luật Thương mại 3, Khoa Luật, Trường
đại học Cần Thơ
3)
Hoàng Thị Vịnh, ủy quyền tham gia tố tụng trong vụ án thương mại: Một số
vấn đề lý luận và thực tiễn, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 8, năm 2007.
4)
Hoàng Văn Thành, Thẩm quyền thuộc Tòa dân sự hay Tòa kinh tế, tạp chí Tòa
án nhân dân kỳ II, tháng 5/2009.
5)
Nguyễn Bá Bình, Việc xác định cơ quan giải quyết tranh chấp và chọn luật áp
dụng đối với họp đồng dân sự có yếu tố nước ngoài, tạp chí Nghiên cứu lập pháp số
8, tháng 6/2008.
6)
Nguyễn Tiến Vinh, Xác định thẩm quyền của trọng tài và vai trò của tòa án
trong việc xác định thẩm quyền của trọng tài, tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 6,
năm 2009.
7)
http://phapluattp.vn/217744pl015cl074/toa-an-va-trong-tai-kinh-te-gianh-nhau-xu[truy cập ngày 10/11/2010]
3) Dư thảo Luât sửa đồi, bồ sung môt số điều của Bô luât Tố tung dân sư (Tài liêu
phuc vu kỳ hop thứ 8. Quốc hôi khỏa XII]
http://duthaoonline.quochoi.vn/du-thao-luaƯdu-thao-luat-sua-llloi-bo-sung-mot-solllieu-blttds
[truy cập ngày 20/11/2010]
4) Nguyễn Thị Hằng Nga, Một số quy định về thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự và
những vướng mắc trong thực tiễn áp dụng
http://luatsuvietnam.vn/vi/our-services/3-hot-ng-tranh-tng/303-mt-s-quv-nh-v-thihiu-khi-kin-v-an-dan-s-va-nhng-vng-mc-trong-thc-tin-ap-dng.html
[truy cập ngày 02/11/2010]
5) Phan Duy Hồng, Thời hạn khiếu nại trong hoạt động thương mại: Pháp luật, thực
tiễn tài phán và các quan điểm
http ://thongtinphapluatdansu.wordpress.com/2QQ9/05/l4/2880/
[truy cập ngày 02/11/2010]
truy cập ngày 25/10/2010 ]
PHẰN MỞ ĐÀU
1. Lời mở đầu
Đảng và Nhà nước ta luôn chủ trương mở rộng các quyền của công dân về
chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa- xã hội. Cụ thể trong Hiến pháp 1992 của nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong chương “quyền và nghĩa vụ của công dân” có
quy định khá đày đủ và rõ ràng các quyền cơ bản của công dân như: chính trị, kinh tế,
tự do cá nhân... Và để đảm bảo các quyền của công dân được thực hiện trên thực tế thì
nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật để cụ thể về nội dung, thể
thức, cơ chế thực hiện và trình tự bảo vệ khi quyền công dân bị xâm phạm. Một trong
những trình tự đó là cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền khởi kiện tại Tòa án để yêu
càu bảo vệ quyền và lợi ích họp pháp của mình và chống lại những vi phạm pháp luật.
Đặc biệt, trong quá trình hội nhập kinh tế Việt Nam vào kinh tế thế giới, mở rộng giao
lành mạnh. Trên cơ sở mục đích, đối tượng nghiên cứu như trên thì việc tìm hiểu quy
định của pháp luật tố tụng dân sự về điều kiện khởi kiện, trình tự, thủ tục thụ lý vụ án
được thực hiện nhằm đế thụ lý giải quyết vụ án kinh doanh thương mại.
4. Phạm vi nghiên cứu:
Trong phạm vi nghiên của đề tài “Khởi kiện và thụ lý vụ án kinh doanh thương
mại tại Tòa án - Lý luận và thực tiễn ”, người viết tập trung tìm hiểu và phân tích
những vấn đề về điều kiện khởi kiện, trình tự, thủ tục trong quá trình khởi kiện và thụ
lý vụ án kinh doanh thương mại dựa trên những cơ sở pháp lý trong lĩnh vực tố tụng
dân sự. Với phạm vi nghiên cứu chủ yếu là tìm hiểu quy định pháp luật tố tụng dân sự
trong BLTTDS và các văn bản hướng dẫn thi hành về đề tài nghiên cứu, nhưng do đặc
thù là các vụ án dân sự về tranh chấp kinh doanh thương mại nên bên canh đó người
viết còn sử dụng một số quy định ừong lĩnh vực thương mại như: Luật Thương Mại
2005; Luật Doanh nghiệp 2005; Luật Họp tác xã 2003; Bộ Luật Hàng hải; ngoài ra
người viết còn dựa trên những qui định của luật nội dung trong lĩnh vực dân sự là
BLDS 2005 và BLDS 1995 (đã hết hiệu lực). Như vậy, pháp luật mà người viết nghiên
cứu chủ yếu trong lĩnh vực tố tụng dân sự nhưng vẫn có một phần trong lĩnh vực dân
sự và thương mại.
5. Phương pháp nghiên cứu:
Nhằm tìm hiểu và hoàn thiện đề tài một cách tốt nhất, người viết đã sử dụng
một vài phương pháp để làm công tác phục vụ cho việc nghiên cứu của mình như sau:
- Phương pháp phân tích nghiên cứu luật viết dùng để tìm hiểu các quy định của
pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam hiện hành.
- Phương pháp phân tích chứng minh, so sánh, đối chiếu, vận dụng các quy định
của pháp luật tố tụng dân sự về quá trình khởi kiện và thụ lý vụ án kinh doanh thương
mại.
- Phương pháp tổng họp thống kê, sử dụng các trang web để tìm kiếm và sưu
tầm tài liệu đồng thời vận dụng các tài liệu của các nhà nghiên cứu, các tạp chí chuyên
ngành về vấn đề nghiên cứu và những vấn đề có liên quan nhằm bổ sung kiến thức về
1.1.
Lịch sử phát triển của pháp luật về giải quyết tranh chấp trong kỉnh
doanh
tại Việt Nam:
Dưới tác động của yếu tố lợi nhuận thì dù dưới bất kỳ hình thức sở hữu hay
kinh tế nào, các tranh chấp về kinh doanh luôn dễ dàng phát sinh tranh chấp như một
hệ quả tất yếu. Vì vậy, vấn đề đặt ra một cơ chế giải quyết các tranh chấp trong k inh
doanh, dù đã được thừa nhận hay không thừa nhận là một loại tranh chấp riêng biệt so
với các tranh chấp dân sự, là một vấn đề đã được đặt ra từ rất sớm.
1.1.1.
Giai đoạn trước năm 1960:
Trước năm 1960 mọi tranh chấp đều do Tòa án giải quyết theo thủ tục tư pháp.
Và ban đầu, pháp luật của Việt Nam chưa có sự phân biệt giữa tranh chấp trong kinh
doanh và các loại tranh chấp tài sản khác. Vì vậy, ở giai đoạn này cơ chế giải quyết
tranh chấp trong kinh doanh thương mại chưa hình thành với tư cách là một cơ chế
giải quyết tranh chấp riêng biệt. Sự phân biệt giữa tranh chấp trong kinh doanh và các
loại tranh chấp tài sản khác trong pháp luật Việt Nam bắt đầu bằng Điều lệ tạm thời số
735/TTg ngày 10/4/1956 về họp đồng kinh doanh do Thủ tướng Chính phủ ban hành.
Việc giải quyết tranh chấp trong kinh doanh được quy định tại Điều lệ tạm thời số 735
như sau:
- Neu là tranh chấp giữa tư doanh với nhau, giữa tư doanh với quốc doanh hay
họp tác xã thì đưa ra cơ quan đăng ký hay thị thực họp đồng giải quyết. Neu xét thấy
cần truy tố trước Tòa án nhân dân, cơ quan đăng ký sẽ đứng ra khởi tố trước Tòa án
nhân dân sở tại.
- Neu có tranh chấp giữa các tổ chức họp tác xã hay tổ chức quốc doanh với nhau
thì đưa lên cơ quan cấp trên hoặc hội nghị liên tịch các cơ quan cấp trên giải quyết.
trong việc ký kết và thực hiện các họp đồng kinh tế theo tinh thần Nghị quyết hội nghị
20 và 22 của Ban chấp hành Trung ương Đảng (1) ngày 10/3/1975, Chính phủ đã ban
hành nghị định số 75/CP ngày 14/4/1975 ban hành Điều lệ và tổ chức hoạt động của
Hội đồng trọng tài kinh tế. Theo nghị định này Hội đồng trọng tài kinh tế được thành
lập với tư cách là một cơ quan nhà nước, có chức năng quản lý công tác liên quan đến
họp đồng kinh tế, mà trọng tâm là giữ vững kỷ luật Nhà nước trong việc ký kết và thực
hiện họp đồng, giải quyết tranh chấp và xử lý vi phạm phát sinh. Ta thấy hội đồng
trọng tài kinh tế là một cơ quan nhà nước, và các trọng tài viên là những thành viên
nằm trong bộ máy nhà nước, và là người kiêm chức cùng một lúc có thể đảm nhiệm
nhiều chức vụ khác nhau, nên việc giải quyết tranh chấp, và những thủ tục sẽ do Nhà
nước quy định. Và với Nghị định số 24/HĐBT ngày 10/8/1981 của Hội đồng bộ
rưởng, Hội đồng trọng tài kinh tế được đổi thành trọng tài kinh tế, bãi bỏ chế độ trọng
tài viên kiêm chức và hình thành ngạch trọng tài riêng.
Nhằm tăng cường vai trò của ừọng tài, phù hợp với tình hình mới, ngày
17/04/1984, Hội đồng bộ trưởng ban hành Nghị định số 62/HĐBT quy định chức năng
nhiệm vụ và quyền hạn của tổ chức bộ máy của trọng tài kinh tế Bộ, tỉnh và huyện.
Trọng tài kinh tế cấp huyện chính thức được hình thành theo Nghị định này.
Từ năm 1986 Đảng và Nhà nước chủ trương phát triển nền kinh tế hàng hóa
nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường. Để đảm bảo sự vận hành của cơ
chế kinh tế mới, một trong những nhiệm vụ rất quan trọng đặt ra là phải đổi mới quy
định của pháp luật về hợp đồng kinh tế và đi liền với nó là cơ chế giải quyết các tranh
chấp phát sinh. Chính vì vậy năm 1989 nước ta đã ban hành một loạt các văn bản quy
định về cơ chế giải quyết các tranh chấp trong kinh doanh và dân sự thông qua Pháp
lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự 29/11/1989 và hai Pháp lệnh do Hội đồng bộ
trưởng ban hành là Pháp lệnh họp đồng kinh tế ngày 25/9/1989, Pháp lệnh về Trọng
tài kinh tế ngày 10/01/1990. Pháp lệnh về Trọng tài kinh tế có những đổi mới căn bản
về tổ chức phân cấp thẩm quyền và thủ tục giải quyết các tranh chấp kinh tế. Đặc biệt
Pháp lệnh trọng tài kinh tế này đã bỏ cấp trọng tài kinh tế Bộ, ghi nhận nguyên tắc tự
1.1.3.
Giai đoạn từ sau ngày 1/7/1994 đến trước 01/01/2005:
Quá trình chuyển đổi nền kinh tế nước ta sang nền kinh tế thị trường đang chứng
kiến sự phát triển đa dạng của các loại hình kinh tế với sự tham gia của nhiều thành
phần kinh tế thuộc các hình thức sở hữu khác nhau trong các hoạt động kinh doanh và
điều này đã dẫn đến sự thay đổi về hình thức, nội dung của các tranh chấp trong kinh
doanh. Trong điều kiện kinh tế mới, yêu cầu đặt ra là Nhà nước không được can thiệp
thô bạo và sâu sắc vào các hoạt động kinh tế, cho nên sự tồn tại của trọng tài kinh tế
nhà nước với tư cách là một cơ quan có chức năng quản lý nhà nước ở giai đoạn này tỏ
ra không còn phù họp. Vì thế ngày 28/02/1993 tại kỳ họp thứ tư Quốc hội khóa IX đã
thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Tòa án nhân dân, theo
đỏ Tòa kinh tế với tư cách là một tòa chuyên trách trong hệ thống Tòa án nhân dân
chuyên giải quyết các vụ án kinh tế. Đồng thời, Hội đồng trọng tài kinh tế nhà nước
được giải thể và thay vào đó là sự thành lập của Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam,
đặt bên cạnh Phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam trên cơ sở họp nhất Trọng
tài ngoại thương và hàng hải ngày 28/4/1993. Tiếp theo đó, ngày 16/03/1994 thì ủy
ban thường vụ quốc hội thông qua Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế.
Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế là một trong những bước tiến quan
họng trong quá trình giải quyết các tranh chấp về kinh tế ở Việt Nam. So với phạm vi
giải quyết của trọng tài kinh tế nhà nước, phạm vi thẩm quyền xét xử của Tòa kinh tế
được mở rộng hơn đến nhiều loại tranh chấp mang tính chất lợi nhuận chứ không chỉ
gói gọn trong các tranh chấp về họp đồng kinh tế. Các tranh chấp thuộc thẩm quyền
giải quyết theo quy định của Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế gồm các
tranh chấp về họp đồng kinh tế giữa pháp nhân với pháp nhân, giữa pháp nhân với cá
nhân có đăng ký kinh doanh; các tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công
ty, giữa các thành viên của công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động,
lực từ ngày 01/01/2005, gồm 418 điều được cơ cấu thành chín phần, ba mươi sáu
chương. Nội dung của BLTTDS đã quy định được khá đầy đủ các vấn đề về tố tụng
dân sự như các nguyên tắc cơ bản; thẩm quyền dân sự của Tòa án; cơ quan tiến hành
tố tụng và người tham gia tố tụng; chứng minh và chứng cứ trong tố tụng dân sự; biện
pháp khấn cấp tạm thời; cấp, tống đạt và thông báo các văn bản tố tụng; án phí, lệ phí
Tòa án và chi phí tố tụng; thời hạn tố tụng, thời hiệu khởi kiện và thời hiệu yêu cầu;
thủ tục giải quyết các việc dân sự; thủ tục thi hành án....
Việc ban hành Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2004 đã thống nhất được thủ tục
giải quyết vụ việc dân sự tại Tòa án nhân dân, chấm dứt tình trạng chồng chéo của các
quy định về thủ tục tố tụng dân sự trong các Pháp lệnh trước đây. Các vụ án dân sự về
tranh chấp kinh doanh thưomg mại, hành chính, lao động...được giải quyết theo một
thủ tục tố tụng chung theo quy định của BLTTDS. Quy trình tố tụng dân sự tại các Tòa
án có sự thay đổi căn bản theo hướng dân chủ, công khai, minh bạch. Đương sự có vai
trò quyết định và chủ động trong việc bảo vệ quyền và lợi ích của mình. Từ đó, tạo
điều kiện thuận lợi cần thiết cho Tòa án giải quyết nhanh chóng, đúng đắn các vụ việc
dân sự; bảo đảm cho các cá nhân, cơ quan, tổ chức bảo vệ được quyền, lợi ích họp
pháp của mình trước Tòa án.
1.2.
Những quy định chung về quyền khỏi kiện vụ án dân sự:
Theo quy định tại Điều 1 BLTTDS 2004 thì vụ án dân sự gồm những tranh
chấp về dân sự; những tranh chấp về hôn nhân và gia đình; những tranh chấp về kinh
doanh, thương mại; những tranh chấp về lao động thuộc thẩm quyền giải quyết của
Tòa án; và những việc khác do pháp luật quy định. Ta thấy cho dù được phân chia
thành các vụ án dân sự về tranh chấp kinh doanh thương mại, lao động, hôn nhân gia
đình.. .thì các vụ án nói trên vẫn là một trong những vụ việc dân sự thuộc thẩm quyền
giải quyết của Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Vì vậy, để
Khởi kiện vụ án dân sự nói chung và vụ án kinh doanh thương mại nói riêng là
bước đầu tiên và tiên quyết để Tòa án có thể thụ lý giải quyết vụ án. Do tính chất là
một quyền nhân thân của công dân và tính chất tự do thỏa thuận của các giao dịch dân
sự nên Tòa án không thể tự mình đem một tranh chấp cụ thể để xét xử, để can thiệp
bảo vệ quyền và lợi ích họp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức mà Tòa án chỉ có thể
giải quyết vụ án dân sự khi có đơn khởi kiện của các chủ thể trong tranh chấp. Vì vậy,
không có hoạt động khởi kiện thì không có quá trình tố tụng dân sự cho các giai đoạn
tiếp theo. Bên cạnh đó, việc xét xử vụ án dân sự của Tòa án nhân dân cũng góp phàn
nâng cao chất lượng xét xử Tòa án thông qua những kinh nghiệm rút kết được trong
quá trình xét xử, tạo điều kiện cho Tòa án phát hiện những sai sót và vướng mắc trong
các quy định hiện hành để kịp thời kiến nghị với các cơ quan có thẩm quyền khắc
phục. Đồng thời xét xử vụ án cũng là một phương thức phổ biến pháp luật rộng rãi đến
quần chứng nhân dân, đưa pháp luật đi sâu vào đời sống.
1.2.3.
Quyển khởi kiện vụ án dân sự ở một số quốc gia:
1.2.3.1.
Quyền khởi kiện vụ án dân sự theo pháp luật Liên bang Nga
Theo pháp luật Liên bang nga thì công dân và tổ chức có liên quan theo trình
tự, thủ tục do pháp luật quy định có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền, tự
do, lợi ích họp pháp bị xâm hại hoặc có tranh chấp. Quyền khởi kiện ở đây được xem
là một quyền nhân thân và không thể từ chối. Cụ thể, công dân và tổ chức có quyền, tự
do, lợi ích hợp pháp bị xâm phạm có quyền khởi kiện vụ án dân sự tại Tòa án. Đồng
thời trong những trường họp do pháp luật quy định thì một người còn có thể nhân danh
mình khởi kiện một vụ án dân sự yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền, tự do, lợi ích hợp pháp
của người khác, tập họp người không xác định hoặc lợi ích của Liên bang Nga, chủ thể
Liên bang Nga, các tổ chức tự quản địa phương. Tương tự như quy định của Pháp lệnh
không quy định quyền khởi kiện, khởi tố vụ án dân sự của Viện kiểm sát để bảo vệ
quyền và lợi ích của một số chủ thể trong những trường họp do luật định. Chỉ có trong
quy định của Pháp lệnh về thủ tục giải quyết vụ án dân sự 1989 (hiện nay đã hết hiệu
lực), mới cho phép viện kiểm sát xem xét việc khởi tố vụ án đối với các vi phạm pháp
luật gây thiệt hại cho tài sản xã hội chủ nghĩa hoặc quyền lợi của người lao động trong
quan hệ lao động, kết hôn trái pháp luật, xác định cha, mẹ cho người con chưa thành
niên ngoài giá thú, xâm phạm nghiêm trọng quyền lợi của người chưa thành niên hoặc
của người có nhược điểm về thể chất hoặc tâm thần. Đây cũng là một trong những vấn
đề đang được đề xuất trong quá trình sửa đổi, bổ sung BLTTDS hiện hành. Theo ý
kiến của Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, ông Lê Hữu Thể thì “cần
bổ sung quy định Viện kiểm sát được quyền khởi tố vụ án dân sự trong trường họp
cần bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước mà không có người khởi kiện, và
ông cũng cho biết thực tế hiện các tổ chức xã hội (như Hội phụ nữ, Mặt trận Tổ
quốc,...) có quyền khởi kiện để bảo vệ quyền lợi cho những người yếu thế trong lĩnh
vực mình phụ trách. Tuy nhiên, thực tế suốt 5 năm thi hành BLTTDS cho thấy, chưa
có một vụ việc nào mà các tổ chức này đứng ra khởi kiện. Ông Thể dẫn chứng vụ
Vedan xả thải ra môi trường, nếu Viện kiểm sát được quyền khởi kiện thì sẽ giúp
người dân rất nhiều trong việc đòi bồi thường. Do vậy, ông Thể đề nghị sửa đổi
3 Thu Hằng, Mở thêm quyền cho viện kiểm sát
BLTTDS theo hướng Viện kiểm sát được khởi kiện vụ án dân sự trong các trường hợp
nói trên3”. Tuy nhiên đề xuất trên vẫn chưa được chấp nhận trong Dự thảo Luật sửa
đổi, bổ sung BLTTDS năm 2004 được thảo luận tại kỳ họp thứ 8 Quốc hội khóa xn
mà dự thảo chỉ đề xuất thêm quyền tham gia phiên tòa của Viện kiểm sát.
1.2.4.
Chủ thể khởi kiện vụ án dân sự:
tham gia tố tụng. Đối với những việc khác, người chưa thành niên từ đủ 16 tuổi đến
dưới 18 tuổi phải có người đại diện tham gia tố tụng, nhưng khi cần thiết, Toà án hỏi
thêm ý kiến của người chưa thành niên.
- Pháp nhân theo thủ tục do pháp luật quy định có quyền khởi kiện vụ án dân sự
để yêu càu Toà án nhân dân bảo vệ quyền lợi họp pháp của mình. Pháp nhân tham gia
tố tụng thông qua người lãnh đạo của mình hoặc người đại diện được pháp nhân uỷ
quyền bằng văn bản.
Vậy ở thời điểm này, pháp luật chưa cho phép công dân và pháp nhân ủy quyền
khởi kiện mà chỉ cho phép việc đại diện theo ủy quyền trong tố tụng dân sự sau khi đã
có đơn khởi kiện.
- Theo quy định tại Điều 8 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự, Uỷ
ban Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức thành viên của Mặt trận Tổ quốc trong phạm vi
chức năng của mình có quyền khởi kiện hoặc đề nghị Viện kiểm sát xem xét việc khởi
tố vụ án đối với các vi phạm pháp luật gây thiệt hại cho tài sản xã hội chủ nghĩa hoặc
quyền lợi của người lao động trong quan hệ lao động, kết hôn trái pháp luật, xác định
cha, mẹ cho người con chưa thành niên ngoài giá thú, xâm phạm nghiêm trọng quyền
lợi của người chưa thành niên hoặc của người có nhược điểm về thể chất hoặc tâm
thần. Việc quy định Viện kiểm sát có quyền khởi tố đối với một số vụ án dân sự là một
đặc điểm riêng của Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự 1989 so với quy định
của Bộ Luật tố tụng dân sự hiện hành.
1.2.4.2.
Chủ thể khén kiện theo Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế ngày
16/3/1994:
Điều 1 Pháp lệnh giải quyết các vụ án kinh tế thừa nhận quyền khởi kiện của
hai loại chủ thể: “cá nhân, pháp nhân theo thủ tục do pháp luật quy định, có quyền
khởi kiện vụ án kinh tế để yêu càu Toà án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
mình”. Tuy nhiên, quyền khởi kiện của các chủ thể có quyền khởi kiện các vụ án kinh
tế theo quy định của Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế 1994 phụ thuộc một
nếu có chủ thể là tổ họp tác và hộ gia đình thì đương sự của vụ án xác định không thể
đúng được (thông thường xác định là toàn bộ các cá nhân trong tổ họp tác, các cá nhân
trong hộ gia đình)4.
1.2.5.3.
Chủ thể khen kiện theo Bộ Luật tổ tụng dân sự ngày 24/6/2004:
Sự ra đời của Bộ luật Tố tụng dân sự được thông qua ngày 26/4/2004 là một
bước phát triển mới của hệ thống pháp luật tố tụng Việt nam, chấm dứt tình trạng tản
mạn, mâu thuẫn của các văn bản quy định về tố tụng dân sự giữa các Pháp lệnh về thủ
tục giải quyết các vụ án dân sự, kinh tế, lao động, hành chính trước đây. Các chủ thể
khởi kiện được quy định theo Bộ luật tố tụng dân sự bao gồm: cá nhân, cơ quan, tổ
chức đáp ứng được những yêu cầu do pháp luật quy định. Năng lực tố tụng của các
chủ thể theo quy định tại Điều 57 BLTTDS, cụ thể như sau:
- Cá nhân cỏ năng lực hành vi tố tụng dân sự thì có quyền tự mình khởi kiện
hoặc ủy quyền cho người khác khởi kiện khi quyền và lợi ích họp pháp của mình bị
xâm phạm, trừ việc ly hôn.
- Cá nhân là người chưa thành niên, người mất NLHVDS, người bị hạn chế
NLHVDS, thì việc khởi kiện để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ do người đại
diện họp pháp của họ thực hiện.
- Trường họp cá nhân là người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuối
không mất NLHVDS, không bị hạn chế NLHVDS đã tham gia lao động theo họp đồng
lao động hoặc giao dịch dân sự bằng tài sản riêng của mình, thì có thể tự mình hoặc
thông qua người đại diện khởi kiện vụ án về tranh chấp có liên quan đến họp đồng lao
động hoặc giao dịch dân sự đó.
- Theo Điều 161 BLTTDS cơ quan, tổ chức có thể thông qua người đại diện
họp pháp khởi kiện vụ án dân sự để bảo vệ quyền và lợi ích họp pháp của mình. Các
cơ quan có quyền khởi kiện vụ án dân sự ở đây bao gồm các cơ quan nhà nước như ủy